
MỐI
LIÊN QUAN GIỮA ĐỘT QUỴ VỚI HẸP ĐỘNG
MẠCH CẢNH TRONG
Alexander
T, Gerald D, Gabriel R, Guy van M, Julien B. Stroke With Internal Carotid Artery
Stenosis. Archives of Neurology. April 2001. 58: 605-609
Người
dịch: BS. Tạ Vương Khoa
TÓM
TẮT
Cơ
sở: Mảng đề
tài đột quỵ ở những bệnh nhân bị
hẹp động mạch cảnh với những mức
độ khác nhau đă không được nghiên cứu
một cách có hệ thống.
Mục tiêu:
Xác định nhóm bệnh nhân lần đầu tiên trong
đời bị đột quỵ trong số
những bệnh nhân có hẹp động mạch cảnh
trong (ICA: internal carotid artery) đoạn ngoài sọ
được chọn lựa ngẫu nhiên từ danh sách
đăng kư bệnh nhân đột quỵ tại một
bệnh viện chăm sóc sơ khởi.
Phương pháp:
Tiến hành nghiên cứu trên 173 bệnh nhân, tương
ứng với 6.5% trong
số 2649 bệnh nhân bị đột quỵ tại khu
vực tuần hoàn phía trước, được lưu
danh tại “Cơ quan đăng kư đột quỵ
Lausanne” (LSR: Lausanne Stroke Registry). Tất cả bị đột
quỵ lần đầu tiên và có hẹp (50% (tiêu
chuẩn được tính theo phương pháp NASCET (North
American Symptomatic Carotid Endarterectomy: “Thử nghiệm cắt
bỏ nội mạc động mạch cảnh hẹp có
triệu chứng ở Bắc Mỹ”). Tất cả
được siêu âm Doppler mạch, chụp h́nh động
mạch cảnh (chụp qui ước hoặc chụp
cộng hưởng từ), xét nghiệm h́nh ảnh
học thần kinh (CT scan hoặc MRI) và những phương
pháp đánh giá khác theo protocol tiêu chuẩn của “Cơ
quan đăng kư đột quỵ Lausanne”.
Kết quả:
Chúng tôi nhận thấy có những kiểu nhồi máu năo
sau đây trong khu
vực phân bố của động mạch năo giữa:
khu vực màng nuôi phía trước 54 bệnh nhân (31%); khu
vực dưới vỏ 34 bệnh nhân (20%); khu vực màng
nuôi phía sau 32 bệnh nhân (19%); nhồi máu bán cầu đại
năo diện rộng 20 bệnh nhân (12%); khu vực vùng
viền 17 bệnh nhân (10%). 14 bệnh nhân (8%) có nhồi máu
đa ổ tại khu vực màng nuôi và 2 bệnh nhân (1%)
có nhồi máu đa ổ sâu. Hẹp ICA mức độ
trung b́nh (50-69%) liên quan có ư nghĩa với nhồi máu bán
cầu đại năo diện rộng (P=0.04) và một ICA b́nh
thường ở đối bên (P=0.02). Hẹp ICA 70-89% liên
quan có ư nghĩa với sự xuất hiện những cơn
TIA trước khi bị đột quỵ nhồi máu
(P=0.02). Sau khi đă kiểm tra loại trừ những trường
hợp có thể do emboli từ tim, chúng tôi nhận
thấy nhồi máu vùng viền có khuynh hướng dễ
xuất hiện ở hầu hết các bệnh nhân
hẹp ICA 90-99% (P=0.06).
Kết luận:
Mối liên quan giữa một nhồi máu bán cầu đại
năo diện rộng với hẹp
ICA mức độ trung b́nh gợi ư nguyên nhân do một
emboli lớn và/hoặc một sự cung cấp máu không
đầy đủ từ tuần hoàn bàng hệ. Trong khi
một embolie cũng
có
thể là nguyên nhân gây bệnh, mối liên quan giữa
nhồi máu vùng viền với
hẹp ICA 90-99% đă nhấn mạnh ư nghĩa
của rối loạn huyết động học trong sinh
bệnh học của những loại nhồi máu năo này.
NỘI
DUNG
Những
khía cạnh khác nhau về mối liên quan giữa bệnh
lư tắc nghẽn ICA đoạn
ngoài sọ với đột quỵ đă được
đề cập môt cách rộng răi trong y văn. Tuy nhiên,
mối liên quan giữa những h́nh thức đột
quỵ khác nhau, đặc biệt là những vị trí
bị đột quỵ nhồi máu, với hẹp ICA c̣n
ít được t́m hiểu rơ. Đă có những thử
nghiệm ngẫu nhiên qui mô lớn đề cập đến
mối liên quan này như “Thử nghiệm cắt bỏ
nội mạc động mạch cảnh trong hẹp có
triệu chứng ở Bắc Mỹ” (NASCET) và “Thử
nghiệm phẫu thuật động mạch cảnh
ở châu Âu” (European Carotid Surgery Trial), nhưng đều
không phải là những thử nghiệm thể hiện
được tính đặc trưng cho mối liên quan trên
bởi chúng chỉ tiến hành nghiên cứu trên những
bệnh nhân bị TIA và bị đột quỵ nhưng
không gây tàn phế chức năng vốn là đối tượng
được xem như có chỉ định phẫu
thuật cắt bỏ nội mạc động mạch, hơn
nữa những thử nghiệm này thường không báo
cáo các chi tiết của mối liên quan giữa h́nh
thức nhồi máu năo với các mức độ hẹp
động mạch. Những nghiên cứu khác chủ
yếu phân tích về mối liên quan giữa đột
quỵ với tắc nghẽn (occlusion) hơn là với
hẹp (stenosis) ICA. Vài nghiên cứu đánh giá trên
những bệnh nhân có hẹp ICA và sau đó bị đột
quỵ đă chỉ ra rằng nguy cơ đột quỵ
gia tăng theo mức độ hẹp động mạch
và đột quỵ th́ liên quan điển h́nh với
hẹp động mạch khít nhưng lại không cho
biết chi tiết về h́nh thức và vị trí của
đột quỵ. Nghiên cứu tŕnh bày trong bài này phân tích
mối liên quan giữa đột quỵ nhồi máu
với hẹp ICA bằng cách so sánh dữ liệu từ
những bệnh nhân có hẹp ICA nhiều mức độ
khác nhau theo phương pháp nghiên cứu đoàn hệ qui
mô lớn.
Bệnh
nhân và phương pháp:
Những
bệnh nhân bị nhồi máu năo tại chỗ xa so
với chỗ hẹp của ICA đoạn ngoài sọ
được chọn lựa trong số những bệnh
nhân lần đầu tiên trong đời bị đột
quỵ được đưa đến trung tâm chăm
sóc sơ khởi của chúng tôi. Những bệnh nhân này
đươc lưu danh một cách có hệ thống
tại LSR. Những đặc tính được qui định
trong LRS được áp dụng tỉ mỉ dù ở
bất cứ nơi đâu. Tất cả bệnh nhân
đột quỵ ban đầu đều được
thăm khám bởi một bác sĩ chuyên khoa thần kinh có
kinh nghiệm (J.B.) và được đánh giá hệ
thống bởi ít nhất 1 CTscan hoặc 1 MRI năo, siêu âm
Doppler sóng duy tŕ phân tích bằng quang phổ, siêu âm
cắt lớp mode B và siêu âm Doppler xuyên sọ, theo dơi
điện tim bằng monitoring 3 đạo tŕnh trong ít
nhất 24 giờ, làm điện tim 12 đạo tŕnh, làm
các xét nghiệm huyết học. Một số bệnh nhân
chọn lọc được cho chụp động
mạch năo có sử dụng catheter hoặc chụp MRA.
Tất cả những bệnh nhân có tiền sử
bệnh tim hoặc có bằng chứng bị bệnh tim trên
ECG và những bệnh nhân dưới 50 tuổi đều
được siêu âm tim 2 chiều và theo dơi điện
tim bằng monitoring tŕ hoăn 24-48 giờ.
Hẹp
ICA đoạn ngoài sọ được đánh giá trước
tiên bằng siêu âm Doppler sóng duy tŕ dựa trên sự
biến đổi của tần số Doppler và sự
nhiễu loạn của h́nh dáng quang phổ (qua phân tích
quang phổ) mô tả như nhau ở mọi nơi. Ngoài
ra, mức độ và h́nh dạng (h́nh khuyết) của
hẹp ICA c̣n được đánh giá dựa trên
hiệu ứng kép của sóng xung động và h́nh
ảnh ḍng chảy bắt màu. Bằng cách sử dụng
các kỹ thuật này, hẹp ICA được chúng tôi
phân loại dựa trên tiêu chuẩn về huyết động
học (tốc độ lưu thông máu tối đa
ở th́ tâm thu – peak systolic velocity, và tốc độ lưu
thông máu cuối th́ tâm trương – end diastolic velocity) và
h́nh thái xuất hiện (hẹp đường kính ḷng
mạch theo thiết diện dọc và hẹp bề
mặt ḷng mạch theo thiết diện ngang). Dùng phép phân
tích Doppler quang phổ giúp xác định các khoảng
biến thiên có giá trị về mức độ hẹp
ICA. C̣n trong nghiên cứu này, chụp động mạch năo
(chụp qui ước hoặc chụp MRA) được
tiến hành một cách có hệ thống ở tất
cả những bệnh nhân hẹp ICA trên siêu âm Doppler.
Mức độ và h́nh dạng của hẹp động
mạch trên phim chụp động mạch được
định lượng bằng cách sử dụng phương
pháp NASCET trong đo lường hẹp mạch máu. Trong trường
hợp có sự bất tương đồng khi đánh
giá mức độ hẹp ICA giữa siêu âm và MRA th́
chụp động mạch năo có sử dụng catheter
sẽ được tiến hành. Dựa trên tiêu
chuẩn NASCET và protocol tiêu chuẩn của LSR, chúng tôi
chia hẹp ICA thành 3 nhóm: hẹp 50-69%, hẹp 70-89% và
hẹp 90-99%. Hẹp <50% được mô tả là
“plaque” (mảng tổn thương) và không được
đưa vào nghiên cứu này bởi v́ theo LSR, chỉ
những động mạch lớn bị hẹp (50%
mới có thể là nguyên nhân tiềm ẩn gây nhồi máu
năo. Những nguyên nhân tiềm tàng chính yếu khác gây
nhồi máu năo là: (1) bệnh lư động mạch
nhỏ (bệnh nhân bị cao huyết áp hoặc tiểu
đường, đường kính lớn nhất
của ổ nhồi máu trên CT hoặc MRI <15 mm, không xác
định được nguyên nhân nào khác gây đột
quỵ); (2) bệnh tim sinh emboli (huyết khối hoặc u
trong buồng tim, hẹp van 2 lá, van 2 lá hoặc van động
mạch chủ nhân tạo, viêm nội tâm mạc, ph́nh
thất trái hoặc mất vận động thất trái
sau nhồi máu cơ tim, nhồi máu cơ tim cấp,
giảm động hoặc loạn vận động cơ
tim toàn bộ, tạo lập emboli nghịch thường,
sa van 2 lá, ph́nh vách liên nhĩ, rung nhĩ, hội chứng
suy nút xoang). Những bệnh nhân trong nghiên cứu này
được mạo muội xem là có emboli phối
hợp vào nguyên nhân gây đột quỵ khi có mặt ít
nhất 1 trong số những biểu hiện bất thường
nêu trên.
Chúng
tôi xin ghi lại các yếu tố nguy cơ mạch máu như
cao huyết áp (huyết áp >160/90 mmHg trong ít nhất 2
lần đo trước khi bị đột quỵ),
tiểu đường (xét nghiệm đường máu
nhanh >6.0 mmol/L [>108 mg/dL] tồn tại trong ít nhất 2
lần đo trước khi bị đột quỵ), hút
thuốc lá thường xuyên, tăng cholesterol máu (xét
nghiệm cholesterol máu nhanh >6.5 mmol/L [>251 mg/dL]) và
bất kỳ một tiền sử bệnh tim hay bệnh lư
mạch máu ngoại biên nào.
Việc
đánh giá và phân loại vị trí bị nhồi máu theo
khuôn mẫu là phổ biến tại trung tâm của chúng
tôi. Chúng tôi cũng đánh giá sự hiện diện
của những trường hợp nhồi máu không liên
quan với đột quỵ cấp (nhồi máu “câm”).
Các đặc tính của đột quỵ trên những
bệnh nhân có hẹp ICA với nhiều mức độ
khác nhau đă được nghiên cứu. Phép so sánh
thống kê dùng test (2 được áp dụng. P<0.05,
2-sided được xem là có ư nghĩa thống kê.
Kết
quả:
Từ
tháng 1/1979 đến ngày 31/12/1999 có 2649 bệnh nhân bị
đột quỵ tại khu vực tuần hoàn phía trước
được lưu danh sách tại LSR, trong đó 354
bệnh nhân có hẹp ICA cùng bên đoạn ngoài sọ
(50%. Điều tra kỹ hơn thấy 145 bệnh nhân có
kết quả chụp động mạch cảnh (chụp
qui ước hoặc MRA) không sử dụng được
và bị loại khỏi nghiên cứu. 36 bệnh nhân cũng
bị loại bỏ do kết quả CTscan hoặc MRI không
phát hiện được ổ nhồi máu mà vị trí
nhồi máu chỉ được phỏng đoán dựa
theo lâm sàng. 173 bệnh nhân c̣n lại lập thành nhóm
bệnh trong nghiên cứu của chúng tôi.
173
bệnh nhân của chúng tôi được phân chia theo
mức độ hẹp ICA cùng bên thành 3 nhóm: 42 bệnh
nhân hẹp 50-69%, 55 bệnh nhân hẹp 70-89%, 76 bệnh nhân
hẹp (90%. Các yếu tố về nhân khẩu học, các
yếu tố nguy cơ gây đột quỵ và tỉ
lệ vài bệnh lư phối hợp giữa 3 nhóm là tương
đương nhau trên mọi phương diện
(bảng 1). Tuy vậy có
khuynh hướng gia tăng mức độ hẹp ICA theo
sự gia tăng của mức cholesterol máu nhưng sự
khác biệt này là không có ư nghĩa thống kê (P=0.15). Cũng
có khuynh hướng khiến phỏng đoán rằng
một emboli tiềm ẩn ở tim (PCSE: potential cardiac source
of emboli) có thể là nguyên nhân cùng tồn tại gây đột
quỵ bởi nó được phát hiện chủ
yếu ở nhóm bệnh nhân hẹp ICA 50-69% và 70-89% hơn
là nhóm hẹp 90-99%, nhưng sự khác biệt này cũng
không có ư nghĩa. Các cơn TIA ở cùng bên trước
khi bị đột quỵ xảy ra thường xuyên hơn
trong nhóm bệnh nhân hẹp ICA cùng bên 50-69% hơn là trong
các nhóm khác.
Theo
bảng 2, trong nhóm bệnh nhân hẹp ICA cùng bên 50-69% th́
tỉ lệ ICA b́nh thường ở đối bên là
nhiều hơn so với các nhóm khác.
Về
vị trí bị nhồi máu ở các nhóm (bảng 3), chúng
tôi nhận thấy dạng thông thường nhất là
nhồi máu khu vực màng nuôi phía trước, sau đó là
nhồi máu dưới vỏ và nhồi máu khu vực màng
nuôi phía sau. Bảng 3 cũng tóm tắt vị trí nhồi
máu theo từng mức độ khác nhau của hẹp ICA.
Nhồi máu bán cầu đại năo diện rộng (LH:
large hemispheral) dường như có khuynh hướng
xuất hiện thường xuyên ở nhóm hẹp ICA cùng
bên 50-69% hơn ở các nhóm khác và sự khác biệt này
là có ư nghĩa.
Sau
khi đă loại ra những bệnh nhân có PCSE, chúng tôi
nhận thấy tỉ lệ nhồi máu LH vẫn tiếp
tục xuất hiện thường xuyên hơn ở nhóm
bệnh nhân có hẹp ICA 50-69%, nhưng sự khác biệt
này đă mất đi ư nghĩa thống kê. Ngược
lại, nhồi máu vùng viền (BZ: border zone) lại có
khuynh hướng xuất hiện phần lớn ở nhóm
hẹp ICA 90-99% (bảng 4).
Chúng
tôi phân tích sơ lược các yếu tố về nhân
khẩu học và các yếu tố nguy cơ gây đột
quỵ không chỉ cho các mức độ hẹp ICA khác
nhau mà c̣n cho các vị trí nhồi máu khác nhau. Hầu
hết các yếu tố này, ngoại trừ cao huyết áp
và PCSE, phân bố đều nhau giữa các nhóm. Bệnh
nhân bị nhồi máu LH th́ ít có cao huyết áp hơn
bệnh nhân không bị nhồi máu LH (25% [5/20] so với 50%
[76/153]; P=0.03), trong khi cao huyết áp lại hay gặp hơn
ở bệnh nhân bị nhồi máu BZ so với bệnh nhân
không bị nhồi máu BZ (71% [12/17] so với 44% [69/156];
P=0.04). Có khuynh hướng gắn liền PCSE với
nhồi máu LH nhưng không có ư nghĩa thống kê (3 [15%]
trong số 20 trường hợp có nhồi máu LH so
với 14 [9%] trong số 153 trường hợp không có
nhồi máu LH; P=0.18) và nhồi máu đa ổ tại khu
vực màng nuôi nhưng cũng không có ư nghĩa thống
kê (3 [21%] trong số 14 trường hợp có nhồi máu
đa ổ tại khu vực màng nuôi so với 14 [9%] trong
số 159 trường hợp không có kiểu nhồi máu này;
P=0.05). Chúng tôi cũng nhận thấy một sự liên
quan có ư nghĩa giữa PCSE với nhồi máu BZ (4 [24%]
trong số 17 trường hợp có nhồi máu BZ so
với 13 [8%] trong số 156 trường hợp không có
kiểu nhồi máu này; P=0.03).
Bàn
luận:
Trong
nghiên cứu này, chúng tôi cố gắng phân tích mối liên
quan giữa những bệnh nhân lần đầu tiên
bị đột quỵ với hẹp ICA nhiều mức
độ khác nhau trong số bệnh nhân được lưu
danh tại một bệnh viện chăm sóc sơ
khởi. Nghiên cứu này cũng có những ưu điểm
sau đây về mặt phương pháp luận: mức
độ hẹp ICA được đánh giá hoặc
bằng chụp động mạch qui ước dựa
theo phương pháp NASCET, hoặc bằng sự phối
hợp giữa siêu âm Doppler và MRA. Phương pháp MRA
mặc dù không phải luôn luôn có giá trị như ư như
phương pháp chụp động mạch nhưng cũng
có độ chính xác cao trong việc đánh giá hẹp
ICA. Trong trường hợp có sự bất tương
đồng giữa kết quả siêu âm và MRA, chúng tôi
sử dụng phương pháp chụp động mạch
năo có sử dụng catheter xem như là tiêu chuẩn vàng
trong việc đánh giá hẹp ICA. Các dữ liệu
từ CT và MRI ở mỗi bệnh nhân được phân
chia thành từng nhóm dựa vào mẫu bảng đồ
phân bố sang thương được xuất bản
gần đây.
Có
một điều đáng chú ư là sự xuất hiện
các cơn TIA trước khi bị đột quỵ
chiếm tỉ lệ cao nhất ở nhóm bệnh nhân
hẹp ICA 70-89%; nghĩa là ở các bệnh nhân bị
đột quỵ nguồn gốc từ động
mạch cảnh, có sự song hành giữa tỉ lệ
xuất hiện cơn TIA với mức độ tắc
nghẽn do hẹp đến 90% động mạch
cảnh, c̣n sau đó th́ tỉ lệ cơn TIA giảm
đi. Chính điều này đă giúp suy ra rằng các cơn
TIA ở bệnh nhân của chúng tôi không phải
đơn thuần chỉ do đặc tính không bền
chắc của mảng tổn thương gây hẹp gây
ra (ghi chú: mảng tổn thương càng lớn dần th́
tính bền chắc của nó
sẽ càng giảm dần và sẽ càng dễ bong ra) mà c̣n
có môt số yếu tố khác có thể là nguyên nhân
giải thích cho các cơn TIA này. Tỉ lệ thấp
của các cơn TIA trong nhóm bệnh nhân hẹp ICA 50-69% và
90-99% có thể được giải thích bằng giả
thuyết: trong nhóm hẹp 50-69%, mảng tổn thương
bền chắc hơn nên khó bong ra; c̣n trong nhóm hẹp
90-99%, sự di chuyển chậm của ḍng máu sau chỗ
hẹp đă không thể làm bong cục emboli ra khỏi
bề mặt mảng tổn thương và đẩy chúng
đi xa ngay cả trong trường hợp đó là
mảng tổn thương “hoạt động”
(emboligenic). Gần đây, một “Thuyết bảo vệ
năo ḍng chảy chậm” như vậy đă được
dùng để giải thích cho nguy cơ ít bị đột
quỵ ở những bệnh nhân có tắc nghẽn
gần động mạch cảnh. Nghiên cứu của chúng
tôi cho thấy có sự xuất hiện đi trước
của các cơn TIA ở xấp xỉ ½ số bệnh nhân
đột quỵ liên quan tới hẹp ICA 70-89%. Điều
này đă cho phép chúng tôi kết luận rằng sự
xuất hiện các cơn TIA đi trước là đặc
trưng cho nhóm bệnh nhân này.
Trong
tất cả các nhóm bệnh nhân có hẹp ICA, nhồi máu
khu vực màng nuôi (phía trước và phía sau) thuộc vùng
chi phối của động mạch năo giữa là đặc
trưng, nó ủng hộ cho kết quả của 1 báo cáo
trước đó và gợi ư cho thấy một t́nh
trạng tương đối tốt của tuần hoàn
bàng hệ nguyên phát. Tỉ lệ nhồi máu LH trong nghiên
cứu của chúng tôi tương tự với tỉ
lệ nhồi máu LH ở các bệnh nhân có bệnh lư
tắc nghẽn ICA trong báo cáo trước đó. Chúng tôi
đề nghị công nhận rằng cơ chế emboli
từ tim là nguyên nhân giải thích cho tỉ lệ gia tăng
của một số nhồi máu LH v́ lẽ có sự
xuất hiện đồng thời của PCSE ở 3 (15%)
trong số 20 bệnh nhân nhồi máu LH so với 14 (9%) trong
số 153 bệnh nhân nhồi máu các dạng khác; và theo
số liệu từ LSR, emboli từ tim được xem là
nguyên nhân thường gặp thứ hai gây nhồi máu LH
sau bệnh lư xơ vữa động mạch lớn.
Số liệu từ LSR cũng gợi ư rằng ổ
nhồi máu năo nguồn gốc từ tim lớn hơn so
với ổ nhồi máu năo nguồn gốc động
mạch – động mạch.
Tỉ
lệ thấp của nhồi máu BZ trong nghiên cứu
của chúng tôi, mặc dù có hẹp ICA, có thể
được lư giải do số bệnh nhân có tắc
nghẽn (occlusion) ICA đă bị loại khỏi nghiên
cứu. Tỉ lệ thấp như vậy cũng chỉ
ra rằng ṿng tuần hoàn bàng hệ nguyên phát tương
đối không bị tổn thương khiến máu nuôi
năo không phải chảy ngược vào những vùng giáp
ranh (watershed area) đang thiếu máu để rồi
phải giảm lưu lượng đến mức
tới hạn đủ để gây nhồi máu BZ. Vai tṛ
bảo vệ như vậy của tuần hoàn bàng hệ
đối với nhồi máu BZ đă từng được
đề cập trước đây. Chúng tôi cũng
nhận thấy một mối liên quan giữa PCSE với
nhồi máu BZ, điều đó cho phép chúng tôi suy
luận rằng nguồn gốc của một số trường
hợp nhồi máu BZ trong nghiên cứu của chúng tôi là
emboli từ tim.
Về
mối quan hệ giữa vị trí và kích thước
của ổ nhồi máu với các mức độ
hẹp động mạch khác nhau, điểm quan
trọng nhất là mối liên quan có ư nghĩa giữa
nhồi máu LH với hẹp ICA <70%. Kết quả này trái
ngược với kết quả từ những nghiên
cứu trước, mà theo đó, kích thước ổ
nhồi máu có liên quan tới mức độ hẹp ICA.
Dường như emboli nguồn gốc từ tim là nguyên
nhân giải thích cho việc gia tăng tỉ lệ
nhồi máu LH trong nhóm có hẹp ICA mức độ trung b́nh
(50-69%). Phân tích gần đây của NASCET cho thấy
rằng 10.8% trường hợp đột quỵ ở
bệnh nhân có hẹp động mạch cảnh có
triệu chứng được quy nguyên nhân do emboli
nguồn gốc từ tim, dù cho số bệnh nhân này
đă được sàng lọc một cách cẩn
thận là không có PCSE. Hơn nữa, theo báo cáo này, đột
quỵ nguyên nhân từ tim thường được
chẩn đoán trong nhóm hẹp ICA mức độ trung b́nh
(60-69%) hơn là nhóm hẹp nặng (70-99%) (12% so với
6.9%). Ư kiến của chúng tôi qua nghiên cứu của ḿnh
cũng theo khuynh hướng tương tự, mặc dù
vậy số liệu của chúng tôi không có ư nghĩa
thống kê v́ số lượng bệnh nhân ít (14.3% [6/42]
so với 8.4% [11/131]). Tuy nhiên, chúng tôi không nghĩ rằng
một ḿnh bản thân emboli nguồn gốc từ tim có
thể gây nhồi máu LH ở bệnh nhân có hẹp động
mạch cảnh mức độ nhẹ (low–grade). Suy
đoán này dựa trên thực tế
PCSE cùng tồn tại với tỉ lệ hầu như
ngang nhau ở 2 nhóm hẹp ICA 50-69% và 70-89% (14% [6/42] so
với 13% [7/55]), trong khi nhồi máu LH liên quan có ư nghĩa
chỉ đơn thuần với nhóm hẹp 50-69%. Ngay
cả khi chúng tôi có thiên
vị chấp nhận giả thuyết cho rằng hầu
hết nhồi máu LH ở bệnh nhân có hẹp động
mạch cảnh là nguồn gốc từ tim đi chăng
nữa th́ sự gia tăng tỉ lệ loại nhồi máu
này ở nhóm bệnh nhân có hẹp ICA 50-69% trong nghiên
cứu của chúng tôi cũng khiến chúng tôi không
thể phân tích dữ liệu mà không lưu tâm đến
khái niệm về tuần hoàn bàng hệ. Vài nghiên
cứu đă nhấn mạnh tầm quan trọng của
tuần hoàn bàng hệ trong việc quyết định kích
thước của ổ nhồi máu. Radu và Moseley đă
chỉ ra rằng, ở bệnh nhân có bệnh lư tắc
nghẽn ICA, độ nghiêm trọng của các khiếm
khuyết thần kinh sẽ ít và kích thước của
ổ nhồi máu trên CTscan sẽ nhỏ hơn nếu như
có sự cung cấp máu đầy đủ từ
tuần hoàn bàng hệ. Tất cả chúng ta đều
biết rằng ṿng tuần hoàn bàng hệ thứ phát
(secondary) tại khu vực màng nhện và màng nuôi, b́nh thường
vốn bất hoạt, sẽ được hoạt hóa
một khi có bệnh lư gây tắc nghẽn mạch ở
mức độ nặng (high-grade) và khi có sự giảm
áp lực đổ đầy máu măn tính. Đây là
một quá tŕnh cần có thời gian trái ngược
với hoạt động ṿng tuần hoàn bàng hệ nguyên
phát (primary) vốn đáp ứng ngay lập tức trước
một t́nh huống suy tuần hoàn cục bộ. Mối tương
quan nghịch đảo giữa kích thước ổ
nhồi máu với mức độ hẹp ICA ở
bệnh nhân của chúng tôi có thể được
giải thích bằng giả thuyết rằng ṿng tuần
hoàn bàng hệ thứ phát trong trường hợp hẹp
ICA mức độ trung b́nh có hoặc không có rối
loạn huyết động ở đầu xa đă
bị kém chức năng, chính v́ vậy mà năo đă không
ở tư thế “chuẩn bị sẵn sàng” trước
một biến cố nhồi máu, hậu quả là đột
quỵ ở những bệnh nhân như vậy có thể
sẽ nghiêm trọng hơn và khu vực bị nhồi máu
sẽ lớn hơn. Chúng tôi cho rằng ở những
bệnh nhân có hẹp ICA (70%, emboli lớn nguồn gốc
động mạch hoặc từ tim cũng có thể là
nguyên nhân gây nhồi máu trong những trường hợp
được xác định chắc chắn, nhưng năo
đă được bảo vệ tốt hơn để
chống lại t́nh trạng nhồi máu LH có thể do
sự hoạt hóa trước đó của ṿng tuần hoàn
bàng hệ thứ phát.
Thực
tế là sau khi đă loại trừ nguyên nhân do emboli
nguồn gốc từ tim, chúng tôi nhận thấy nhồi
máu BZ hầu hết bắt gặp ở nhóm bệnh nhân có
hẹp ICA 90-99%, phù hợp với quan điểm đă
được chấp nhận rằng kiểu nhồi máu
này có liên quan với bệnh lư tắc nghẽn ICA nghiêm
trọng (hẹp và tắc khít) dù cho nguyên nhân có thể
là emboli bên cạnh sự rối loạn về huyết
động học. Vài nghiên cứu đă đề
xuất ư kiến rằng bệnh lư tắc nghẽn ICA
mức độ nặng đă khiến làm giảm áp
lực đổ đầy máu tới vùng giáp ranh của
tổn thương và hậu quả theo sau là nhồi máu
BZ. Wodarz nhận thấy những biến đổi tại
vùng viền gặp ở >40% bệnh nhân có hẹp
hoặc tắc ICA, trong khi nhồi máu BZ lại không thường
gặp trong bệnh nhân của chúng tôi ngay cả khi có
hẹp khít. Khám phá của chúng tôi phù hợp với báo
cáo trước đó cho rằng nhồi máu BZ là dạng
hiếm gặp của bệnh lư tắc nghẽn ICA.
Tóm
lại, nghiên cứu của chúng tôi nêu bật các
dạng khác nhau của nhồi máu năo ở bệnh nhân có
hẹp ICA đoạn ngoài sọ. Đặc tính không
đồng nhất do nhiều dạng nhồi máu khác nhau
này tùy thuộc vào mức độ của bệnh lư
hẹp động mạch cơ bản và một vài
yếu tố khác, trong đó những cơ chế và
đặc thù khác nhau của ṿng tuần hoàn bàng hệ
đóng một vai tṛ quan trọng.
Bảng
1: Nhân khẩu học, các yếu tố nguy cơ mạch máu
và một số bệnh lư phối hợp ở bệnh nhân
có hẹp động mạch cảnh trong