
VAI
TR̉ CỦA TĂNG ĐƯỜNG HUYẾT TRONG ĐỘT
QUỊ CẤP TÍNH.
Nadya
Kagansky, MD; Shmuel Lewy, MD; Hilla Knobler, MD. The role of Hyperglycemia in
acute stroke. Arch neurol/Vol58, Aug 2000, P1209-1211.
Người
dịch: BS Bạch Thanh Thủy.
Đặt
vấn đề:
Đột quị thiếu máu năo là nguyên nhân hàng
đầu dẫn đến tử vong vàø tàn tật
lâu dài, và tăng đường huyết được
tin là làm trầm trọng thêm thiếu máu năo.
Mục
đích: Xem xét lại các
nghiên cứu trên người và động vật với
mối liên quan giữa tăng đường huyết và
thiếu máu năo mà điều này làm sáng tỏ một vài
cơ chế về vai tṛ có hại của tăng
đường huyết. Thảo luận về vấn
đề kiểm soát đường huyết hiện
tại và trong tương lai.
Phương
pháp: Nguồn dữ
liệu được lấy trên máy vi tính, ... các bài báo
từ năm 1976-2000 đă được t́m kiếm đối
với các nghiên cứu ở người, các nghiên
cứu đă đánh giá mối liên quan giữa đột
quị và tăng đường huyết và các nghiên
cứu tập trung vào các mô h́nh nghiên cứu trên động
vật có tăng đường huyết bị thiếu máu
năo cục bộ hoặc lan tỏa thực nghiệm.
Kết
quả: Phần lớn các
nghiên cứu ở người đă chỉ ra rằng
trong đột quị cấp, việc tăng đường
huyết lúc nhập viện ở những bệnh nhân có
hoặc không có tiểu đường th́ có liên quan
với dự hậu lâm sàng tồi tệ hơn những
bệnh nhân không có tăng đường huyết.
Mối liên quan này phù hợp hơn ở dạng đột
quị không phải lỗ khuyết. Các nghiên cứu trên
động vật ủng hộ kết luận này
bằng việc chỉ ra cả hai dạng sau thiếu máu
cục bộ và lan tỏa mà tăng đường
huyết làm trầm trọng hơn quá tŕnh tổn thương
tiếp theo: nhiễm axit nội bào, tích lũy glutamate
ngoại bào, tạo phù năo, phá vỡ hàng rào máu- năo, có
xu hướng biến đổi thành dạng xuất
huyết. Điều trị các động vật tăng
đường huyết bằng insulin đă cho thấy có
tác dụng có lợi trong thiếu máu năo cục bộ
hoặc lan tỏa, điều này có thể được
thông qua tác dụng làm hạ glucoza hoặc cơ chế
bảo vệ thần kinh trực tiếp.
Kết
luận: Phần lớn các
nghiên cứu này chỉ ra
vai tṛ có hại của tăng đường huyết
sớm, đặc biệt ở những bệnh nhân
thiếu máu năo cục bộ hoặc toàn thể không
phải dạng lỗ khuyết. Cần có các thử
nghiệm lâm sàng chuyên sâu về điều trị insulin.
Trong lúc đó người ta khuyên nên tránh để tăng
đường máu quá mức .

Bệnh
tiểu đường liên quan với tăng nguy cơ
đột quị và bệnh lư tim mạch vành và c̣n là
yếu tố nguy cơ độc lập đối
với cả hai bệnh này sau khi đă điều
chỉnh các yếu tố nguy cơ đă biết khác.
Nhiều nghiên cứu đă chỉ ra rằng các bệnh
nhân bị nhồi máu cơ tim mà có bệnh tiểu
đường th́ tiến triển kém thuận lợi hơn
những bệnh nhân không bị tiểu đường. Hơn
nữa tăng đường máu do stress ở những
bệnh nhân không bị bệnh tiểu đường th́
có liên quan với tăng tỉ lệ chết trong bệnh
viện sau nhồi máu cơ tim. Nghiên cứu Bệnh
tiểu đường và truyền glucoza pha insulin trong
nhồi máu cơ tim cấp (DIGAMI) mới đây đă cung
cấp bằng chứng thuyết phục rằng duy tŕ
mức đường huyết b́nh thường trong
suốt giai đoạn cấp của nhồi máu cơ tim
đă dẫn đến giảm rơ rệt tỷ lệ
tử vong trong tương lai. Những kết quả này
đă làm cuộc cách mạng hóa đối với điều
trị chuẩn ở những bệnh nhân bị tiểu
đường và nhồi máu cơ tim cấp.
Đột
quị, bệnh lư gây tàn tật thông thường
nhất ở những quốc gia phương tây, và
nhồi máu cơ tim có nhiều đặc điểm tương
tự nhau. Tăng đường huyết cũng liên quan
với dự hậu tồi
tệ của đột quị trong nhiều nghiên cứu
trên người và động vật. Dường như
sự liên quan giữa bệnh tiểu đường, tăng
đường huyết và kiểm soát tăng đường
huyết và hậu quả đột quị vẫn c̣n là
chủ đề gây tranh căi. Thêm vào đó, không có
những hướng dẫn xác định dựa trên
những nghiên cứu có kiểm soát trong suốt quá tŕnh
thiếu máu năo cấp. Những chủ đề này
sẽ được thảo luận trong bài báo này.
TĂNG
ĐƯỜNG HUYẾT VÀ TIỂU ĐƯỜNG.
Nhiều
nghiên cứu chỉ ra rằng những bệnh nhân bị
đột quị có kèm theo bệnh tiểu đường
có dự hậu kém hơn những bệnh nhân không có
bệnh tiểu đường; tuy nhiên một vài nghiên
cứu khác không kết luận như vậy. Điều
thú vị là, phần lớn các nghiên cứu, bao gồm các
thử nghiệm lớn đă chỉ ra rằng tăng
đường huyết lúc nhập viện là một
yếu tố nguy cơ bị hậu quả tồi tệ
sau thiếu máu năo cục bộ hoặc lan tỏa. Weir và
cộng sự đă nghiên cứu trong một thời gian dài
750 bệnh nhân bị đột quị cấp không có
bệnh tiểu đường, sau khi điều chỉnh
về tuổi, giới, dạng đột quị, hút
thuốc lá, huyết áp, tăng đường huyết lúc
nhập viện c̣n lại một yếu tố độc
lập quan trọng tiên lượng tỷ lệ tử
vong và tỷ lệ tàn tật cao hơn trong thời gian dài.
Dữ liệu từ một thử nghiệm đa trung tâm
[ORG 10172 trong điều trị đột quị (TOAST)],
thử nghiêm này đă bao gồm 1259 bệnh nhân không
phải đột quị dạng lỗ khuyết, mức
đường máu cao hơn th́ liên quan với hậu
quả kém sau 3 tháng. Việc điều chỉnh đối
với tuổi, mức độ nặng của đột
quị, các yếu tố nguy cơ mạch máu khác và
bệnh tiểu đường đă không làm thay đổi
kết quả này. Điều này có thể là do các nghiên
cứu này bao gồm cả những bệnh nhân tiểu
đường chưa được chẩn đoán, và
một vài nghiên cứu nhỏ hơn đang ủng hộ
khả năng này bằng việc thực hiện những
thử nghiệm thêm vào đối với hemoglobin
được glycosylate hoá trong pḥng thí nghiệm cho
thấy rằng tăng đường huyết trước
đột quị là một yếu tố tiên lượng
dự hậu đột quị tồi tệ. Những nghiên
cứu khác đă không xác nhận kết quả này, cho
rằng tăng đường huyết lúc nhập
viện là một yếu tố ghi nhận tồn thương
năo lan rộng dẫn đến tăng đường
huyết. Tuy vậy, van Kooten và cộng sư, người
cũng đă t́m ra mối liên quan quan trọng giữa tăng
đường huyết lúc nhập viện và hậu
quả của đột quị đă không thấy
mối tương quan giữa catecholamine và nồng độ
glucoza, ngụ ư rằng stress thêm vào đă không chịu trách
nhiệm đối với nồng độ glucoza. Để
kết luận, mặc dù mối liên quan giữa tăng
đường huyết lúc nhập viện và hậu
quả tồi tệ trong đột quị cấp đă
được chỉ ra trong phần lớn các nghiên
cứu, nhưng nó vẫn chưa rơ ràng, không biết nó có
liên quan với bệnh tiểu đường không (đă
được chẩn đoán hoặc chưa được
chẩn đoán mới đây) hoặc là một phản
ứng với stress.
Một
khó khăn lớn để đánh giá vai tṛ của
bệnh tiểu đường và tăng đường
huyết trong đột quị cấp là bản chất khác
biệt giữa bệnh tiểu đường/tăng
đường huyết đối với vị trí
của thiếu máu năo, mức độ của bệnh
mạch máu và t́nh trạng tái tưới máu năo. Ví
dụ, trong thử nghiệm TOAST mức độ tăng
glucoza máu cao hơn liên quan với hậu quả tồi
tệ trong các trường hợp đột quị không
phải dạng lỗ khuyết. Trong đột quị
dạng lỗ khuyết, mối liên quan giữa tăng
đường huyết và dự hậu của đột
quị đă trái ngược và khác nhau giữa những
người đă được nhận và không
được nhận heparin phân tử lượng
thấp. Các quan sát này liên quan tới các ghi nhận trong các
dạng thiếu máu cục bộ ở động
vật: đối với các dạng có tái tưới máu,
tăng đường huyết làm tăng kích cỡ
ổ nhồi máu, trong khi ở các động vật không
có tái tưới máu năo, tăng đường huyết
đường như không có hại thậm chí c̣n có
lợi. Điều này có thể v́
có ít máu tới vùng tận cùng của động
mạch-thiếu máu dẫn đến tích tụ lactat và
nhiễm axit. Dưới t́nh trạng này tăng đường
huyết có thể thậm chí có lợi trong việc duy tŕ
chuyển hóa năng lượng. Nhồi máu động
mạch tận giống như đột quị dạng
lỗ khuyết, điều này rất thông thường
ở những bệnh nhân bị bệnh tiểu đường.
Dường như, các nghiên cứu đă nhằm vào
việc đánh giá vai tṛ của tăng đường
huyết đối với hậu quả đột
quị nhưng điều này không tách biệt đột
quị dạng lỗ khuyết với các đột
quị không phải dạng lỗ khuyết và có thể
nhầm lẫn.
Mối
liên quan giữa tăng đường huyết và đột
quị xuất huyết năo hoặc chuyển dạng
xuất huyết của nhồi máu năo th́ cũng gây ra
tranh căi. Một vài nghiên cứu tập trung vào tần
xuất thấp hơn của xuất huyết nội
sọ ở những bệnh nhân tiểu đường.
Trong nghiên cứu Copenhagen Stroke Study, xuất huyết trong năo
ở những bệnh nhân tiểu đường ít hơn
những bệnh nhân không bị tiểu đường 6
lần. Những nghiên cứu khác nhỏ hơn đă
thấy rằng tăng đường huyết và bệnh
tiểu đường có thể đă liên quan với tăng
tỉ lệ chuyển dạng xuất huyết của
nhồi máu năo. Tăng đường huyết đă
được thấy chỉ là yếu tố tiên lượng
độc lập của xuất huyết năo trong một
nghiên cứu có 138 bệnh nhân đột quị thiếu
máu năo được điều trị bằng yếu
tố hoạt hóa mô. Nồng độ glucoza huyết thanh
cao hơn 200mg/dl (11,1mmol/l) liên quan với tỉ lệ
xuất huyết triệu chứng 25%.
CÁC
MÔ H̀NH NGHIÊN CỨU TRÊN ĐỘNG VẬT
Các
nghiên cứu trên động vật có lợi thế cho
việc kiểm soát các thông số như là điều
chỉnh đường huyết, vị trí ổ nhồi
máu và t́nh trạng tưới máu và chúng cung cấp các
bằng chứng có sức thuyết phục rằng tăng
đường huyết cấp có hại đối
với tổn thương thiếu máu năo. Mayer và Yamaguchi,
lần đầu tiên đă chỉ ra rằng tăng
đường huyết cấp ở những con khỉ
đă làm rơ rệt hơn tổn thương
thiếu máu năo-thiếu oxy. Trong nghiên cứu của
họ, những con vật bị tăng đường
huyết bị thiếu hụt thần kinh nặng hơn
với tổn thương năo và hoại tử lan rộng
lan rộng ảnh hưởng cả vỏ năo, hạch
nền, thân năo, tiểu năo hơn là những con vật không
bị tăng đường huyết. Pulsinelli và cộng
sự đă mô tả những thay đổi về
bệnh lí thần kinh nặng nề do phù năo trong năo
bị thiếu máu ở những con chuột bị tăng
đường huyết. Trong những nghiên cứu khác
ở chuột bị thiếu máu lan tỏa thực
nghiệm, tăng đường huyết cấp đă liên
quan với tổn thương lan rộng ở tân vỏ năo
và thể vân khi so sánh với tổn thương ở
mức nhẹ ở những con chuột có đường
huyết b́nh thường. Những con chuột bị tăng
đường huyết có sự giảm rơ rệt
tổng số nơ-ron khi được so sánh với
những con b́nh thường, cùng với sự thay đổi
rơ rệt trong nội mô mạch máu và phản ứng vi
tế bào đệm quanh mạch. Những dữ liệu này
gợi ư rằng tác dụng có hại của tăng
đường huyết khởi đầu qua trung gian là
sự hoạt động của các tế bào nội mô
mạch máu dẫn đến lan rộng ổ tỏn thương
và mất nơ-ron. Trong những động vật bị
thiếu máu cục bộ, kết quả là ít phù hợp,
tuy vậy, tăng đường huyết đă cho
thấy tăng tổn thương năo trong các dạng
thiếu máu năo tạm thời và tái tưới máu năo.
Các
mô h́nh nghiên cứu trên động vật đă làm sáng
tỏ một vài cơ chế tác hại của tăng
đường huyết đối với năo. Sự t́m
kiếm phù hợp nhất trong những nghiên cứu trên
động vật là sự tương quan giữa tăng
đường huyết và nhiễm acid. Trong suốt
thời gian thiếu máu năo, tăng chuyển hóa glucoza
yếm khí khu trú dẫn đến nhiễm axit nội bào
xuất hiện sau sang chấn thiếu máu năo. Các động
vật bị tăng đường huyết cấp tính
dẫn đến pH trung b́nh vùng vỏ axit nhất thêm vào
đó là việc tập trung lactate trong năo cao hơn
dẫn đến tổn thương nơ-ron và tế bào
thần kinh đệm nhiều hơn. Nhiễm axit tăng
có thể làm tăng quá mức tổn thương
thiếu máu bằng các cơ chế như tăng tạo
thành các gốc tự do, làm xáo trộn dẫn truyền tín
hiệu trong tế bào, hoạt hóa các endonucleases. Một tác
dụng trực tiếp của việc tích tụ axit lactic
đă được đưa ra, dựa trên nghiên
cứu tiêm axit lactic vào trong vỏ năo dẫn đến
thay đổi cấu trúc mô dạng nhồi máu năo.
Cơ
chế thứ hai gắn tăng đường huyết
với tăng tổn thương năo là tác dụng
của tăng đường huyết đối với
hoạt hóa các amino acid. Người ta đă chứng minh
rằng các amino acid hoạt hoá, glutamate không bền
vững đóng vai tṛ trung tâm trong chết các nơ-ron
bằng cách hoạt hóa các thụ cảm thể glutamate
sau synape, đặc biệt là các thụ cảm thể
N-methyl-D-aspartate (NMDA). Hoạt động này dẫn đến
sự tràn vào quá mức của ion calci qua kênh ion, tổn
thương ty lạp thể và cuối cùng là chết
tế bào. Mới đây, người ta đă thấy
ở những con chuột bị tăng đường
huyết, việc tập trung glutamate ở ngoài tế bào
sau khi thiếu máu năo trước thường thấy hơn
những con có đường huyết b́nh thường.
Sự khác biệt đă được quan sát trong vùng tân
vỏ năo và liên quan với tổn thương tế bào
quá mức.
Trong
các mô h́nh nghiên cứu trên động vật bị
thiếu máu năo, tăng đường huyết đă
thấy làm tăng quá mức phù năo, tổn thương hàng
rào máu năo, chuyển dạng xuất huyết trong ổ
nhồi máu. Trong tắc động mạch năo giữa người
ta thấy ở những con mèo bị tăng đường
huyết có sự tăng 5-lần
nhồi máu xuất huyết và tăng 25-lần
xuất huyết lan rộng khi so sánh với những con có
đường huyết b́nh thường.
ĐIỀU
TRỊ
“Vùng
tranh tối tranh sáng” là vùng bao xung quanh ổ nhồi máu
năo gồm những nơ-ron bị tổn thương và
mất hoạt động điện trong khi vẫn duy tŕ
một vài khả năng chuyển hoá. Vùng này có thể
được cứu sống bằng cách cải thiện
môi trường chuyển hóa và làm ngưng quá tŕnh
thiếu máu. Tập trung số lượng lớn các
bằng chứng đă t́m thấy từ các dạng động
vật chỉ ra rằng trong suốt quá tŕnh thiếu máu
cấp tính cục bộ hoặc toàn thể, điều
trị insulin làm giảm tổn thương năo do thiếu
máu và có thể bảo vệ thần kinh. Trong dạng
thiếu máu năo trước ở chuột, insulin không
chỉ làm giảm tổn thương mô mà c̣n cải
thiện hậu quả về hành vi thuộc thần kinh.
Người
ta vẫn chưa rơ rằng tác dụng này là do tác
dụng của insulin làm giảm đường huyết
hay là tác dụng trực tiếp. Trong thiếu máu năo
diện rộng, người ta đă t́m thấy rằng
insulin có tác dụng làm giảm hoại tử thần kinh
trong vùng năo rộng không kể đến tác dụng trên
mức đường huyết. Thêm vào đó, insulin và
yếu tố phát triển giống như insulin 1 có
phạm vi hẹp hơn (IGF-1) làm giảm tổn thương
thiếu máu năo khi được tiêm trực tiếp vào
trong năo thất. Tuy vậy người ta đă gợi ư
rằng trong thiếu máu năo diện rộng thoáng qua,
insulin và IGF-1) có tác dụng bảo vệ thần kinh
trực tiếp đối với nhu mô hệ thống
thần kinh trung ương. Ngược lại với
thiếu máu năo diện rộng, trong thiếu máu cục
bộ, phần lớn tác dụng bảo vệ thần
kinh của insulin là do vai tṛ của nó đối với
mức đường huyết, và việc sử dụng
truyền glucoza kèm với insulin đă làm mất phần
lớn tác dụng của nó. Để làm giảm tối
thiểu thiếu máu năo cấp tính, insulin cũng có
thể có tác dụng hiệp lực có lợi khi ví
dụ dùng kết hợp với dizocipine, một chất
ức chế NMDA không cạnh tranh. Một nghiên cứu so
sánh việc điều trị chuột bị tiểu
đường trong quá tŕnh bị thiếu máu năo cấp
tính dùng dizociline đơn độc và dùng kết
hợp dizociline với insulin đă thấy có thêm tác
dụng bảo vệ thần kinh.
Chúng
tôi vẫn chưa có kết quả từ những thử
nghiệm lâm sàng đánh giá hiệu quả của insulin
trong đột quị. Mới đây một thử nghiêm
lâm sàng ngẫu nhiên có kiểm soát (the glucose insulin in stroke
trial {GIST}) đă được bắt đầu. Nghiên
cứu này được thiết kế để xác
định xem tiêm truyền glucose-potasium-insulin và duy tŕ
đường huyết b́nh thường trong bệnh nhân
bị đột quị cấp có thể cải thiện
hậu quả hay không.
GIỚI
THIỆU PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU CHỈNH MỨC GLUCOZA
Ở NHỮNG BỆNH NHÂN ĐANG NẰM VIỆN
Mặc
dù do các thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát đánh giá
việc điều trị bằng insulin vẫn c̣n
thiếu, số liệu được rút ra từ
những nghiên cứu thử nghiệm trên động
vật và những nghiên cứu quan sát ở người
ủng hộ việc nên tránh tăng đuờng huyết
đối với những bệnh nhân đột quị
không phải dạng lỗ khuyết và thiếu máu
diện rộng. Bởi vậy không nên dùng dung dịch có
chứa dextrose trong ṿng 24 giờ đầu tiên sau nhập
viện. Phù hợp với gợi ư này, hiệp hội
bệnh tim của Mỹ hướng dẫn là trong quá tŕnh
cấp cứu bệnh tim phổi không nên dùng dung dịch
có chứa glucoza để tránh hậu quả thấn kinh
tồi tệ hơn. Thêm vào đó, chỉ dùng các
glucocorticoid nếu có chỉ định rơ ràng và dưới
sự theo dơi chặt chẽ để tránh tăng
đường huyết. Khi điều trị tăng
đường huyết bằng insulin, việc chăm sóc
cần thiết để bảo đảm ngăn
chặn được hạ đường huyết v́ nó
cũng có thể gây tổn thương năo. Khó có thể
xác định được nồng độ glucoza
tối ưu cho đến khi có thêm những số
liệu mới. Thử nghiệm GIST đă đánh giá
độ an toàn của việc truyền insulin trong 24
giờ nhằm duy tŕ mức glucoza trong khoảng 72-126 mg%
(4-7 mmol/l). Nghiên cứu này đă chỉ ra rằng mức
glucoza thấp th́ an toàn không có nguy cơ hạ đường
huyết ngiêm trọng hoặc tỉ lệ tử vong vượt
quá mức trong ṿng 4 tuần. Tuy vậy, cho đến khi có
thêm những kết quả chứng minh tính hiệu
quả của khuynh hướng này, nó không thể
được xem như một khuynh hướng thực hành
chuẩn. Một khuynh hướng hợp lư là để
mức đường huyết trong khoảng 100-200mg%
(5,5-11mmol/l). Việc quyết định điều trị
bệnh nhân bằng insulin mạnh hay không nhằm
vào mục đích b́nh thường hóa mức glucoza,
quyết định này cũng dẫn đến việc tính
toán các vấn đề về lâm sàng nghĩa là khả
năng làm việc của các nhân viên y tế để
chuẩn bị theo dơi mức glucoza thường xuyên.

Từ khóa: glucose , insulin , đot qui
,