
HỘI
CHỨNG KÊNH GUYON: THÔNG BÁO VỀ
10
TRƯỜNG HỢP BỆNH ĐẦU TIÊN
Nguyễn
Hữu Công, Khoa NộI thần kinh Bệnh viện 175 và
Bệnh viện Chợ Rẫy.
Nguyen
Huu Cong:
Guyon’s canal syndrome: a first case report on
ten cases. Y hoc tp. Ho Chi Minh, special issue of neurology, vol. 7,
supplement of no 4, 2003: 107 – 111.
Nguyễn
Hữu Công: hội chứng kênh Guyon - thông báo về 10
trường hợp bệnh đầu tiên. Y học TP
Hồ Chí Minh, tập 7, phụ bản của số 4,
2003: 107-111.
TÓM
TẮT: Hội
chứng kênh Guyon là do chèn ép dây thần kinh trụ khi nó
đi trong một đường hầm ở cổ tay,
gọi là kênh Guyon. Các triệu chứng của hội
chứng này được chia thành 3 kiểu, tùy
thuộc vào chỗ chèn ép dây trụ ở trong kênh.
Chẩn đoán điện giúp phân biệt tổn thương
kiểu I với hội chứng đường hầm dây
trụ ở khuỷu tay, và nhận diện từng
kiểu trong 3 kiểu đó của hội chứng. Nghiên
cứu của chúng tôi mới chỉ dựa vào biểu
hiện lâm sàng và chẩn đoán điện, chưa
được kiểm chứng bằng phẫu thuật.
Chúng tôi có 10 bệnh nhân bị hội chứng kênh
Guyon, gồm 4 bị kiểu I và 6 bị kiểu II (trong
đó có 2 bị kiểu IIA). Nghiên cứu của chúng tôi
cho thấy nên chú ý nhiều hơn tới tới
loại hội chứng tương đối đặc
biệt này ở Việt Nam.
MỞ
ĐẦU
Cách
đây 7-8 năm, tại Việt Nam thực tế rất
ít nhắc về hội
chứng ống cổ tay (carpal tunnel syndrome). Tới nay
hội chứng này đã được chẩn đoán
và điều trị tương đối phổ
biến. Nhưng vẫn còn một hội chứng chèn ép
cục bộ dây thần kinh ở cổ tay nữa, chưa
được lưu tâm nhiều. Đó là hội
chứng kênh Guyon (Guyon’s canal syndrome), gây chèn ép dây
thần kinh trụ ở cổ tay. Thời gian vừa qua,
chúng tôi lẻ tẻ phát hiện được 10 trường
hợp bị hội chứng kênh Guyon. Trong tương
lai, với mức sống và dân trí ngày càng cao, người
dân sẽ càng quan tâm nhiều hơn tới những
hội chứng “bé nhỏ”, kiểu như hội
chứng ống cổ tay và hội chứng kênh Guyon, do
vậy mặc dù số liệu thu thập được
còn nhiều khiếm khuyết, chúng tôi cũng mạnh
dạn trình bày về hội chứng này. Hy vọng
về sau sẽ có nhiều bệnh nhân được phát
hiện và điều trị kịp thời, không bị
bỏ sót.
GIẢI
PHẪU - SINH LÝ
Ở
ngay phía trên cổ tay, dây thần kinh trụ đi
giữa gân cơ gấp cổ tay trụ (flexor carpal
ulnaris) và gân cơ gấp chung nông các ngón (flexor digitorum
superficialis). Dây trụ khi đó nằm nông, ngay dưới
da. Sau đó dây trụ đi vào cổ tay, nằm trong kênh
Guyon: phía dưới là dây chằng ngang cổ tay
(transverse carpal ligament) và dây chằng đậu móc
(pisohamate ligament), phía trên là dây chằng gan cổ tay
(volar carpal ligament) và cơ gan tay ngắn (palmaris brevis). Thành
bên bao gồm: bên ngoài (phía xương quay) là móc
của xương móc (hook of
hamate), bên trong (phía xương trụ) là xương
đậu (pisiform). Gần sát kênh, hoặc ngay trong kênh,
dây trụ tách ra 2 nhánh: nhánh sâu vận động (deep
motor branch), và nhánh nông (superficial branch). Nhánh sâu tách ra 1
nhánh nữa chi phối các cơ ô mô út, rồi đi vòng
ra phía ngoài, chi phối cho các cơ giun (lumbrucals), cơ liên
cốt mu tay và gan tay (palmar & dorsal interossei). Nhánh
tận cùng của dây trụ chi phối cơ liên
cốt mu tay I (first dorsal interosseous muscle). Nhánh nông của
dây trụ, sau khi tách nhánh chi phối cho cơ gan tay
ngắn (palmaris brevis), sẽ chi phối cảm giác ngón IV
và V. Khi dây trụ bị chèn ép trong kênh Guyon, sẽ có
những biểu hiện cảm giác và vận động
tùy theo định khu bị chèn ép.
NGUYÊN
NHÂN
1.
Do chấn thương cấp tính hoặc mạn tính,
gẫy xương móc. Công việc dùng quá nhiều
cổ tay với động tác ấn cổ tay xuống,
thường xuyên đè ép lên gan tay. Một số trường
hợp do gẫy móc của xương móc (hook of hamate),
khi người chơi golf hoặc tenis đánh mạnh
xuống đất thay vì đánh trúng bóng, hay người
chơi bóng chày khi đánh bóng bằng gậy.
2.
Do khối choán chỗ chèn ép: cơ dị dạng,
khối u, các nang hạch (ganglion cyst). Nguyên nhân không
chấn thương hay gặp nhất là do hạch
3.
Các biến đổi do viêm khớp của các xương
cổ tay gây nên
4.
Huyết khối (thrombosis) mạch máu, gây cục máu
đông trong động mạch trụ.
TRIỆU
CHỨNG
Lâm
sàng và định khu: chia làm 3 kiểu.
1.
Kiểu I: chèn ép thân dây trụ, bệnh nhân bị
giảm cảm giác ở ngón V và nửa ngón IV, yếu và
teo các cơ ô mô út và liên cốt. Không giảm cảm
giác mu tay vì nhánh da trụ mu tay (dorsal ulnar cutaneous nerve) tách
khỏi dây trụ ở phía trên của kênh Guyon. Nếu
tổn thương nặng, có triệu chứng bàn tay
vuốt trụ (ulnar claw hand). Kiểu I là kiểu thường
gặp của hội chứng kênh Guyon.
2.
Kiểu II: Nhánh sâu của dây trụ bị chèn ép
ở gần cuối kênh Guyon, sát với móc của xương
móc. Cảm giác bình thường, cử động bàn
tay giảm độ khéo léo và không thể dạng
các ngón tay. Có thể có triệu chứng bàn tay vuốt
trụ nếu bệnh nặng. Kiểu II là kiểu thường
gặp nhất của hội chứng kênh Guyon. Kiểu
IIA: nhánh sâu sau khi tách ra nhánh cho các cơ thuộc ô mô
út, rồi mới bị tổn thương. Trong kiểu
IIA các cơ ô mô út không bị yếu và teo.
3.
Kiểu III: chỉ tổn thương nhánh nông
của dây trụ, vị trí ở chỗ gần hết
kênh Guyon. Giảm cảm giác các ngón 4 và 5. Các cơ
nhỏ bàn tay không bị. Kiểu III là kiểu ít
gặp nhất.
CHẨN
ĐOÁN ĐIỆN
1.
Phân biệt kiểu I với hội chứng đường
hầm khuỷu tay (cubital tunnel syndrome): lâm sàng có thể
rất giống nhau. Trong tổn thương dây trụ
ở khuỷu tay, tốc độ dẫn truyền
của dây ở khuỷu sẽ chậm lại, và EMG
thấy có mất phân bố thần kinh ở cơ
thuộc cẳng tay như gấp cổ tay trụ (flexor
carpi ulnaris) và gấp chung sâu các ngón (flexor digitorum profundus
– phần dành cho ngón 4 và 5). Nếu bệnh nhân có
dẫn truyền cảm giác và vận động đoạn
qua khuỷu bình thường, trong khi bất thường
đáp ứng cảm giác ở ngón 5, thì cần nghĩ
tới hội chứng kênh Guyon. EMG các cơ cẳng tay bình
thường trong khi các cơ nhỏ bàn tay (nhất là cơ
liên cốt I mu tay) bất thường, thì cũng nghĩ
tới hội chứng kênh
Guyon. Tuy nhiên, nên nhớ cũng có một số người,
dây trụ tổn thương đồng thời cả
2 nơi (khuỷu và cổ tay).
Kiểu
I: thời gian tiềm vận động ngoại vi (distal
motor latency - DML) và cảm giác ngoại vi (distal sensory
latency – DSL) kéo dài. Điện thế hoạt động
cơ toàn phần (compound muscle action potential - CMAP) và
cảm giác (sensory nerve action potential -SNAP) có biên độ
giảm hoặc mất. EMG thấy mất phân bố
thần kinh ở các cơ dạng ngắn ngón út (abductor
digiti minimi – ADM) và cơ liên cốt I mu tay (first dorsal
interosseous – FDI).
|
|
|
|
Hình
1: kênh Guyon và các nhánh của dây
thần kinh trụ.
|
Hình
2: vùng phân bố cảm giác của dây
trụ ở bàn tay.
|
|
|
Hình
3: Các vị trí chèn ép dây
trụ trong kênh Guyon:
A:
Kiểu IIA.
B:
Kiểu II.
C:
Kiểu III.
D:
Kiểu I
|
Bảng
phân loại các kiểu của hội chứng kênh Guyon:
|
|
Kiểu
I
|
Kiểu
II
|
Kiểu
III
|
| Định
khu
|
Trước
hoặc ngay trong kênh
|
Trong
kênh, chỗ móc của xương móc.
Kiểu
IIA: sau khi đã tách ra nhánh cho khối cơ ô mô út.
|
Trong kênh,
chỗ móc của xương móc.
|
| Nhánh
bị tổn thương
|
Nhánh nông và nhánh
sâu
|
Chỉ tổn
thương nhánh sâu
|
Chỉ tổn
thương nhánh nông
|
| Lâm
sàng
|
Giảm cả
cảm giác lẫn vận động
|
Chỉ
bị tổn thương vận động.
Kiểu
IIA: cơ ô mô út bình thường
|
Chỉ bị
giảm cảm giác
|
| Tỷ
lệ mắc
|
30 - 48%
|
44 - 52%
|
8 - 18%
|
(theo
Shea, MacClain và Moneim)
3.
Kiểu II: DML kéo dài với CMAP giảm hoặc mất,
trong khi DSL và SNAP bình thường. EMG thấy mất phân
bố thần kinh ở các cơ dạng ngắn ngón út và
cơ liên cốt I mu tay. Riêng kiểu IIA: EMG thấy
mất phân bố thần kinh ở cơ liên cốt I mu
tay và bình thường ở cơ dạng ngắn ngón út.
4.
Kiểu III: DML và CMAP bình thường, trong khi DSL kéo dài và
SNAP giảm hoặc mất. EMG ở các cơ dạng
ngắn ngón út và cơ liên cốt I mu tay bình thường.
|
|
Kiểu
I
|
Kiểu
II
|
Kiểu
IIA
|
Kiểu
III
|
| DML
dây trụ
|
Kéo
dài
|
Kéo
dài
|
Bình
thường
|
Bình
thường
|
| DSL
dây trụ
|
Kéo
dài
|
Bình
thường
|
Bình
thường
|
Kéo
dài
|
| EMG
cơ ADM
|
Bất
thường
|
Bất
thường
|
Bình
thường
|
Bình
thường
|
| EMG
cơ FDI
|
Bất
thường
|
Bất
thường
|
Bất
thường
|
Bình
thường
|
ADM:
abductor digiti minimi - cơ dạng ngắn ngón út.
FDI:
first dorsal interosseous - cơ gian cốt mu tay I.
Hình
ảnh học
1.
Chụp X quang thường: phát hiện gẫy xương
khu vực cổ tay gây chèn ép dây trụ.
2.
CT hoặc MRI: phát hiện các bất thường
(hạch, cơ dị dạng, tổ chức phần
mềm khác).
ĐIỀU
TRỊ
1.
Điều trị bảo tồn: khi làm những việc
cần gấp và xoay ngoài của cổ tay, hoặc đè
ép vào gan tay, nên có quãng nghỉ. Có thể đeo nẹp vào
cổ tay vào ban đêm. Có thể dùng NSAIDs.
2.
Điều trị phẫu thuật khi điều trị
bảo tồn thất bại. Rạch da ở nền
của gan tay. Đánh dấu xương đậu và xương
móc. Rạch một đường cong giữa 2 xương,
vượt quá nếp gấp cổ tay, dọc theo bờ
trong của cơ gấp cổ tay trụ. Dây trụ và
động mạch nằm ở phía dưới cơ này.
Kiểm tra kỹ dọc theo kênh Guyon để tìm hạch
hoặc bất kỳ khối choán chỗ nào. Nếu không
có, thì cắt các dây chằng chèn ép, và tháo bỏ
trần của kênh Guyon. Sau mổ để tay cao ngang
tầm tim, băng và giữ khô ráo vết mổ, cắt
chỉ sau 10 ngày.
10
BỆNH NHÂN VIỆT NAM BỊ HỘI CHỨNG KÊNH GUYON
Thời
gian qua, chúng tôi lẻ tẻ phát hiện được 10
trường hợp bị hội chứng kênh Guyon.
Tuổi
và giới tính: tất cả đều làø nam giới,
tuổi 40-52.
Nguyên
nhân: 1 trường hợp là BS phẫu thuật chỉnh hình,
3 trường hợp chơi tennis mạnh tay, 1 trường
hợp công nhân bốc vác (dùng cây sắt dài để câu
móc các bao gạo), 1 là công nhân xây dựng (hay dùng khoan
điện và búa máy), 1 bị chèn ép dây thần kinh
nhiều ổ (đồng thời có hội chứng
ống cổ tay 2 bên và chèn ép rễ cổ do thoái hóa
cột sống cổ). Còn 3 không rõ nguyên nhân.
Phân
loại: 4 người bị kiểu I (tổn thương
cả cảm giác lẫn vận động), 6 người
kiểu II (chỉ tổn thương vận động)
trong đó có 2 kiểu IIA (ô mô út không bị ảnh hưởng),
không có ai kiểu III.
Tất
cả các bệnh nhân đều được đồng
nghiệp từ các nơi khác chuyển tới làm chẩn
đoán tại các phòng điện cơ thuộc bệnh
viện 175, nhân dân 115 và Chợ rẫy. Sau đó đều
được chuyển trả điều trị phẫu
thuật, và chúng tôi không có điều kiện theo dõi
tiếp. Do vậy trong nghiên cứu này, chúng tôi không có
được các biên bản phẫu thuật, để
xem chẩn đoán trước mổ có phù hợp với
chẩn đoán sau mổ hay không, và cũng không thể
theo dõi tiến trình hồi phục sau phẫu thuật.
NHẬN
XÉT
Hội
chứng kênh Guyon là một hội chứng bệnh nhỏ
bé, do chèn ép dây thần kinh cục bộ ở bàn tay, ít
gặp hơn nhiều so với hội chứng ống
cổ tay. Bệnh gây khó chịu và giảm khả năng
sử dụng bàn tay trong lao động và sinh hoạt.
Đây
có lẽ là báo cáo đầu tiên tại Việt Nam
về hội chứng kênh Guyon. Khiếm khuyết của báo
cáo này là số lượng ít không đủ thống kê,
và không có kết quả phẫu thuật kiểm
chứng. Chẩn đoán hội chứng kênh Guyon mới
chỉ dựa vào lâm sàng và chẩn đoán điện.
Tuy nhiên chúng tôi cũng mạnh dạn trình bày, vì
thực tế chắc chắn có nhiều trường
hợp bị bỏ sót, hy vọng về sau các đồng
nghiệp lưu ý hơn tới hội chứng chèn ép
cục bộ này, giống như mối quan tâm hiện nay
đối với hội chứng ống cổ tay vậy.
