| |

ĐIỀU TRỊ NHỒI MÁU
NĂO CẤP
BẰNG
HEPARIN TRỌNG LƯỢNG PHÂN TỬ THẤP
Đào
Tiến Xuân: điều trị nhồi máu năo cấp
bằng heparin trọng lượng phân tử thấp.
Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh, tập 7, phụ
bản của số 1, 2003. Trang 117-125.
BS
Đào Tiến Xuân, Khoa Thần kinh BVĐK Kiên Giang, NCS
Bộ môn Thần kinh Trường Đại học
Y Dược TP HCM
TÓM TẮT
Heparin được dùng
từ lâu để điều trị nhồi máu năo
cấp (NMNC) dù vẫn c̣n
tranh luận về hiệu quả và tính an toàn .Gần
đây việc áp dụng heparin trọng lượng phân
tử thấp (HTLPTT) đạt kết quả tốt,
dễ sử dụng và an toàn hơn so với heparin
chuẩn.
Phương pháp: Trong nghiên cứu thử
nghiệm lâm sàng, phân nhóm ngẫu nhiên và mù
đơn này, HTLPTT được dùng điều
trị NMNC nhằm đánh giá tính hiệu quả, an toàn
của phương pháp này. Bệnh nhân NMNC trong 48 giờ
sau khởi bệnh (nhóm điều trị ) được
tiêm dưới da Nadroparin 4100 UI hai lần/ngày trong 10 ngày.
Kết quả ( tỷ lệ chết, tỷ lệ không
tự chăm sóc ) ở hai nhóm được tính vào sau
mười ngày nhập viện ,vào tháng thứ ba và
thứ sáu sau ngày phân nhóm.
Kết quả: Trong
tổng số BN khảo sát là 131(64 điều trị, 67
chứng) có 129 BN được đánh giá kết quả
sau 3 và 6 tháng phân nhóm. Ở tháng thứ 3 tỷ lệ
chết và tỷ lệ không tự chăm sóc ở nhóm
điều trị giảm có ư nghĩa (P<0,05) so với
nhóm chứng. Ở tháng thứ 6 sự giảm này càng có
ư nghĩa hơn ( P<0,01). Tuy nhiên heparin TLPTT chỉ có
hiệu quả trên những BN NMN do thuyên tắc mạch
từ tim, xơ vữa-hẹp độâng mạch
cảnh trong và xơ vữa cung động mạch
chủ. Không có sự khác biệt có ư nghĩa thống kê
về kết quả điều trị cũng như
biến chứng sau 10 ngày nhập viện giữa hai nhóm.
Kết luận: Với bệnh nhân NMNC trong 48 giờ
sau khởi bệnh, HTLPTT có tính an toàn và hiệu quả
trong việc giảm tỷ lệ tử vong và
tỷ lệ không tự chăm sóc sau sáu tháng trên nhóm NMN
do thuyên tắc mạch năo từ tim và tổn thương
tắc-hẹp động mạch lớn trong và ngoài
sọ.
The role of low-molecular-weight heparin
in treatment of acute ischemic stroke.
Summary
We studied the
therapeutic effects of low-molecular-weight heparin in acute ischemic stroke
(AIS). Among 131 patients with AIS during the previous 48 hours randomly
assigned into 64 cases treated with low-molecular-weight heparin ( nadroparin )
and 69 controls, 129 had outcomes that were analyzed at 3 and 6
months. 4100 UI nadroparin was given subcutaneously twice daily for a duration
of 10 days. The therapeutic effects after 10 days of treatment were assessed by
Scandinavian Neurologic Stroke Scale and mortality . Outcomes at the third and
the sixth month after randomization were assessed by functional status measured
by Barthel index and mortality . By 3 months, there was significant difference
between the two groups in death or dependency (P<0.05) in favor of
low-molecular-weight heparin. This difference was more significant at the 6th
month (P<0.01). Nevertheless
low-molecular-weight heparin should not be given to all acute ischemic stroke
patients. It was only useful in some stroke subtypes: cardiogenic embolism,
internal carotid artery stenosis and aortic atheroslerosis. No significant
differences between the two groups in outcomes and complications were observed
at 10 days.
Conclusions: For
patients with acute ischemic stroke treated within 48 hours of the onset
symptoms, low-molecular-weight heparin was effective in improving outcomes at 6
months in some stroke subtypes : cardiogenic embolism, intracranial and
extracranial large artery occlusions and stenosis.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhồi máu năo
(NMN) chiếm khoảng 85% các trường hợp đột
quỵ tại Châu Aâu và Bắc Mỹ
và khoảng 70% tại các nước vùng Viễn
Đông1 và là bệnh lư
có tỷ lệ tử vong cao và để lại nhiều
di chứng2,3. V́ vậy nhiều phương pháp điều
trị NMN cấp đă được đề xuất
như sử dụng thuốc kháng đông( TKĐ),
phẫu thuật bóc tách động mạch cảnh,
thuốc chống ngưng tập tiểu cầu và
thuốc làm tan huyết khối 4,5.
Các TKĐ, đặc
biệt là heparin đă là chọn lựa phổ biến
của nhiều thầy thuốc trong nhiều thập niên
nhưng vẫn c̣n nhiều tranh luận về lợi ích và
an toàn của thuốc6,7,8,9
Gần đây các
nghiên cứu điều trị huyết khối tĩnh
mạch cho thấy heparin trọng lượng phân tử
thấp (TLPTT) có hiệu quả hơn heparin chuẩn, không
tăng nguy cơ chảy máu10,11 do ít gây biến chứng
giảm tiểu cầu12,13. Ngoài ra, heparin TLPTT do có tính
khả dụng sinh học tốt hơn, thời gian bán
hủy dài hơn và dễ dung nạp hơn nên việc
sử dụng đơn
giản hơn và an toàn hơn13,14,15,16 so với heparin tiêu
chuẩn giúp cho việc điều trị NMN cấp có
nhiều tiến bộ đầy hứa hẹn17,18,19,20.
Tại nước
ta, trong t́nh h́nh các cơ sở điều trị chưa
có đủ điều kiện áp dụng rộng răi
phẩu thuật bóc tách động mạch cảnh cũng
như thuốc tan huyết khối trong điều trị
NMN nên phương pháp sử dụng thuốc kháng đông
hiện nay vẫn được xem như là phương
pháp hữu hiệu, dễ sử dụng. Qua thử
nghiệm lâm sàng có phân nhóm
ngẫu nhiên và mù đơn này, chúng tôi
áp dụng thuốc kháng đông loại heparin TLPTT
trong điều trị NMN cấp nhằm đánh giá tính
an toàn và hiệu quả của phương pháp điều
trị này trong việc giảm tỷ lệ tử vong và
giảm tỷ lệ không tự chăm sóc
sau sáu tháng mắc bệnh.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU :
Là một
thử nghiệm lâm sàng,ngẫu nhiên,mù đơn.
Đối tượng nghiên cưú:
các BN NMN cấp do huyết khối hoặc do thuyên tắc
mạch nhập viện trong ṿng
48 giờ sau khởi bệnh. Không đưa vào
nghiên cứu nếu BN có bất kỳ một trong các
điều kiện sau: hơn 80 tuổi; có h́nh ảnh
xuất huyết năo hoặc NMN
diện rộng trên phim chụp cắt lớp điện
toán (CCLĐT) ; cao
huyết áp không kiểm soát đựơc (HA tâm thu hơn
180 mmHg hoặc HA tâm trương hơn 120 mmHg); viêm nội
tâm mạc cấp; đang điều trị thuốc kháng
đông; vừa mới phẫu thuật hoặc có chảy
máu ở bất kỳ vị trí nào trong cơ thể;
tiền căn dị ứng hoặc có phản ứng
phụ với heparin; số luợng tiểu cầu
<150.000/ mL; có các xét nghiệm đông máu (PT, aPTT) bất
thường. Các BN NMN cấp với tất cả mức
độ nặng nhẹ đều đựơc
đưa vào nghiên cứu ngoại trừ ø những BN mà
tử vong xem như chắc chắn xảy ra.
Tiến hành
nghiên cứu
Đối tượng
nghiên cứu được thành hai nhóm chứng và nhóm
điều trị. Việc lựa chọn nhóm chứng và
nhóm điều trị được thực hiện theo
phương pháp phân nhóm ngẫu nhiên.
Phương pháp điều trị
Đối với nhóm chứng:
Bệnh nhân NMN
cấp nhập viện trong ṿng 48 giờ sau khởi
bệnh được điều trị theo phương
pháp kinh điển : chống phù năo (nếu có )với
Mannitol, oxy liệu pháp, hạ huyết áp nếu quá cao,
sinh tố B,C, dinh dưỡng, vận động liệu
pháp.
Đối với nhóm điều
trị:
Song song với
liệu pháp kinh điển, BN được điều
trị với Nadroparin Calcium (Fraxiparine, Sanofi-Winthrop, Gentilly,
France) . Liều Nadroparin Calcium : 0,4 ml dung dịch có 4.100 IU
Nadroparin tiêm dưới da mỗi 12 giờ.
Cả hai nhóm chứng và nhóm
điều trị :
Được
uống aspirin 100 mg/ngày tính từ ngày điều trị
thứ 11 đến tháng thứ 6 khi không có chống
chỉ định.
Các đánh giá
căn bản và xếp phân nhóm ( subtypes ) NMN
Các
đánh giá căn bản: tuổi, giới tính, tiền
sử bệnh ( cao huyết áp, tiểu đường, cơn
đau thắt ngực hoặc nhồi máu
cơ tim, NMN hoặc cơn thoáng thiếu máu năo trước
đó, hút thuốc lá , thời gian từ lúc khởi
bệnh đến lúc được điều trị,
huyết áp và các dữ kiện lâm sàng khác dùng chẩn
đoán phân nhóm của NMN21, có căn nguyên NMN do thuyên
tắc từ tim không.
Hệ thống phân nhóm NMN 21
: ( trước khi phân nhóm đă xác định
chỉ những BN có tổn thương hệ vận
động mới đưa vào nghiên cứu ). Các phân
nhóm NMN gồm: Nhồi máu toàn bộ tuần hoàn trước
năo là một NMN có : (1) rối loạn chức năng cao
cấp của năo ( rối loạn ngôn ngữ hay rối
loạn thị giác không gian), (2) bán manh đồng danh và
(3) tổn thương vận động một bên thân
tại ít nhất hai trong ba vùng: mặt, tay và chân. Nếu
có rối loạn tri giác không thể khám chức năng
cao cấp của năo hoặc thị trường th́ xem như
có tổn thương toàn bộ. Nhồi máu một
phần tuần hoàn trước năo là một NMN có hai
trong ba tiêu chuẩn
của nhồi máu toàn bộ tuần hoàn trước năo
hoặc tổn thuơng vận động một bên thân
tại một trong ba vùng mặt, tay, chân. Nhồi máu
dạng lỗ khuyết là dạng tổn thương vâïn
động một bên thân tại ít nhất hai trong ba vùng
mặt, tay, chân mà không có rối loạn tri giác. BN bị
rối loạn tri giác coi như không bị NMN dạng
lỗ khuyết nhưng có thể bị nhồi máu
tại vùng tuần hoàn trước toàn phần hoặc
một phần. Nhồi máu tuần hoàn sau năo là một NMN có tổn thương vận động
một bên thân hoặc tứ chi có kèm dấu hiệu
tổn thương thân năo hoặc tiểu năo.
Các khảo sát
cận lâm sàng như điện tâm đồ, Doppler
mạch, siêu âm tim và X-quang lồng ngực giúp chẩn
đoán căn nguyên thuyên tắc mạch năo trên BN bị
rung nhĩ, các tổn thương xơ vữa-hẹp
mạch máu năo và xơ vữa cung ĐM chủ. Các NMN
dạng lỗ khuyết được xem như có tổn
thương tại các mạch máu năo nhỏ.
Theo dơi trong
thời gian nằm viện
-Lâm sàng :
tiến triển của các dấu thần kinh định
vị, tri giác, các dấu hiệu thần kinh mới
xuất hiện, các biến chứng .
-Cận lâm sàng
: thời gian prothrombin( PT), thời gian cephalin-kaolin (aPTT),
chụp cắt lớp điện toán năo hoặc cộng
hưởng từ, số lượng tiểu cầu (làm
lần thứ nhất vào ngày đầu nhập viện và
lần thứ hai sau 10 ngày điều trị)
Đánh giá
kết quả
Kết quả
khảo sát được đánh giá vào ngày đầu và
sau 10 ngày nhập viện, vào tháng thứ ba và thứ sáu
sau khi xuất viện.
T́nh trạng
tổn thương thần kinh trong thời gian điều
trị tại bệnh viện được tính theo Thang
điểm đột quỵ năo vùng Scandinavia (Scandinavian
Neurological Stroke Scale -SNSS)22. Đánh giá sự hồi
phục chức năng hoạt động trong ngày
bằng chỉ số Barthel.
Kết quả
khảo sát được xem là xấu khi BN chết trong
thời gian nhập viện hay trong thời gian sáu tháng sau
xuất viện hoặc khi BN mất khả năng tự
chăm sóc ( chỉ số Barthel ( 8023 ) được đánh
giá vào tháng thứ 3 và tháng thứ 6 sau xuất viện.
Phân tích
thống kê
Chúng tôi dùng
số trung b́nh, độ lệch chuẩn, các phép
kiểm T, kiểm Z, chi b́nh phương một độ
tự do, chi b́nh phương có hiệu chỉnh Yates để
tính toán với khoảng tin cậy 95% ( ( = 0,05)
KẾT QUẢ
Từ tháng 05/1998
đến tháng 1/2002 đă khảo sát và theo dơi được
131 BN . Các BN này được phân nhóm ngẫu nhiên thành
nhóm điều trị với nadroparin (n = 64) và nhóm
chứng (n = 67). Giữa các nhóm này không thấy sự khác
biệt có ư nghĩa (P> 0,05) về các đặc điểm
cơ bản : tuổi, giới tính, điểm số SNSS,
tiền sử bệnh, tiền căn hút thuốc, phân nhóm
đột quỵ, thời gian từ lúc khởi phát đột
quỵ đến lúc điều trị, huyết áp. (
Bảng 1)
BẢNG 1 : Đặc điểm cơ
bản của BN khảo sát theo nhóm điều trị #
| Đặc
điểm cơ bản
|
Nadroparin
(
n = 64 )
|
Nhóm
chứng
( n = 67 )
|
| Tuổi
( TB ( ĐLC, năm )
|
61,84
±
1,38
|
63,78
±
1,32
|
| Giới
tính ( nam/ nữ )
|
36
/ 28
|
38
/ 29
|
| Điểm
số theo SNSS (TB ( ĐLC)
|
28,22
±
1,29
|
27,06
±
1,43
|
| Tiền
sử bệnh ( số BN )
|
|
|
|
+ Tăng huyết áp
|
47
|
49
|
|
+ Đái tháo đường
|
7
|
8
|
|
+ Đau thắt ngực hoặc nhồi máu cơ
tim
|
6
|
5
|
|
+ Cơn thoáng thiếu máu năo hoặc đột
quỵ năo
|
11
|
12
|
| Phân
nhóm theo căn nguyên
+ Thuyên tắc mạch xuất phát từ tim (RN
+/- huyết khối
trong tim )
+ Xơ vữa-hẹp ĐM cảnh trong
+ Xơ vữa cung ĐM chủ
+ Bệnh mạch máu nhỏ
+ Chưa rơ căn nguyên
|
10
15
6
8
24
|
9
16
8
9
24
|
| Huyết
áp ( TB ( ĐLC, mmHg)
|
|
|
|
+ Tâm thu
|
153,36
±
3,52
|
154,18
±
3,44
|
|
+ Tâm trương
|
86,72
±
1,32
|
85,54
±
1,08
|
|
|
|
|
| TB
: Số trung b́nh, ĐLC : Độ lệch chuẩn,
BN : bệnh nhân, SNSS: Thang điểm đột
quỵ vùng Scandinavia,LS : lâm sàng, HAH : h́nh ảnh
học
#
: P>0,05
|
Kết
quả sau 10 ngày điều trị
Trong thời gian
10 ngày điều trị có 6 BN (4,58%) chết
và 15 BN có biến chứng. Nguyên nhân gây tử vong và
phân loại biến chứng thể hiện trong bảng 2.
Số BN chết ở nhóm điều trị TKĐ là 3/
64 trường hợp (4,69%) so với 3/ 67 trường
hợp (4,48%) chết ở nhóm chứng . Biến chứng
ở nhóm dùng TKĐ là 7/ 64 trường hợp (10,93%) so
với nhóm chứng là 8/ 67 trường hợp (11,94%). Không
thấy có sự khác biệt có ư nghĩa thống kê
giữa hai nhóm BN về tử vong (P=0,95) hoặc biến
chứng (P=0,82]
Kết quả sau 3 tháng
Vào cuối tháng
thứ 3 sau phân nhóm có 2 BN không tái khám ( 1 thuộc nhóm
điều trị và 1 thuộc nhóm chứng do đổi
địa chỉ nên mất dấu ). Tử vong ở hai
nhóm là 17 (13,17%) , kết quả xấu là 31/ 63 trường
hợp của nhóm điều trị và 44/ 66
trường hợp trong nhóm chứng . Nguyên nhân
tử vong và t́nh trạng chức năng của 129 BN
được thể hiện tại bảng 3. Nguy cơ
bị kết quả xấu ở nhóm điều trị là
0,74 lần so với nhóm chứng (RR-risk ratio=0,74 với
P<0,05). Sự giảm nguy cơ này nằm trong giới
hạn 0,55-0,99 ( P=0,05) tương
ứng với giảm 17% nguy cơ chết và không tự
chăm sóc ở nhóm dùng TKĐ (độ chênh lệch
của nguy cơ- Risk Difference= -0,17). Như vậy sau 3 tháng
heparin TLPTT đă có hiệu quả trong việc giảm có
ư nghĩa (P<0,05) tỷ lệ tử vong và tỷ lệ
không tự chăm sóc của BN bị NMNC.
BẢNG 2 : Kết quả sau 10 ngày
điều trị : số tử vong, đánh giá lâm sàng
thần kinh theo SNSS và kết quả xét nghiệm cận lâm
sàng
|
|
Nadroparin
(
n = 64 )
|
Nhóm
chứng
(
n = 67 )
|
|
Chết
+ Do đột quỵ
+ Do NMCT
+ Tổng
Biến
chứng
Biến chứng sớm
làm
ngưng
dùng
thuốc *
|
2
1
3
3
|
3
0
3
2
|
|
+ XH tiêu hóa nhẹ
+ Bầm máu tại chỗ tiêm
+ XH trong ổ nhồi máu
Biến chứng sau 10 ngày
trị liệu
+ XH tiêu hóa nhẹ
+ XH trong ổ nhồi máu
+ NMN tái phát
Tổng
|
1
1
1
4
1
1
2
7
|
1
0
1
6
1
2
3
8
|
|
Điểm số theo SNSS ( TB (
ĐLC )
|
39,08
±
1,59
|
37,02
±
1,70
|
|
Tiểu cầu ( TB ( ĐLC / mm3)
|
|
|
|
+ Trước khi điều trị
|
244.390,63
±
8.681,
29
|
245.731,34
±
8.838,56
|
|
+ Sau 10 ngày điều trị
PT (TB ( ĐLC, %)
+ Trước khi điều trị
+ Sau 10 ngày điều trị
|
242.688,52
±
7.945,77
90,61
±
1,60
90,18
±
1,40
|
244.078,13
±
8.313,79
91,67
±
1,26
91,58
±
1,21
|
|
aPTT ( TB ( ĐLC, giây)
|
|
|
|
+ Trước khi điều trị
|
32,73
±
0,43
|
32,99
±
0,35
|
|
+ Sau 10 ngày điều trị
|
32,57
±
0,33
|
33,32
±
0,24
|
|
TB
: Số trung b́nh, ĐLC : Độ lệch chuẩn, KĐ
: kháng đông,XH : xuất huyết, TQ: thời gian
prothrombine, TCK : thời gian cephalin-kaolin
*
Ngưng sử dụng thuốc kháng đông
|
BẢNG
3 : Kết quả điều trị: tử vong và t́nh
trạng chức năng theo nhóm điều trị
|
|
Nadroparin
(
n = 63 )
|
Nhóm
chứng
(
n =66 )
|
| Kết
quả sau 3 tháng
|
|
|
|
- Chết ( số BN )
|
7
|
10
|
|
+ Trong 10 ngày điều trị
|
3
|
3
|
|
+ Liên quan tai biến nguyên phát
|
3
|
2
|
|
+ Tai biến tái phát
|
1
|
5
|
|
- Sống ( số BN )
|
|
|
|
+ Có khả năng tự chăm sóc
·
Hồi phục hoàn toàn
·
Hồi phục không hoàn toàn
|
32
14
18
|
22
8
14
|
|
+ Không khả năng tự chăm sóc
|
24
|
34
|
|
- Kết quả xấu *
|
31
|
44
|
| Kết
quả sau 6 tháng
|
|
|
| -
Chết ( số BN )
|
8
|
12
|
|
+ Trong 3 tháng đầu
|
7
|
10
|
|
+ Liên quan tai biến nguyên phát
|
1
|
1
|
|
+ Tai biến tái phát
|
0
|
1
|
| -
Sống ( số BN )
|
|
|
|
+ Có khả năng tự chăm sóc
·
Hồi phục hoàn toàn
·
Hồi phục không hoàn toàn
+ Không khả năng tự chăm sóc
|
37
20
17
18
|
23
12
11
31
|
| -
Kết quả xấu **
|
26
|
43
|
| TB:
trung b́nh, ĐLC : Độ lệch chuẩn, BN :
bệnh nhân
* Gồm số chết +
số không tự chăm sóc ; (2 = 4 ; P< 0,05
**
X2=7,33 ; P
< 0,01
|
Kết quả sau 6 tháng
Vào cuối tháng
thứ 6 sau chia nhóm có 20 BN chết trên tổng số 129
BN( 15,50%)( 2 BN vẫn không t́m được địa
chỉ ). Nguyên nhân tử vong và t́nh trạng chức năng
thần kinh được thể hiện tại bảng
3. Kết quả xấu ở nhóm điều trị KĐ
là 26 BN (41,27%) và ở nhóm chứng là 43 BN (65%). Nguy cơ
bị kết quả xấu ở nhóm dùng TKĐ chỉ là
0,63 lần so với nhóm chứng (RR= 0,63). Kết quả này
đáng tin cậy với P< 0,01. Sự giảm nguy cơ
này nằm trong giới hạn từ 0,45 đến 0,88
(P=0,05) tương ứng với giảm 23,88% nguy cơ
chết và không tự chăm sóc trên nhóm BN dùng TKĐ (
RD= - 23,88%). Như vậy heparin TLPTT đă có hiệu
quả làm giảm tỷ lệ tử vong và tỷ lệ
không tự chăm sóc có ư nghĩa (P <0,01) sau 6 tháng (H́nh 1). Khi
đưa 2 BN không theo dơi được do mất dấu
và giả sử cả hai đều có kết quả
xấu th́ giá trị của P vẫn <0,01.
BẢNG 4 : Kết quả
xấu (tử vong và mất khả năng tự chăm sóc)
theo phân nhóm căn nguyên
|
Phân nhóm theo căn nguyên
|
Nadroparin
(n=
63)
|
Chứng
(n=
66)
|
|
Thuyên
tắc năo từ tim *
Xơ
vữa-hẹp ĐM cảnh trongï **
Xơ
vữa cung ĐM chủ ***
Bệnh
mạch máu nho û
Chưa rơ căn
nguyên
|
(kết
quả xấu/ số BN)
2/
10
6/
15
1/
6
8/
8
9/
24
|
7/
9
13/
16
7/
8
8/
9
8/
24
|
| Tổng
|
26/
63
|
43/
66
|
*
RR=0,26 ; Yates = 4,24 ; P< 0,05
**
RR=0,5 ; Yates=
3,95 ; P< 0,05
***RR=0,19
; Yates= 4,42 ; P< 0,05
Phân tích kết
quả sau 6 tháng trên các phân nhóm theo căn nguyên ( bảng
4 ) cho thấy có sự giảm nguy cơ kết quả
xấu ở các nhóm thuyên tắc năo từ tim, xơ
vữa-hẹp ĐM cảnh trong và xơ vữa cung ĐM
chủ có dùng TKĐ so
với nhóm chứng ( lần lượt RR là 0,26 ; 0,5 và
0,19 ). Các kết quả này đáng tin cậy ( P< 0,05).
Ở các phân nhóm khác (bệnh mạch máu nhỏ, chưa
rơ căn nguyên ) không thấy sự khác biệt có ư nghĩa về
kết quả xấu giữa nhóm dùng TKĐ và nhóm
chứng (P> 0,05).
BÀN
LUẬN
Heparin là
chất kháng đông được sử dụng khá lâu
để điều trị NMN nhưng vẫn không
thiếu tranh luận
về hiệu quả và tính an toàn của thuốc,
nhất là các biến chứng xuất huyết và giảm
tiểu cầu.V́ thế nhiều khuyến cáo nên dùng
heparin để điều trị NMN do thuyên tắc
mạch có nguồn gốc từ tim24 và trên BN bị rung
nhĩ25,26 và NMN đang tiến triển27,28 tuy rằng
một số tác giả vẩn chỉ định heparin
nhằm ngăn ngừa thuyên tắc mạch năo tái phát và
hạn chế tổn thương tắc mạch năo lan
tỏa hơn6,29,30.
Gần đây cùng
với việc ứng dụng chụp cắt lớp điện
toán và cộng hưởng từ năo để có chẩn
đoán NMN sớm, chính xác và tạo thuận lợi cho công
tác theo dơi, việc sử dụng liệu pháp KĐ
sớm cho thấy có kết quả
tốt, ít biến chứng xuất huyết 29. Đặc
biệt với heparin TLPTT nhờ có cấu trúc phân tử
ngắn ít gây giảm tiểu cầu, không làm kéo dài
thời gian đông máu nên so với heparin chuẩn ít gây
biến chứng xuất huyết hơn31. Một số tác
giả cho rằng heparin TLPTT làm giảm khối lượng
mô năo bị nhồi máu do giới hạn sự phát
triển của huyết khối tại vùng thiếu máu năo
“tranh tối, tranh sáng” (ischemic penumbra) quanh ổ nhồi
máu bằng cách tăng cường tuần hoàn
phụ18,32, giúp ngăn ngừa biến chứng tắc tĩnh
mạch sâu và nhồi máu phổi trên BN NMN33-35
và ngăn ngừa tái phát NMN sớm32,36. Ngoài ra, Jonas
và cs qua thực nghiệm trên tế bào năo cho rằng
heparin TLPTT c̣n có tác dụng trực tiếp bảo vệ
tế bào năo chống lại các tổn thương gây nên
do thiếu máu năo thông qua cơ chế ngăn phóng thích
calci nội bào do ức chế các thụ thể IP3
(inositol-1,4,5-triphosphate)37.
Kết quả
của khảo sát này cho thấy heparin TLPTT có ích lợi
trong việc làm giảm nguy cơ tử vong
và tàn tật sau nhồi máu năo. Tại thời điểm
3 tháng có sự giảm 17% nguy cơ bị kết quả
xấu ( chết hoặc tàn tật không tự chăm sóc
) ở nhóm dùng heparin TLPTT so
với nhóm chứng. Chúng tôi cho rằng nguyên nhân chính
của kết quả này là do nhóm chứng có nhiều trường
hợp tái phát NMN hơn ( 5 ở nhóm chứng so với 1
ở nhóm dùng TKĐ ) nên số tử vong cao hơn. Trên cơ
sở đó chúng tôi thử không đưa biến số
tái phát khi xét kết quả sau 3 tháng th́ thấy không có
khác biệt có ư nghĩa thống kê về kết quả
giữa hai nhóm BN ((2 =0,61 với p >0,05). Các nghiên cứu
khác cho thấy nguy cơ tái phát NMN gia tăng 7,9% ở nhóm
BN có xơ vữa mạch trong ṿng 30 ngày sau khởi phát
bệnh (Sacco và cs38) và nguy cơ
này sẽ tăng 26% trong ṿng 2 năm sau lần đột
quỵ đầu tiên nếu BN có hẹp động
mạch cảnh do xơ vữa 39. Chúng tôi ghi nhận
6 trường hợp tái phát NMN ở cả 2 nhóm
đều có bằng chứng của hẹp tắc ĐM
cảnh qua khảo sát siêu âm Doppler. Ngoài ra đă có 2 trong
6 trường hợp tái phát NM này có căn nguyên thuyên
tắc mạch từ tim và cả 2 trường hợp này
đều trong nhóm chứng. Theo nhận xét của Nhóm
nghiên cứu thuyên tắc mạch năo40 th́ tỷ lệ tái
phát NMN sớm ở nhóm không dùng kháng đông là 10%.
Trong khoảng
thời gian giữa 3 và 6 tháng sau điều trị
ở nhóm BN dùng heparin TLPTT có nhiều BN có tiến
triển tốt hơn và ít BN có kết quả xấu hơn
so với nhóm chứng. Kết quả này tương
tự như kết quả ghi nhận của các tác
giả Kay và cs18, Kwiecinski và cs41. Có thể là liệu pháp
heparin TLPTT đă làm giảm khối lượng mô năo
bị nhồi máu do hạn chế sự phát triển
của huyết khối trong vùng thiếu máu năo “tranh
tối, tranh sáng” là vùng c̣n tồn tại đến 48
giờ sau khi bị thiếu máu42 và cũng đă duy tŕ
được lưu lượng máu nuôi tại vùng này18.
Như vậy nhóm có dùng TKĐ đă có thêm nhiều
khả năng hơn trong việc sống và hồi
phục sau đột quỵ.
Khảo sát này
ghi nhận có sự giảm có ư nghĩa tỉ lệ
tử vong và mất khả năng tự chăm sóc trên
những phân nhóm NMN do thuyên tắc mạch từ tim, xơ
vữa-hẹp ĐM cảnh trong, xơ vữa cung ĐM
chủ có dùng kháng đông so với nhóm chứng vào
cuối giai đoạn nghiên cứu. Nghiên cứu IST43 cho
thấy TKĐ có kết quả trong việc làm giảm tái
phát đột quỵ trên những BN NMN do thuyên tắc
mạch từ tim ( tỉ lệ tái phát chỉ là 2,8%
ở BN dùng TKĐ trong khi ở nhóm chứng tỉ lệ
này là 4,9% ; P<0,01). Nghiên cứu Framingham44 cũng cho
thấy tỉ lệ tái phát NMN trong ṿng 30 ngày ở
những BN NMN có rung nhĩ là 16,7% so với 1,7%
trên BN có nhịp xoang và như vậy TKĐ có
khả năng làm giảm tái phát NMN trên BN bị rung nhĩ.
Đối
với các trường hợp xơ vữa ĐM lớn
nghiên cứu TOAST45 ghi nhận tại thời điểm 3
tháng sau NMN, tỉ lệ BN bị xơ vữa ĐM
lớn có dùng TKĐ có kết quả tốt là 68,1% cao hơn
hẳn khi so với nhóm chứng (54,7%) (P= 0,04). Bendixen và
cs46 cũng ghi nhận TKĐ tạo kết quả tốt và
rất tốt có ư nghĩa trên BN có xơ vữa ĐM
lớn, nhất là trên BN bị hẹp ĐM cảnh trong.
T́nh trạng huyết khối ĐM cảnh đoạn ngoài
sọ và ĐM sống có thể là nguồn gây thuyên
tắc mạch cụt ( stump emboli). Đây là yếu tố
gây rối loạn huyết động có thể dẫn
đến tổn thương thiếu máu năo47 và TKĐ có
thể giúp pḥng tránh NMN trong những trường hợp
này. Các trường hợp xơ vữa ĐM chủ
đă được Arenco và cs cho là yếu tố nguy cơ
độc lập của NMN48. BN bị đột quỵ có
mảng xơ vữa ĐM chủ lớn hơn 3,9mm, đặc
biệt nếu mảng di động hoặc kèm huyết
khối th́ nên dùng TKĐ48. Chúng tôi ghi nhận TKĐ không
tạo kết quả tốt ởù nhóm bệnh mạch máu
nhỏ.
Trong thời gian
điều trị tại bệnh viện ghi nhận ở
nhóm dùng TKĐ có 7 trường hợp (10,93%) có biến
chứng trong đó có 5 trường hợp xuất
huyết trong và ngoài sọ nhưng không có trường
hợp nào tử vong trong nhóm có biến chứng này.
Tỷ lệ của chúng tôi không khác mấy khi so
với tỷ lệ biến chứng của các tác giả
khác ( 16,67 % theo Kay và cs18, 12,5% theo Kalafut và cs49 ). Không
thấy khác nhau có ư nghĩa về
các biến chứng giữa hai nhóm dùng TKĐ và nhóm
chứng (P=0,82) .
Trong khảo sát
này, các đặc điểm cơ bản kể cả các
yếu tố nguy cơ ( tăng huyết áp, thuốc lá
…) có phân bố đều ở cả hai nhóm. V́ các BN
không biết ḿnh thuộc nhóm nghiên cứu nào, do sự chăm
sóc trong và sau điều trị và việc ngừa đột
quỵ tái phát là giống nhau ở cả hai nhóm nên
chỉ có hiệu quả điều trị với heparin
TLPTT là cách giải thích duy nhất cho các kết quả
quan sát được. Chúng tôi ghi nhận heparin TLPTT có
hiệu quả rơ trên những BN bị thuyên tắc năo có
nguồn gốc từ tim, bị bệnh lư xơ vữa
–hẹp ĐM năo lớn và bệnh lư xơ vữa cung
ĐM chủ. Các tác giả như Caplan 50, Donnan51 cũng
cho rằng không nên dùng TKĐ cho tất cả các trường
hợp NMN mà chỉ nên dùng cho những BN bị NMN có
tổn thương ĐM lớn trong và ngoài sọ, thuyên
tắc mạch năo từ tim và bệnh lư huyết khối
xoang và tĩnh mạch năo. Việc điều trị
bằng heparin TLPTT có tính an toàn do không làm tăng biến
chứng chuyển dạng xuất huyết năo và biến
chứng khác18,20, thậm chí an toàn ngay cả trên BN viêm
tắc tĩnh mạch năo có kèm xuất huyết 52. Ngoài
ra, những lợi ích khác của heparin TLPTT so với
heparin chuẩn như việc sử dụng đơn
giản hơn v́ dùng liều cố định ( một
đến hai liều tiêm dưới da trong ngày ), có
thể tiên đoán được đáp ứng KĐ
ở liều cố định 53 và tỷ lệ thấp
hơn của giảm tiểu cầu.
KẾT
LUẬN
Heparin TLPTT
dùng trong điều trị các trường hợp
NMN cấp trong ṿng 48 giờ sau khởi phát bệnh có tính
an toàn và hiệu quả trong việc giảm tỷ lệ
tử vong và tỷ lệ không tự chăm sóc
và tăng tỷ lệ tự chăm sóc sau 6 tháng trên
những BN có thuyên tắc năo từ tim, có tổn thương
các động mạch lớn trong và ngoài sọ .
Cần thêm các
nghiên cứu khác để làm rơ hơn nữa vai tṛ của
heparin TLPTT trong điều trị các thể đặc thù
khác của NMN cấp: bóc tách ĐM năo, huyết khối tĩnh
mạch– xoang tĩnh mạch năo, t́nh trạng tăng
đông máu…
TÀI LIỆU THAM
KHẢO
1.
Kay R, Woo J, Kreel L, Wong HY, Teoh R, Nicholls MG. Stroke ubtypes among
Chinese living in Hong Kong:the Shatin Stroke Regi try.Neurology1992;42:985-7.
2.
Bonita R. Epidemiology of stroke. Lancet 1992; 339 : 342-4.
3.
Kaste M. Current therapeutic options for brain ischemia. Neurology 1997;
49 (Suppl 4) : S56 – S59.
4.
Barnett HJM,Eliasziw M,Meldrum HE.Drugs and urgery in the prevention of
ischemic troke.N Engl J Med 1995;332:238-48.
5.
Sherman DG. Advances in stroke management. Neurology 1997; 49 ( suppl 4)
: S1-S2.
6.
Adams HP Jr, Biller J, Wasek P, et al. Use of antithrombotic drugs in the
treatment of acute ischemic stroke: a survey of neurologists in pratice in the
United States. Neurology 1989 Dec; 39: 1631-34.
7.
Lê Văn Thành. Bệnh học thần kinh. Nhà
xuất bản Y Học.TP Hồ chí Minh.1990; trang 144.
8.
Rothrock JF,Hart RG.Antithrombotic therapy in cerebrova cular diease. Ann
Intern Med 1991;115:885-95.
9.
Biller J,Love BB,Gordon DE.Antithrombotic therapy for i chemic
cerebrovascular disease.Semin Neurol
1991;11:353-67.
10.
Hull RD,Raskob GE,Pineo GF,et al.Subcutaneou low-molecular-weight heparin
compared with continuous intravenous heparin in the treatment of proximal-vein
thrombosis.N Engl J Med.
1992;326:975-82.
11.
Leizorovicz A,Simonneau G,Decou u H,Boi el JP.Comparison of efficacy and
safety of low molecular weight heparinsand unfractionated heparin in initial
treatment of deep venous thrombosis:a meta-analysis. BMJ.1994;309:299-304.
12.
Warkentin TE, Levine MN, Hirsh J et al. Heparin-induced thrombocytopenia
in patients treated with low-molecular-weight heparin or unfractionated heparin.
N Engl J Med 1995;332:1330-5.
13.
Nurmohamed MT. Low molecular weight heparin(oids) .Clinical
investigations and practical recommendations. Drugs 1997 May; 53(5): 736-51.
14.
Handeland GF, Abildgaard U, Holm HA, Arnesen K-E. Dose adjusted heparin
treatment of deep venous thrombosis:a comparison of unfractionated and low
molecular weight heparin. Eur J Clin
Pharmacol 1990;39: 107-112.
15.
Valentine KA, Hull RD, Pineo GF. Low molecular weight heparin therapy and
mortality. Semin Thromb Hemost 1997; 23(2): 173-8.
16.
Hirsh J,Levine MN.Low molecular weight heparin.Blood 1992;79:1-17.
17.
Bloom JM. Low – molecular-weight heparin for the treatment of
acute ischemic stroke. N Engl J Med 1996; 334 : 1407
18.
Kay R, Wang KS, et al. LMWH for the treatment of acute ischemic stroke. N
Engl. J Med .1995 Dec 14; 333(24):1588-93.
19.
Albers GW, Easton JD, Sacco RL, Teal P. Antithrombotic and thrombolytic
therapy for ischemic stroke. Chest.
1998;114:683S– 698S.
20.
Bath PMW, Iddenden R, Bath FJ. Low-molecular-weight heparins and
heparinoids in acute ischemic stroke: a meta-analysis of randomized controlled
trials. Stroke. 2000;13:1770 –1778.
21.
Bamford J,Sandercock P,Dennis M,Burn J,Warlow C.Classification and
natural history of clinically identfiable subtypes of cerebral infarction. Lancet.1991;337:1521-6.
22.
Scandinavian Stroke Study Group. Multicenter trial of hemodilution in
ischemic stroke: background and study protocol. Stroke
1985;16:885-890
23.
Granger C, Dewis LS, Peters MC, Sherwood C, Barrett J. Stroke
rehabilitation: analysis of repeated Barthel
index
measures. Arch Phys Med Rehabil..
1979;60:14-17.
24.
Cerebral Embolism Study Group.
Immediate anticoagulation of embolic stroke: a randomized trial. Stroke 1983;
14:668 –6761989; 321:501–507
25.
The European Atrial Fibrillation Trial Study Group. Optimal oral
antico-agulation therapy in patients with nonrheumatic atrial fibrillation and
recent cerebral ischemia. N Engl J Med.
1995;333:5–10.
26.
Atrial Fibrillation Investigators. Risk factors for stroke and efficacy
of antithrombotic therapy in atrial fibrillation: analysis of pooled data from
five randomized controlled trials. Arch
Intern Med. 1994;154: 1449–1457.
|