THAM KHẢO THẦN KINH HỌC

Hep_dm2

Home Up Feedback Contents Search

 

angioplasty

MỘT NGHIÊN CỨU TIỀN CỨU CÓ KIỂM CHỨNG

VỀ RỐI LOẠN CHỨC NĂNG TÂM THẦN KINH SAU THỦ THUẬT

CẮT BỎ NỘI MẠC ĐỘNG MẠCH CẢNH.

Eric J. Heyer, Ruchey Sharma, Anita Rampersad, Christopher J. Winfree, William J. Mark, Robert A. solomon, George J. todd, Paul C. Mccormick, James G. Mcmurtry, Donald O. Quest, Yaakov Stern, Ronald M. Lazar, E. Sander Connolly: A Controlled prospective study of Neuropsychological dysfunction following carotid endarterectomy. Arch neurol/Vol 59, Feb 2002: 217-221

Dịch: Bác Sỹ Bùi Văn Tố

Mở đầu: Mặc dù tổn thương nhẹ về nhận thức được đánh giá bằng test tâm thần kinh ở những bệnh nhân sau thủ thuật cắt bỏ nội mạc động mạch cảnh (CEA), điều này c̣n đang bàn căi có hay không có rối loạn nhận thức và là hậu quả của thủ thuật hay do gây mê.

Mục đích: Để phát hiện thay đổi nhận thức qua test tâm thần kinh ở nhóm bệnh nhân sau CEA so với nhóm chứng là những bệnh nhân trên 60 tuổi sau phẫu thuật tủy sống, và xác định có hay không rối loạn chức năng tâm thần kinh sau CEA và là hậu quả của thủ thuật hay do gây mê.

Phương pháp: 80 bệnh nhân trải qua CEA và 25 bệnh nhân phẫu thuật cột sống thắt lưng được đánh giá bằng bộ test tâm thần kinh trước phẫu thuật và tại thời điểm 1 ngày và 30 ngày sau phẫu thuật. Kết quả test NP ở những bệnh nhân nhóm chứng được dùng làm giá trị b́nh thường cho những bệnh nhân trải qua CEA, bằng cách tính điểm z là giá trị trung b́nh và SD về số điểm thay đổi trong nhóm chứng.Thay đổi về rối loạn chức năng nhận thức được coi có ư nghĩa khi kết quả vượt quá giá trị trung b́nh cộng 2 SD thu được trên nhóm chứng.

Kết quả: Tổng số điểm thiếu hụt ít hơn có ư nghĩa ở nhóm trải qua CEA so với nhóm chứng tại thời điểm 1 ngày và 30 ngày sau thủ thuật. Khi thu thập kết quả của từng test riêng lẻ, ở nhóm trải qua CEA  kết quả nhỏ hơn có ư nghĩa so với nhóm chứng đối test Rey Complex Figue và Halstead Reitan Trails B ở thời điểm 1 ngày và test Rey Complex Figue ở lúc 30 ngày. Kết quả bao gồm, rối loạn về chức năng nhận thức đă được t́m thấy ở 22 bệnh nhân (28%) ở nhóm trải qua CEA tại ngày thứ 1 và 11 bệnh nhân (23%) của 48 bệnh nhân tại ngày thứ 30 sau thủ thuật.

Kết luận: Suy giảm nhận thức nhẹ xảy ra và duy tŕ tối thiểu vài tuần sau thủ thuật CEA. Sự suy giảm nhận thức nhẹ này lại không xảy ra ở nhóm chứng.

CEA là một biện pháp có hiệu quả để ngăn chặn chứng đột qụy ở những bệnh nhân được lựa chọn phù hợp. Mặc dù tỷ lệ mắc bệnh đột quỵ quanh phẫu thuật thấp, nhưng thay đổi về nhận thức nhẹ được biểu hiện qua test tâm thần kinh lại có tỷ lệ phần trăm cao ở những bệnh nhân sau CEA. Vài nghiên cứu đă chứng minh có sự cải thiện về nhân thức, một vài nghiên cứu khác lại chỉ ra không có sự thay đổi, những nghiên cứu c̣n lại khác  chứng minh có sự suy giảm nhận thức sau thủ thuật bằng test tâm thần kinh. Mặc dù suy giảm nhận thức qua kết quả test tâm thần kinh có thể liên quan tới nhồi máu bán cầu trong phẫu thuật, microemboli, hay nhồi máu năo không triệu chứng, một vài suy giảm có thể do ảnh hưởng của thuốc gây mê, đặc biệt ở những bệnh nhân già. Phần lớn những nghiên cứu trước không có kiểm chứng về ảnh hưởng của các yếu tố có thể thay đổi xung quanh thủ thuật như gây mê, stress, và đau.

Để mô tả đặc điểm tốt hơn về tổn thương nhận thức xảy sau  CEA, chúng tôi khảo sát bệnh nhân trước và sau thủ thuật dùng bộ test tâm thần kinh đánh giá một vài lĩnh vực nhận thức để phát hiện tổn thương nhận thức thoáng qua. Hơn thế nữa, chúng tôi đă xác định 1 nhóm bệnh nhân trải qua phẫu thuật cột sống (tuổi >60) để đáp ứng cho phù hợp yêu cầu của nhóm chứng cũng có ảnh hưởng của những yếu tố có thể thay đổi xung quanh thủ thuật. Nghiên cứu tiền cứu này khám phá sự thay đổi nhận thức qua test tâm thần kinh được tiến hành vào ngày 1 và 30 sau CEA.

ĐỐi tưỢNG và pHưƠnG pHáp:

Đối tượng:

83 bệnh nhân trải qua CEA được lựa chọn và 25 bệnh nhân (tuổi>60) trải qua phẫu thuật cột sống thắt lưng là những bệnh nhân mới tham gia vào nghiên cứu này. Những bệnh nhân được đánh giá nhận thức bằng  test NP ở Anh th́ được lựa chọn, loại trừ tất cả các bệnh nhân bị đột quỵ sau thủ thuật hoặc điểm đau lớn hơn 4 tại thời điểm khám nghiệm đầu tiên sau khi có bảng tổng hợp số liệu. Các bệnh nhân được đánh giá bằng  bộ test NP tại 3 thời điểm: Trước phẫu thuật (n=108); 1 ngày sau thủ thuật (n=105); 30 ngày sau thủ thuật (n=65). Tất cả các test được đánh giá ít nhất 3 giờ khi sau khi dùng bất cứ thuốc giảm đau hay thuốc an thần nào. MRI được thực hiện trước và sau thủ thuật, không tiến hành chụp CT Scan. Mặc dù siêu âm xuyên sọ tiến hành trong lúc thủ thuật ở một số bệnh nhân nhưng nó không dùng để xác shunt hay để đếm số lượng emboli đến từ vùng thủ thuật.

Vô cảm:

            Không bệnh nhân nào được dùng thuốc ǵ trước đó. Tất cả các bệnh nhân dùng thuốc gây mê toàn thân, và theo dơi nhiệt độ và huyết động liên tục từng phút. Thuốc chấn tĩnh và giảm đau trước gây mê bao gồm fentanyl citrate và midazolam hydrocloride. Thuốc dẫn mê  bao gồm 1 hay nhiều hơn các thuốc sau: Propofol, etomidate, hay thiopental sodium, và succinyl choline chloride, cisatracurium besylate, hoặc rocuronium bromide; Thuốc duy tŕ mê isoflurane hay cevofluranc  có tỷ lệ NO/02 là 2:1, và cisatracurium hay rocuronium; thuốc hồi tỉnh gồm: neostigmine bromide và glycopyrrolate cho giải phóng sinap thần kinh cơ, và labetalol hydrochloride hay esmolol hydrochloride cho kiểm soát huyết động. Những bệnh nhân trải qua thủ thuật CEA , một catheter động mạch quay dùng để do áp lực máu liên tục, một máy ghi điện năo 8 kênh đă được dùng. Thay đổi về điện năo có ư nghĩa trên động mạch cảnh đang kẹp được xác định khi  bằng 50% hay lớn hơn giảm biên độ sóng alpha hoặc tần số sóng beta và tăng tần số sóng delta hay theta, hoặc mất hoàn toàn hoạt động điện năo. Vô cảm ở bệnh nhân phẫu thuật cột sống về cơ bản cũng giống bệnh nhân trải qua CEA, ngoại trừ liều Fentanyl trung b́nh cao hơn  (bảng 1).

Phẫu thuật:

Tất cả các bệnh nhân trải qua thủ thuật cắt bỏ cung sau để vào ống sống được thực hiện bởi một thành viên củahiệp hội phẫu thuật thần kinh–cột sống (P.C.M., J.G.M.,or D.O.Q.) và những bệnh nhân trải qua thủ thuật CEA được thực hiện bởi những phẫu thuật viên thần kinh mạch máu (R.A.S., D.O.Q., or E.S.C.) hay phẫu thuật viên mạch máu (G.j.T.). Thủ thuật CEA bao gồm đặt bệnh nhân nằm ngửa cùng đầu ngửa theo đường giữa. Rạch một đường theo da từ góc hàm dưới đến gần đường giữa qua da, tổ chức dưới da, và cơ da cổ. Động mạch cảnh chung, động mạch cảnh ngoài và động mạch cảnh trong sẽ bộ lộ và đựơc kiểm soát. Tất cả các bệnh nhân làm thủ thuật CEA đều được dùng 5000 – 6000 UI heparin sodium tĩnh mạch. Không có bệnh nhân nào được tạo shunt. Ơû những bệnh nhân được phẫu thuật bởi 1 người trong nhóm chúng tôi (G.J.T.), th́ sử dụng 1 cách có chọn lọn một đoạn tĩnh mạch nông và protamine sulfate.

Những bệnh nhân phẫu thuật cột sống đặt nằm sấp. Tiếp theo là rạch đường giữa, bóc tách qua các cơ cạnh sống hoàn toàn một bên ở những bệnh nhân lấy bỏ đĩa điệm cắt ¼ cung sau (discectomy) và hai bên ở những bệnh nhân mổ cắt cung sau vào ống sống. Kính hiển vi được dùng để nh́n rơ cho việc cắt bỏ đĩa đệm ở 1 bệnh nhân. Bệnh nhân đặt trở lại tư thế nằm ngửa trước khi rút ống nội khí quản. Không có bệnh nhân nào trong cả hai nhóm phải truyền máu. Tất cả các bệnh nhân được rút ống nội khí quản tại pḥng mổ, và để hồi tỉnh từ 1 – 3 giờ tại đơn vị săn sóc hậu phẫu. Những bệnh nhân sau thủ thuật CEA được chuyển về đơn vị săn sóc đặc biệt và lưu lại đây 1 đêm. Không có bệnh nhân nào mổ cột sống lưng có yêu cầu nằm lại tại đơn vị săn sóc đặc biệt. Tất cả các bệnh nhân được giữa lại 1-3 ngày để đánh giá thang điểm đau hậu phẫu và test NP.

Đánh giá:

Các bệnh nhân được đánh giá bằng bộ test NP. Tất cả các bệnh nhân đă được đánh giá bởi cùng một trợ lư (R.S.), mà người này được huấn luyện để thực hành chấm điểm với bộ test NP dưới sự giám sát của các chuyên gia tâm thần kinh (Y.S. và R.M.L.). Bốn điểm số thô đựơc chọn từ bộ 3 test NP, nó được lựa chọn để đại diện một khoảng giới hạn nào đó của phạm vi nhận thức. Halstead-Reitan Trails parts A và B đánh giá thị lực và vận nhăn theo thời gian để xác định thử xem sau bao lâu th́ bệnh nhân sẽ bắt gặp được vật nối những ṿng có đánh số với 1 đường thẳng riêng lẻ (phần A) và sau bao lâu bệnh nhân bắt được điểm nối số ṿng có đánh số kư tự và đánh số liên tục giống như trên bằng cánh thay đổi giửa 2 nhóm ṿng (phần B). Test phối hợp từ bằng đường miệng có kiểm chứng đánh giá độ trôi chảy khi phát âm và cung cấp thông tin về bán cầu ưu thế (“trái”). Bệnh nhân được yêu cầu tạo ra càng nhiều từ trong khả năng bắt đầu bằng 3 kư tự đích (C,F,L) trong 1 phút. Điểm số thô của họ là tổng số các từ được tạo ra từ toàn bộ 3 kư tự. Phần copy của test Rey Complex Figure được đưa vào để đánh giá cơ quan súc giác và thị trường và cung cấp thông tin về chức năng bán cầu không ưu thế (“phải”) . Bệnh nhân được yêu cầu copy Rey Complex Figure đến mức độ tốt nhất trong khả năng của họ. Một hệ thống tính điểm tiêu chuẩn được sử dụng để đánh giá sự hiện diện của các đặc tính minh họa chuyên biệt và tính chính xác trong việc sắp xếp vị trí của họ. Mặc dù chúng ta sẽ phải đ̣i hỏi những bộ test cao cấp hơn nhưng quần thể bệnh nhân lớn tuổi của chúng tôi th́ thích ứng với bộ test này tốt hơn do thời gian thực hiện ngắn của nó.

Mức độ đau được đánh giá cùng thời điểm với test NP, dùng thang điểm tính cường độ đau bằng đánh số gồm 11 điểm theo nghiên cứu trước đây. Bệnh nhân có điểm số đau lớn hơn 4 th́ được loại trừ ngay bước đầu tiên do nhầm lẫn với hiệu ứng gây đau khi thực hiện test NP.

Tính toán thông kê:

Đối với mỗi test NP, những thay đổi khi thực hiện được tính toán bằng cách lấy trừ đi điểm số tính lúc hậu phẫu. Một bảng dữ liệu b́nh thường dành cho thay đổi này được rút ra từ nhóm chứng đối với mỗi test NP. Giá trị trung b́nh và SD từ nhóm chứng được sử dụng để tính Z scor cho mỗi test: z score =( điểm thu được mỗi test – điểm trung b́nh của nhóm chứng)/SD. Để minh họa cho việc suy giảm nhận thức một hệ thống điểm được sử dụng để biến đổi z core có số âm thành những điểm dành cho mỗi test NP. Những điểm đó được thiết kế như sau: zscoe (-0.5= 0 điểm; -0.5 đến -1.0 =1 điểm, -1 đến -1.5 =3 điểm, -2 đến –2.5 = 4 điểm, -2.5 đến –3.0 = 5 điểmvà <-3.0 =6điểm. Điểm số giảm đi trong test này th́ đánh giá khả năng thực hiện của mỗi bệnh nhân trong nhóm CEA so với khả năng thực hiện trung b́nh của mỗi nhóm chứng thay đổi như thề nào. Đối với mỗi bệnh nhân tổng số điểm giảm khi làm test được tổng hợp để t́m ra điểm số suy giảm tổng cộng. Điểm số suy giảm tổng cộng này đại diện cho việc thực hiện toàn bộ test NP, trong khi điểm số suy giảm khi thực hiện test th́ đại diện cho việc thực hiện test NP ở mỗi cá nhân. Sự khác biệt giữa các nhóm được so sánh bằng cách sử dụng điểm Saterthwaight bổ xung T test không theo cặp, do sự khác biệt khi đánh giá về các nhóm. Test Komogorov được sử dụng để đánh giá xem sự phân bố của test và Z score giữa nhóm CEA và nhóm chứng đối với mỗi test NP xem có phù hợp hay không.

KẾT qỦA:

Những yếu tố thay đổi trong phẫu thuật và nhân khẩu học  của các bệnh nhân chỉ ra ở bảng 1. Kết quả trên tất cả các test của bộ test NP thu được nằm trong giới hạn b́nh thường ở nhóm bệnh nhân trải qua CEA, gồm cả test Trails A có 1 bệnh nhân bị loại khỏinghiên cứu. Bởi v́ chúng tôi mong các bệnh nhân không b́nh thường về hệ thần kinh trung ương có kết quảtest NP kém hơn những bệnh nhân không tổn thương, điều này không có ǵ ngạc nhiên rằng những bệnh nhân có triệu chứng (những người  trải qua đột quỵ trước đó hay cơn TIA) được tiến hành sẽ kém hơn  trên cả 3 test trong bộ test  NP so với nhóm chứng. Ngược lại, những bệnh nhân không triệu chứng trải qua CEA khi tiến hành test NP chỉ có trên test Trails A ít hơn có ư nghĩa so với phạm vi nhóm b́nh thường của nhóm chứng (p=0.03). V́ vậy, chúng tôi mong muốn những bệnh nhân có triệu chứng được chứng minh có suy giảm về nhận thức hơn trong test NP sau khi tiến hành phẫu thuật so với những bệnh nhân không có triệu chứng. Tuy nhiên, khi phân tích các phân nhóm của những bệnh nhân trải qua CEA chỉ ra rằng không có sự khác biệt có ư nghĩa về kết quả của test NP giữa 2 nhóm bệnh nhân có và không có triệu chứng. Không có sự liên quan có ư nghĩa giữa tŕnh độ học vấn và điểm thu được từ test NP. Có 3 bệnh nhân trong nhóm CEA bị đột quỵ sau thủ thuật đă loại khỏi nghiên cứu. Một bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim sau thủ thuật đă không loại khỏi nghiên cứu. Không thấy sự khác biệt không có ư nghĩa về kết quả test NP giữa 2 nhóm thủ thuật, nhóm có miếng vá tĩnh mạch nông và không có vá.

Tổng số điểm thiếu hụt thu được ở thời điểm 1 ngày sau phẫu thuật ít hơn có ư nghĩa ở nhóm trải qua CEA so với nhóm chứng (bảng 2, p=0.003). Khi nghiên cứu  những kết quả các test riêng lẻ nghi trên (bảng 2), kết quả của các test NP ít hơn có ư nghĩa ở nhóm những bệnh nhân trải qua CEA so với nhóm chứng trên test Rey Complex Figure (p=0.006) vàTrails B (p=0.01). Sự khác biệt không có ư nghĩa giữa phân nhóm thủ thuật CEA ở bên phải và CEA ở bên trái ở tất cả các test trong bộ test NP. Tổng số điểm thiếu hụt thu được ở thời điểm 30 ngày sau phẫu thuật ít hơn có ư nghĩa ở nhóm CEA với nhóm chứng (p=0.03). Khi nghiên cứu  những kết quả các test riêng lẻ thu được tại thời điểm 1 tháng sau thủ thuật nghi trên (bảng 2), kết quả của test Rey Complex Figure c̣n ít hơn có ư nghĩa ở nhóm những bệnh nhân trải qua CEA so với nhóm chứng. Có 37 bệnh nhân trải qua CEA suy giảm nhận thức có ư nghĩa trong test Rey Complex Figure hay trong test Trails B, chỉ có 16% (6 bệnh) chứng minh sự suy giảm có ư nghĩa ở cả 2 test, trong khi 84% (31 bệnh nhân) xác định suy giảm nhân thức có ư nghĩa trên  test này hay test khác ( 16 [43%] trên test Rey Complex Figure và 15 [41%] trên test Trails B).

Để xác định giới hạn rối loạn nhận thức có ư nghĩa sau thủ thuật CEA, tổng số điểm thiếu hụt thu được ở nhóm chứng (n=25)  tại rthời điểm 1 ngày sau phẫu thuật. Tổng số điểm thiếu hụt lớn hơn giá trị trung b́nh cộng 2 SD (2 SD > 5.46 điểm) ở nhóm chứng (những điễm cao hơn cho biết rối loạn nhận thức nặng hơn) đại diện  ngưỡng rối loạn chức năng nhận thức có ư nghĩa (biểu đồ A). 22 (28%) trong 80 bệnh nhân trải qua CEA có suy giảm chức năng nhận thức có ư nghĩa tại thời điểm 1 ngày sau phẫu thuật. Chỉ có 1 bệnh nhân trong nhóm chứng có tổng số điểm thiếu hụt lớn hơn giá trị trung b́nh + 2SD. Tổng số điểm thiếu hụt lớn hơn 4.65 điểm là ngưỡng đại diện cho suy giảm nhận thức có ư nghĩa tại thời điểm 30 ngày sau thủ thuật (biểu đồ B). 11 (23%) trong số 48 bệnh nhân được test tại thời điểm 30 ngày sau thủ thuật xác định suy giảm nhận thức có ư nghĩa so với nhóm chứng. Bởi v́ 32 bệnh nhân (40%) từ chối hoàn toàn cho nghiên cứu tại thời điểm 1 tháng, chúng tôi so sánh với ngưỡng ở những điểm thu được của nhóm chứng với 48 bệnh nhân trở lại. Không có sự khác biệt có ư nghĩa ở trên tất cả 4 test riêng lẻ trong bộ test NP tại ngưỡng và tại lúc 1 ngày sau phẫu thuật giữa 2 phân nhóm của bệnh nhân làm CEA. Trong 2 phân nhóm nhỏ có sự khác biệt đối về 2 yếu tố thay đổi xung quanh thủ thuật: ở 48 bệnh nhân trở lại có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn có ư nghĩa ở những bệnh nhân có đột quỵ từ trước hay có cơn TIA (p=0.02) nhưng tỷ lệ mắc bệnh lại thấp hơn ở những bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim từ trước (p=0.004), đă so sánh với những bệnh nhân không trở lại. 6 bệnh nhân tổn thương tại thời điểm 30 ngày cũng tổn thương ở ngày thứ nhất (p<0.03, test (2 ). Không có bệnh nhân nào trong nhóm chứng có tổng số điểm thiếu hụt lớn hơn số trung b́nh + 2SD tại thời điểm 30 ngày sau phẫu thuật. Mặc dù 8 bệnh nhân trong nhóm chứng không nghiên cứu lúc 30 ngày sau phẫu thuật, nhưng không có sự khác biệt có ư nghĩa khi tiến hành trên cả 4 test riêng biệt trong bộ test NP ở ngày thứ 1 và ngày thứ 30 của 17 bệnh nhân trở lại nghiên cứu. Những bệnh nhân trở lại nghiên cứu t́nh trạng tiến triển bệnh ít hơn có ư nghĩa so với những bệnh nhân không trở lại (p=0.02).

 6 (27%) trong số 22 bệnh nhân ở nhóm trải qua CEA có rối loạn chức năng  nhận thức lúc 1 ngày sau thủ thuật vẫn c̣n tổn thương tại thời điểm 1 tháng.10 bệnh nhân có tổn thương lúc 1 ngày sau thủ thuật c̣n suy giảm sau 1 tháng. 5 (9%) trong số 58 bệnh nhân không xác định được thay đổi về nhận thức tại thời điểm 1 ngày sau thủ thuật có rối loạn về nhận thức lúc 1 tháng. 19 bệnh nhân có tổn thương 1 ngày sau phẫu thuật có suy giảm tiếp theo.

Những bệnh nhân trong nhóm CEA rối loạn chức năng nhận thức có ư nghĩa được so sánh với những bệnh nhân trong nhóm mà không có rối loạn nhận thức. Không có sự khác biệt có ư nghĩa giữa 2 phân nhóm đối với những thay đổi xunh quanh thủ thuật (tuổi, giới, tŕnh độ học vấn, tay thuận), tiền sử (đột quỵ hay cơn TIA, CEA, tiểu đường, hay cao huyết áp), những thay đổi xung quanh thủ thuật (bên thủ thuật, hẹp động mạch cảnh đối bên, khoảng thời gian kẹp động mạch cảnh, thời gian thủ thuật) hay thay đổi quanh gây mê (liều fentanyl hay liều midazolam hoặc nhiệt độ trong lúc thủ thuật). Tuy nhiên, những bệnh nhân có tiền sử nhồi máu cơ tim có khả năng nhiều hơn cho tiến triển rối loạn nhận thức sau CEA so với những bệnh nhân không có tiền sử nhồi máu cơ tim (p=0.01).

BÀN LUẬN:

Dùng tổng số điểm thiếu hụt ghi được khi tiến hành test NP, của những bệnh nhân trải qua CEA có suy giảm nhận thức có ư nghĩa tại thời điểm 1 và 30 ngày sau thủ thuật, so sánh với nhóm chứng là những bệnh nhân phẫu thuật cột sống. Sự suy giảm này đă được đo bằng bộ 3 test Np để đánh giá ngôn ngữ, chú ư, tri giác và thị trường. Suy giảm về nhận thức kéo dài đă không t́m thấy ở nghiên cứu không có kiểm chứng trước đây.

Trong vài thập kỷ trước có nhiều nghiên cứu đă khám phá có hay không có ảnh hưởng tới nhận thức sau thủ thuật CEA bằng tiến hành test NP. Một hạn chế chung cho những nghiên cứu này là thiếu nhóm chứng phù hợp để đánh giá ảnh hưởng lên nhận thức của gây mê toàn thân và phẫu thuật qua test NP. Một số nghiên cứu đă dùng nhóm chứng là những người không trải qua phẫu thuật, những nghiên cứu khác có dùng nhóm chứng là những bệnh nhân trải qua phẫu thuật, số nghiên cứu c̣n lại không đối chiếu với nhóm chứng nào cả.

Hai nhóm nghiên cứu của chúng tôi rất phù hợp về những yếu tố thay đổi quanh phẫu thuật, tiền sử bệnh, những thay đổi xung quanh gây mê, và mức độ đau xung quanh thủ thuật. Chỉ có khác 1 điều những bệnh nhân trải qua phẫu thuật cột sống yêu cầu liều fentanyl trong khi mổ cao hơn và đau sau phẫu thuật nhiều hơn. Tuy nhiên tăng liều fetanyl trong khi mổ ở nhóm chứng có khuynh hướng tác dụng trở lại, nguyên nhân đó làm xấu đi kết quả khi làm test NP, và chúng tôi cũng loại ra khỏi nghiên cứu những bệnh nhân có số điểm đau lớn hơn 4. Điều đó có thể thấy rằng những yếu tố đặc biệt từ CEA như nhồi máu năo bán cầu, hay microemboli, có thể gây ra suy giảm nhận thức qua test NP.

            Kết quả riêng biệt từng test thu được tại lúc 1 ngày sau thủ thuật, ở nhóm bệnh nhân trải qua CEA xấu hơn có ư nghĩa so với nhóm chứng trên test Rey Complex Figue và Trails B. Suy giảm nhận thức có ư nghĩa trên cả 2 test chỉ xảy ra ở 6 bệnh nhân (16%). Điều t́m ra có thể chứng minh giả thuyết cơ chế khác nhau của nhồi máu năo, cục bộ và nữa bán cầu, giải thích cho suy giảm nhận thức sau thủ thuật CEA. Tại thời điểm 30 ngày sau thủ thuật, suy giảm nhận thức ở nhóm CEA ít hơn có ư nghĩa so với nhóm chứng chỉ trên test Rey Complex Figure.

Mặt khác dùng kết quả ở nhóm chứng để xác định ảnh hưởng của vô cảm và phẫu thuật đến nhận thức, dùng test Np trong nhóm chứng để giải thích cho thay đổi kết quả test NP, mà cái thay đổi này do “ảnh hưởng của thực hành” và xuất hiện khi thực hành lặp đi lặp lại nhiều lần. Dùng giá trị trung b́nh và SD của thay đổi số điểm trong nhóm chứng, z  scores đă được tính toán để so sánh  sao cho những test riêng biệt ở nhóm CEA được so sánh với những bệnh nhân trong nhóm chứng. Việc dùng 1 nhóm chứng có trải qua phẫu thuật, chúng tôi đă tránh được dùng phương pháp thông kê ít chặt chẽ, chẳng hạn như hạn chế việc đánh giá thiếu hụt nhận thức  dựa vào tỷ lệ % suy giảm, đă dùng trong nghiên cứu trước. Thêm vào nữa, mức độ nghiêm trọng của tổn thưong có ư nghĩa trên kết quả test NP của mỗi cá nhân có thể được đáng giá bằng cách sử dụng điễm số  suy giảm khi làm test , c̣n tổn thương toàn bộ th́ được đánh giá bằng cách sử dụng điểm số suy giảm tổng cộng.

Ở nghiên cứu này, suy giảm nhận thức có ư nghĩa được xác định kết quả test NP ở nhóm nghiên cứu vượt quá số trung b́nh cộng 2SD của nhóm chứng .Dùng kết quả test NP của 24 bệnh nhân  (96%) ở nhóm chứng là khoảng b́nh thường (không tổn thương)  tại thời điểm 1 ngày sau thủ thuật. Tất cả các bệnh nhân ở nhóm chứng kết quả test NP trong giới hạn b́nh thường tại thời điểm 1 tháng sau thủ thuật. Mặc dù phần lớn các bệnh nhân trong nhóm CEA thấy khộng có sự thay đổi hay cải thiện kết quả test NP sau thủ thuật, nhưng 22 bệnh nhân(28%) xác định suy giảm có ư nghĩa ở test NP lúc 1 ngày sau thủ thuật, và 11 (23%) của 48 có tổn thương sau 1 tháng thủ thuật. Không có sự khác biệt về tỷ lệ  mắc của suy giảm nhận thức ở bên thủ thuật ở thủ thuật CEA, dùng test Rey Complex Figure  đánh giá chức năng bán cầu năo không trội và test từ đáng giá chức năng bán cầu năo trội.

 Mặc dù điểm nổi bật của bài viết này là tỷ lệ mắc bệnh sa sút nhận thức tăng, nhưng theo kinh nghiệm một số bệnh nhân trải qua CEA  có cải thiện nhận thức sau phẫu thuật qua test NP. Sự cải thiện này có thể xảy ra bởi v́ giảm bớt tổn thương ḍng chảy sau CEA. Những nghiên cứu trong tương lai có thể sẽ khám phá lưu lượng ḍng máu năo trước và sau thủ thuật và nghiên cứu tương quan giữa giảm bớt tổn thương ḍng chảy với cải thiện nhận thức sau phẫu thuật.

Mặc dù chúng tôi lo lắng về số bệnh nhân tham gia test lần 2 giảm, nhưng điều đó không có khác biệt rơ ràng về test Np ở lần đầu và lần tiếp sau giữa nhóm nghiên cứu và nhóm chứng. Những bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu mà trở lại nghiên cứu lần 2 có thể có đột quỵ từ trước  hay cơn TIA nhiều hơn và có thể có nhồi máu cơ tim ít hơn. Ngoại trừ những bệnh nhân nhóm chứng tham gia nghiên cứu lần 2 không có sự khác biệt so với lần đầu.

Bộ test NP được dùng trong nghiên cứu này thích hợp phát hiện suy giảm nhận thức nhẹ sau thủ thuật CEA, và duy tŕ ít nhất vàituần sau thủ thuật. Sự thay đổi này h́nh như không liên quan với gây mê hay các yếu tố xung quanh thủ thuật. Thay đổi về nhận thức đại diện cho kiếm khuyết thần khi nhẹ xuất hiện như là hậu quả của thủ thuật chứ không liên quan tới đột quỵ.