|
|
TÍNH AN TOÀN CỦA HEPARIN TRỌNG LƯỢNG
PHÂN TỬ THẤP TRONG ĐIỀU TRỊ NHỒI MÁU NĂO
CẤP
Đào Tiến Xuân: tính an toàn của heparin trọng lượng phân tử thấp trong điều trị nhồi máu năo cấp. Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh, tập 7, phụ bản của số 1, 2003. Trang 111-116. BS Đào Tiến Xuân, Khoa
Thần kinh BV Đa khoa Kiên Giang. NCS Bộ môn Thần kinh
Trường Đại học Y Dược TP HCM TÓM TẮT
Cơ sở.
Mặc dù thuốc kháng đông đă được
sử dụng có hiệu quả trong một số phân nhóm
đột quỵ năo do thiếu máu nhưng vẫn c̣n
ư kiến chưa thống
nhất về lợi ích
và tác dụng phụ
của thuốc. Heparin trọng lượng phân tử
thấp (TLPTT) với các ưu điểm về dược
lư học so với heparin chuẩn có thể đạt
nhiều hiệu quả hơn , sử dụng đơn
giản và an toàn hơn heparin chuẩn trong điều
trị thiếu máu năo cấp. Phương
pháp.Trong thử nghiệm
lâm sàng, phân nhóm ngẫu nhiên và mù đơn này, heparin
TLPTT được dùng điều trị nhồi máu
năo cấp (NMNC) nhằm đánh giá sự an toàn và
khảo sát các tác dụng phụ của phương pháp
này. Bệnh nhân NMNC trong 48 giờ sau khởi bệnh
được tiêm dưới da Nadroparin 4100 UI hai lần/
ngày cùng các thuốc truyền thống khác (nhóm điều
trị ) hoặc chỉ dùng thuốc truyền thống ( nhóm
chứng ) trong 10 ngày. Ghi nhận kết quả ( tỉ
lệ tử vong, các biến chứng ) ở hai nhóm trong
thời gian nhập
viện . Kết
quả. Qua khảo sát 131
bệnh nhân (64 điều trị, 67 chứng) không có
sự khác nhau có ư nghĩa của tỷ lệ
biến chứng (p =0,82) cũng như tử vong (p =0,95)
ở nhóm điều trị so với nhóm chứng. Các
kết quả này phù hợp với y văn thế
giới. Kết
luận: Với bệnh
nhân NMNC trong ṿng 48 giờ sau khởi bệnh, heparin TLPTT
dễ sử dụng, không cần xét nghiệm theo dơi
phức tạp và có tính an toàn cao, không gây biến
chứng nặng ảnh hưởng đến tiên lượng
của bệnh. The safety of low-molecular-weight heparin
in treatment of acute ischemic stroke. ABSTRACT Background. Despite doubts about their
efficacy and concern about their side effects, anticoagulants have been used
sucessfully to treat some sub-types of acute ischemic stroke.
Low-molecular-weight heparin with its pharmacological benefits may be more
effective and safer than standard ( unfractionated) heparin. Methods. In this randomized clinical trial a
low-molecular-weight heparin was used to treat acute ischemic stroke to evaluate
its safety and side effects of this therapy. Patients were randomly assigned
within 48 hours of the onset of symptoms to receive nadroparin (4100 anti-factor
Xa IU twice daily) and traditional therapy
or only traditional therapy for 10 days. Death and complications of the
two groups during the 10-day treatment period were documented.
Results. Among 131 patients randomized (64
cases treated with nadroparin and 67 controls), there were no significant
differences between the two groups in the complications (p = 0,82) and the
mortality (p =0,95). Conclusions. For patients with ischemic
stroke within 48 hours of the onset of symptoms, low-molecular-weight heparin
was administered easily without the need for laboratory monitoring. It was safe
and did not cause severe complications. MỞ
ĐẦU
Việc sử
dụng thuốc kháng đông (TKĐ) lâu dài đă
được công nhận là có hiệu quả trong
việc pḥng ngừa tái phát của đột quỵ năo
do thiếu máu ở những bệnh nhân (BN) bị rung nhĩ
1,2 cũng như đang được theo đuổi như
một liệu pháp điều trị dự pḥng nhồi
máu năo (NMN) thứ phát trên những nhóm BN thiếu máu năo
khác3,4. Tuy nhiên vẫn c̣n ư kiến chưa thống
nhất về sử dụng TKĐ trong điều trị
NMN do ít nhiều c̣n những băn khoăn cân nhắc
giữa lợi ích và tác dụng phụ của thuốc . Gần đây
so với heparin chuẩn việc sử dụng các heparin có
trọng lượng phân tử thấp (TLPTT) đạt
nhiều ưu thế hơn do heparin TLPTT ít ức chế
chức năng tiểu cầu5 nên ít gây biến
chứng giảm tiểu cầu hơn so với heparin
chuẩn6. Ngoài ra heparin TLPTT do có tính khả dụng sinh
học tốt hơn, thời gian bán hủy dài hơn và
dễ dung nạp hơn7 nên việc sử dụng
đơn giản và an toàn hơn giúp cho việc điều
trị NMN cấp có nhiều tiến bộ đầy
hứa hẹn 8,9,10. Trong thời gian
từ 5/1998 đến 1/2002 tại bệnh viện Chợ
Rẫy và bệnh viện Nhân Dân 115 chúng tôi đă
tiến hành và theo dơi một thử nghiệm lâm sàng
có sử dụng heparin TLPTT trong điều trị NMN
cấp. Báo cáo này nhằm ghi nhận và phân tích tính an toàn
của heparin TLPTT cùng các tác dụng ngoại ư của phương
pháp điều trị này với mục đích góp
phần làm sáng tỏ vai tṛ của TKĐ trong công tác
điều trị bệnh lư này tại nước ta.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên
cứu và thiết kế nghiên cứu
Là một thử
nghiệm lâm sàng phân nhóm ngẫu nhiên, mù đơn. Đối tượng
nghiên cứu ( được chia thành nhóm chứng và nhóm
điều trị bằng phương pháp phân nhóm
ngẫu nhiên ) là các BN NMN cấp được nhập vào
điều trị tại hai bệnh viện (BV Chợ
Rẫy và BV Nhân Dân 115) trong ṿng 48 giờ sau khởi
bệnh. Không đưa vào nghiên
cứu nếu BN có bất kỳ một trong các điều
kiện sau: hơn 80 tuổi; có h́nh ảnh xuất
huyết năo hoặc NMN diện rộng trên phim chụp
cắt lớp điện toán hoặc cộng hưởng
từ; tăng huyết áp (HA) không kiểm soát được
(HA tâm thu hơn 180 mmHg hoặc HA tâm trương hơn 120
mmHg); viêm nội tâm mạc cấp; đang điều
trị thuốc kháng đông; vừa mới phẫu
thuật hoặc có chảy máu ở bất kỳ vị
trí nào trong cơ thể; tiền căn dị ứng
hoặc có phản ứng phụ với heparin, có số lượng
tiểu cầu dưới 150.000/ mL, có các xét nghiệm
đông máu (PT và aPTT) bất thường . Các BN NMN
cấp với tất cả mức độ nặng
nhẹ đều được đưa vào nghiên
cứu trừ những BN
mà tử vong xem như chắc chắn xảy ra. Phương
pháp điều trị
Đối với nhóm chứng: Bệnh nhân NMN
cấp nhập viện trong ṿng 48 giờ sau khởi
bệnh được điều trị theo phương
pháp kinh điển : chống phù năo (nếu có), oxy
liệu pháp, hạ huyết áp nếu quá cao, sinh tố
B,C, dinh dưỡng, vận động liệu pháp. Đối với nhóm điều
trị: Song song với
liệu pháp kinh điển, BN được điều
trị với Nadroparin Calcium (Fraxiparine, Sanofi-Winthrop, Gentilly,
France) với liều 0,4 ml dung dịch Nadroparin Calcium có 4.100
IU Nadroparin tiêm dưới da mỗi 12 giờ. Các đánh giá căn bản và
xếp phân nhóm ( subtypes ) NMN
Các đánh giá căn bản: tuổi, giới tính,
tiền sử bệnh ( tăng huyết áp, tiểu
đường, cơn đau thắt ngực hoặc
nhồi máu cơ tim, NMN hoặc cơn thoáng thiếu máu năo
trước đó, hút thuốc lá, thời gian từ lúc
khởi bệnh đến lúc được điều
trị, huyết áp và các dữ kiện lâm sàng khác dùng
chẩn đoán phụ loại của NMN11 Hệ thống
xếp phân nhóm NMN :
Nhồi máu toàn bộ tuần hoàn trước năo là
một NMN có : (1) rối loạn chức năng cao cấp
của năo ( rối loạn ngôn ngữ hay rối loạn
thị giác không gian), (2) bán manh đồng danh và (3)
tổn thương vận động một bên thân
tại ít nhất hai trong ba vùng: mặt, tay và chân. Nếu
có rối loạn tri giác không thể khám chức năng
cao cấp của năo hoặc thị trường th́ xem như
có tổn thương toàn bộ. Nhồi máu một
phần tuần hoàn trước năo là một NMN có hai
trong ba tiêu chuẩn của nhồi máu toàn bộ
tuần hoàn trước năo hoặc tổn thuơng
vận động một bên thân tại một trong ba vùng
mặt, tay, chân. Nhồi máu dạng lỗ khuyết là
dạng tổn thương vâïn động một bên thân
tại ít nhất hai trong ba vùng mặt, tay, chân mà không có
rối loạn tri giác. BN bị rối loạn tri giác coi
như không bị NMN dạng lỗ khuyết nhưng có
thể bị nhồi máu tại vùng tuần hoàn trước
toàn phần hoặc một phần. Nhồi máu tuần hoàn
sau năo là một NMN có tổn thương vận động
một bên thân hoặc tứ chi có kèm dấu hiệu
tổn thương thân năo hoặc tiểu năo. Theo
dơi trong thời gian nhập viện
-Lâm sàng :
tiến triển của các dấu thần kinh định
vị, tri giác, các dấu hiệu thần kinh mới
xuất hiện, biến chứng xuất huyết trong và
ngoài sọ. -Cận lâm sàng
: thời gian prothrombin( PT), thời gian cephalin-kaolin (aPTT),
chụp cắt lớp điện toán năo hoặc cộng
hưởng từ, số lượng tiểu cầu (làm
lần thứ nhất vào ngày đầu nhập viện và
lần thứ hai sau 10 ngày điều trị)
Đánh
giá kết quả
Kết quả
khảo sát được đánh giá vào ngày đầu và
sau 10 ngày nhập viện, tại thời điểm 3 tháng
và 6 tháng tính từ lúc phân nhóm. ( Kết quả ghi
nhận tại thời điểm 3 và 6 tháng này không
thuộc phạm vi của báo cáo này). Việc đánh
giá t́nh trạng tổn thương thần kinh trong
thời gian điều trị tại bệnh viện
được tính theo Thang điểm đột quỵ năo
vùng Scandinavia (Scandinavian Neurological Stroke Scale -SNSS) 12. Nghiên
cứu cũng xác định căn nguyên gây tử vong
trong ṿng 10 ngày đầu, ghi nhận các biến chứng
làm ngưng sử dụng thuốc hay các biến chứng
xảy ra vào cuối đợt trị liệu.
Phân tích
thống kê
Chúng tôi dùng
số trung b́nh , độ lệch chuẩn , các phép
kiểm T, kiểm Z, chi b́nh phương một độ
tự do để tính toán với khoảng tin cậy 95% (
a
= 0,05) ) KẾT QUẢ
Từ tháng 05/1998
đến tháng 1/2002 đă khảo sát và theo dơi được
131 BN . Các BN này được
phân nhóm ngẫu nhiên thành nhóm điều trị với
Nadroparin (n = 64) và nhóm chứng (n = 67). Giữa các nhóm này
không thấy sự khác biệt có ư nghĩa (P> 0,05)
về các đặc điểm cơ bản : tuổi,
giới tính, điểm số theo Thang điểm đột
quỵ năo vùng Scandinavia, tiền sử bệnh, tiền căn
hút thuốc, phụ nhóm đột quỵ, thời gian
từ lúc khởi phát đột quỵ đến lúc
điều trị, huyết áp. ( Bảng 1) Kết quả sau 10 ngày điều trị Trong thời gian 10
ngày điều trị có 6 BN (4,58%) chết
và 15 BN có biến chứng. Nguyên nhân gây tử vong và
phân loại biến chứng thể hiện trong bảng 2.
Số BN chết ở nhóm điều trị TKĐ là 3/64
trường hợp (4,69%) so với 3/ 67 trường
hợp (4,48%) chết ở nhóm chứng . Biến chứng
ở nhóm dùng TKĐ là 7/ 64 trường hợp (10,93%) so
với nhóm chứng là 8/ 67 trường hợp (11,94%). Không
thấy có sự khác biệt có ư nghĩa thống kê
giữa hai nhóm BN về tử vong (P=0,95) hoặc biến
chứng (P=0,82). BẢNG
1 : Đặc điểm cơ bản của BN khảo sát
theo nhóm điều trị
BẢNG
2 : Kết quả sau 10 ngày điều trị : số
tử vong, đánh giá lâm sàng thần kinh theo SNSS và
kết quả xét nghiệm cận lâm sàng
Trong 5 trường
hợp xuất huyết trong ổ nhồi máu năo ( tỉ
lệ 3,82%) chỉ có 1 trường hợp có triệu
chứng lâm sàng ( trong nhóm điều trị TKĐ) nhưng
không gây tử vong. Không thấy có sự khác biệt có
ư nghĩa giữa hai nhóm BN về tỉ lệ chuyển
dạng xuất huyết năo (P=0,67).
Về kết
quả cận lâm sàng, ở
nhóm BN dùng heparin TLPTT khi so sánh các số liệu trước
và sau khi sử dụng thuốc kháng đông cho thấy không
có khác biệt có ư nghĩa thống kê về số lượng
tiểu cầu (P=0,44), về trị số PT (P=0,98) cũng
như trị số aPTT
(P=0,64). BÀN LUẬN
Qua 64 trường
hợp NMN có sử dụng nadroparin chúng tôi ghi nhận
vấn đề sử dụng TKĐ này rất đơn
giản ( chỉ cần tiêm dưới da, dùng liều
cố định 2 lần mỗi ngày ) không như heparin
chuẩn cần tiêm truyền tĩnh mạch dễ tạo
điều kiện cho viêm nhiễm tại chỗ ( theo
Kalafut và cs13 tỉ lệ viêm tĩnh mạch là 8% trường
hợp sử dụng heprin chuẩn ). Chúng tôi cũng ghi
nhận không có trường hợp nào bị dị
ứng với heparin TLPTT này. Nhiều tác
giả đề xuất không cần theo dơi các xét
nghiệm đông máu khi sử dụng heparin TLPTT14,15 ( thường
là aPTT khi sử dụng
heparin chuẩn ). Tuy
vậy trong khảo sát này chúng tôi vẫn thực hiện
các xét nghiệm đánh giá chức năng đông máu như
PT, aPTT để có số
liệu cơ sở so sánh giữa hai nhóm nghiên cứu. Chúng
tôi ghi nhận không có sự thay đổi có ư nghĩa
về các chỉ số này khi so sánh giá trị các xét
nghiệm này trước và sau khi dùng kháng đông trên cùng
một BN. Ở nhóm 64 BN dùng
TKĐ chúng tôi ghi nhận có 7 trường hợp (10,93 %)
có biến chứng trong đó có 5 trường hợp
xuất huyết trong và ngoài sọ và không có trường
hợp nào tử vong trong nhóm bị biến chứng nàyï.
Ghi nhận của các khảo sát sử dụng heparin TLPTT
khác cho thấy tỉ lệ biến chứng này là 16,67 %
trong nghiên cứu của Kay8 và 12,5% trong nghiên cứu
của Kalafut13. Trong khảo sát của chúng tôi tuy
có 3 trường hợp bị biến chứng
xuất huyết phải ngưng dùng TKĐ sớm hơn
dự định nhưng các trường hợp bị
biến chứng xuất huyết này không có trường
hợp nào bị nặng
thêm về triệu chứng lâm sàng
hoặc xuất huyết nặng cần truyền máu.
Điều cần lưu ư là không thấy có sự gia tăng
có ư nghiă các biến chứng liên quan đến TKĐ so
với nhóm chứng (P=0,82). Bath và cs10 trong một
nghiên cứu phân tích-tổng hợp 10 nghiên cứu sử
dụng heparin TLPTT và heparinoids trong điều trị NMN
đă nhận thấy biến chứng
xuất huyết trong năo ghi nhận qua chụp cắt
lớp điện toán của 2.428 BN là
không liên quan đến việc sử dụng TKĐ
(nguy cơ tương đối gần đúng OR =0,96 ).
Như vậy heparin TLPTT có tính an toàn khi dùng điều
trị NMN như nhiều tác giả ngoài nước đă
ghi nhận . Khảo sát
số lượng tiểu cầu trước và sau sử
dụng nadroparin cho thấy không có một trường
hợp nào giảm tiểu cầu ( khi lượng tiểu
cầu < 150.000 / ml 6) trong số 64 BN dùng heparin TLPTT cũng
như không thấy có sự thay
đổi nào có ư nghĩa thống kê (P=0,44) của lượng
tiểu cầu ghi nhận trước và sau khi dùng TKĐ
trên những BN này. Kalafut và cs cũng ghi nhận không có trường
hợp nào giảm tiểu cầu trong một nghiên cứu
tương tự13. Giảm tiểu cầu là một
biến chứng của việc điều trị bằng
heparin chuẩn đă được công nhận. Đă có
những báo cáo cho thấy tỉ lệ giảm tiểu
cầu dao động trong khoảng từ 1%-26%( thường
gặp nhất là 5%-10%) các trường hợp sử
dụng heparin chuẩn16. Chỉ số mới mắc
(incidence) của t́nh trạng giảm tiểu cầu
giảm nhiều trên BN được chỉ định
heparin TLPTT so với heparin chuẩn6. Do biến chứng
xuất huyết hiếm xảy ra nên heparin TLPTT ngày càng
được sử dụng nhiều hơn tại
nhiều vùng của châu Aâu và Bắc Mỹ14, thậm chí
hai nghiên cứu gần đây17,18 nhận
định hơn một nửa số BN bị huyết
khối tĩnh mạch có thể điều
trị tại nhà một cách an toàn mà không nhất
thiết phải nhập viện. KẾT LUẬN
Khảo sát này
bước đầu ghi nhận những bằng chứng
cho thấy heparin TLPTT có thể sử dụng an toàn trong
điều trị nhồi máu năo cấp do ít gây biến
chứng xuất huyết cùng các đặc tính dễ
sử dụng, không đ̣i hỏi xét nghiệm theo dơi
phức tạp nên phù hợp với thực tế lâm sàng
hiện nay. Cần tiếp tục các nghiên cứu khác
nữa về heparin TLPTT nhằm làm sáng tỏ hiệu
quả của thuốc trên từng phân nhóm của
loại bệnh lư đa dạng này .
TÀI LIỆU THAM
KHẢO
1.
The European Atrial Fibrillation Trial Study Group. Optimal oral
antico-agulation therapy in patients with nonrheumatic atrial fibrillation and
recent cerebral ischemia. N Engl J Med.
1995;333:5–10. 2.
Atrial Fibrillation Investigators. Risk factors for stroke and efficacy
of antithrombotic therapy in atrial fibrillation: analysis of pooled data from
five randomized controlled trials. Arch
Intern Med. 1994;154: 1449–1457. 3.
Kamashta MA, Cuadrado MJ, Mujic F, Taub NA, Hunt BJ, Hughes GRV. The
management of thrombosis in the antiphospholipid-antibody syndrome. N Engl J Med. 1995;332:993–997. 4.
Hart RG. Cardiogenic embolism to the brain: stroke octet. Lancet. 1992; 339:589 –594. 5.
Salzman EW, Rosenberg RD, Smith MH, Lindon JN, Favreau L. Effect of
heparin and heparin fractions on platelet aggregation.J
Clin Invest 1980;65:64-73. 6.
Warkentin TE, Levine MN, Hirsh J et al. Heparin-induced thrombocytopenia
in patients treated with low-molecular-weight heparin or unfractionated heparin.
N Engl J Med 1995;332:1330-5. 7.
Handeland GF, Abildgaard U, Holm HA, Arnesen K-E. Dose adjusted heparin
treatment of deep venous thrombosis:a comparison of unfractionated and low
molecular weight heparin. Eur J Clin
Pharmacol 1990;39: 107-12. 8.
Kay R, Wang KS, et al. LMWH for the treatment of acute ischemic stroke. N
Engl. J Med .1995 Dec 14; 333(24):1588-93. 9.
Albers GW, Easton JD, Sacco RL, Teal P. Antithrombotic and thrombolytic
therapy for ischemic stroke. Chest.
1998;114:683S– 698S. 10.
Bath PMW, Iddenden R, Bath FJ. Low-molecular-weight heparins and
heparinoids in acute ischemic stroke: a meta-analysis of randomized controlled
trials. Stroke. 2000;13:1770 –1778. 11.
Bamford Sandercock, et al. Classification and natural history of
clinically identifiable subtypes of cerebral infarction. Lancet
1991; 337 : 1521 – 26. 12.
Scandinavian Stroke Study Group. Multicenter trial of hemodilution in
ischemic stroke: background and study protocol. Stroke
1985;16:885-890 13.
Kalafut MA, Gandhi R, Kidwell CS, et al. Safety and cost of low molecular
weight heparin as bridging anticoagulant therapy in subacute cerebral ischemia. Stroke.2000;31:2563-2568.
14.
Wood AJJ. Weitz JI.Low molecular weight heparin.
N Engl J Med 1997;337:688-698. 15.
Hirsh J, Levine MN. Low molecular weight heparin. Blood.
1992;79:1-17. 16.
Alving BM, Krishnamurti C. Recognition and management of heparin-induced
thrombocytopenia (HIT) and thrombosis. Semin
Thromb Hemost. 1997;23:569 –574. 17.
Levine M, Gent M, Hirsh J, et al. A comparison of low molecular weight
heparin administered primarily at home with unfractionated heparin administered
in the hospital for proximal deep-vein thrombosis. N
Engl J Med. 1996;334:677-681. 18.
Koopman MMW, Pradoni P, Piovella F, et al. Treatment of venous thrombosis
with intravenous unfractionated heparin administered in the hospital as compared
with subcutaneous low molecular weight heparin administered at home. N
Engl J Med. 1996;334:682-687.
| |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||