THAM KHẢO THẦN KINH HỌC

Hi`nhAnh

Home Up Feedback Contents Search

 

Hi`nhAnh2

H̀NH ẢNH HỌC:cửa sổ nh́n vào năo.

John C. Mazziotta, MD, PhD. Imaging. ARCH NEUROL./VOL. 57, OCT 2000, p1413-1421.

Người dịch: BS Bach Thanh Thủy.

Dựa vào sự tiến bộ nhanh chóng về bản đồ năo và h́nh ảnh học thần kinh, người ta không ngạc nhiên rằng có hàng loạt những kỹ thuật đang và sắp triển khai khi chúng ta bước vào thế kỷ 21. Bài điểm sách tóm tắt này tập trung vào những phương pháp vừa mới được sử dụng trong thực nghiệm lâm sàng hoặc đang được thăm ḍ trong những nghiên cứu và có khả năng sắp sử dụng trong lâm sàng. Một số kỹ thuật bản đồ năo hiện nay cho phép thầy thuốc lâm sàng theo dơi tiến triển của bệnh và theo dơi hiệu quả điều trị trong thực hành lâm sàng hoặc trong các thử nghiệm lâm sàng. Một loạt phương pháp hiện nay có giá trị đối với việc đánh giá những bệnh nhân bị tổn thương ở trong hoặc gần vùng vỏ năo nguy hiểm trước và trong phẫu thuật hoặc đối với những tiêu đích cần thiết khi  những nhân sâu của năo có khả năng phải cắt bỏ để điều trị hoặc kích thích điện sinh lư. Sự phát triển của bản đồ xác suất sẽ sớm cung cấp một phương tiện giúp hiểu biết những thay đổi b́nh thường của cấu trúc và chức năng năo người, nghiên cứu những bệnh về năo, điều trị chúng theo cách khách quan và có thể định lượng. Những kỹ thuật hiện sắp được sử dụng  cho h́nh ảnh học gen, sự hoạt động vàø liên kết của các nơ-ron được tŕnh bày ở giai đoạn phát triển hiện nay của chúng. Rơ ràng rằng bản đồ năo và h́nh ảnh học thần kinh sẽ là phần quan trọng hơn bao giờ hết của khoa học thần kinh lâm  sàng và sau cùng có thể sử dụng chúng như cầu nối giữa phạm vi lâm sàng và phân tử.

Những phương pháp bản đồ năo và những kỹ thuật h́nh ảnh học thần kinh  đă được cải thiện và tiến bộ nhanh chóng trong suốt 100 năm qua. Những phương pháp này đă dẫn đến việc cải thiện chẩn đoán, theo dơi điều trị và cho ta sự hiểu biết sâu sắc về cơ chế cơ bản của những bệnh lư năo. Trước đây chưa bao giờ có nhiều phương pháp có giá trị  để chẩn đoán các bệnh lư nội thần kinh, ngoại thần kinh và bệnh tâm thần như vậy. Trong một bài báo điểm suốt chiều dài này, không thể mô tả chi tiết  các phương pháp này. Trên thực tế, hiện nay đă có nhiều tạp chí và đề tài thú vị và độc giả được tham khảo chúng để thảo luận kỹ lưỡng hơn về chủ đề chung bản đồ năo. Trong bài báo này, tôi sẽ tập trung vào những kỹ thuật nổi bật hoặc được đánh giá là mới mà là những phương pháp đă có hiện nay để đánh giá những bệnh nhân bị bệnh năo. Một số phương pháp hiện đang được sử dụng, một số đang được thử nghiệm và một số ít khác  chỉ mới bắt đầu nổi bật lên. Khả năng sử dụng chúng trong ngành khoa học thần kinh lâm sàng sẽ phản ánh suy đoán lạc quan của chính tôi. Kỹ thuật bản đồ năo được sử dụng trong theo dơi tiến triển và điều trị bệnh, sử dụng trong tiền phẫu và trong phẫu thuật để đánh giá phẫu thuật, xác định tập bản đồ xác suất trong nghiên cứu những bệnh về năo và sử dụng chúng trong những thử nghiệm thực nghiệm và cuối cùng bao gồm h́nh ảnh gen, sự hoạt động và liên kết của các nơ-ron. Sự thật là người ta có thể dự tính một danh sách gồm rất nhiều vấn đề lâm sàng quan trọng cần sử dụng phương pháp bản đồ năo, danh sách này là bằng chứng cho sự phát triển và khả năng trong tương lai của lĩnh vực này.

Ưu điểm và giới hạn của các KT bản đồ năo hiện nay, ứng dụng và phạm vi hoạt động

Phương pháp

Khả năng đánh giá.

Bệnh lư

Ưu điểm

Giới hạn

CT

Cấu trúc năo, t́nh trạng nguyên vẹn của hàng rào máu năo

Xuất huyết cấp và măn, chấn thương cấp, HA chung về giải phẫu, teo năo cục bộ hoặc toàn thể, năo nước.

H́nh ảnh xương rơ nét, phát hiện xuất huyết ( 100%, thời gian chụp ngắn, có thể chụp cho BN có gắn máy móc và những thiết bị kim loại hoặc điện.

Phát xạ ion hóa,  độ phân giải tương phản kém.

MRI

Cấu trúc năo, hệ mạch cổ và năo, t́nh trạng tưới máu năo, nồng độ hóa chất, bó sợi, t́nh trạng nguyên vẹn của hàng rào máu năo.

Nhồi máu cấp, khối tân sinh, bệnh hủy myelin, ổ động kinh, các bệnh thoái hóa, nhiễm trùng, bản đồ tiền phẫu.

Sự phân giải không gian cao, không phát xạ ion, tương phản chất trắng và xám cao, không có h́nh nhiễu do xương ở hố sau, có thể chụp h́nh ảnh về hóa học, chức năng và mạch máu.

Thời gian chụp dài, bệnh nhân có thể mắc chứng sợ bị giam giữ, chống CĐ nếu gắn thiết bị điện, XH cấp không chắc chắn, chỉ đo đạc tương đối.

PET (PP chụp cắt lớp phát xạ  positron

T́nh trạng tưới máu năo, chuyển hóa, bài tiết chất nền, tổng hợp protein, t́nh trạng nguyên vẹn của chất dẫn truyền TK và hàng rào máu năo, gắn kết TCT.

T́nh trạng thiếu máu, bệnh thoái hóa, động kinh, rối loạn vận động, bệnh lư về cảm xúc, khối tân sinh, t́nh trạng nghiện, bản đồ tiền phẫu

Có thể thực hiện h́nh ảnh về huyết động học, hóa học và chức năng, kết quả có thể địng lượng, có thể xác định những thay đổi thuần túy về sinh lư, phân giải không gian đồng dạng.

Phatù xạ ion, giá khởi đầu cao, thời gian biến đổi tạo chất mới dài, đánh giá bị giới hạn, phân giải theo thời gian chậm.

Chụp cắt lớp phát tia photon đơn

T́nh trạng tưới máu năo, t́nh trạng nguyên vẹn của chất dẫn truyền TK và của hàng rào máu năo, chất gắn TCT.

T́nh trạng thiếu máu, các bệnh lư thoái hóa, động kinh, các rối loạn vận động.

Có thể thực hiện h́nh ảnh chức năng, hóa học và huyết động, có thể dùng rộng răi.

Phát xạ ion hóa, đo đạc chỉ tương đối, phân giải không gian không đồng dạng, phân giải theo thời gian  chậm.


Phương pháp

Khả năng đánh giá.

Bệnh lư

Ưu điểm

Giới hạn

Chụp cắt lớp tăng cường xenon

T́nh trạng tưới máu năo

T́nh trạng thiếu máu

Sử dụng trang bị hiện nay.

Phát xạ ion hóa, tập trung xenon cao có tác dụng dược lư.

Chụp MM CT xoắn ốc

Giải phẫu MM và xương.

Bệnh nghẽn mạch, ph́nh mạch, thông động tĩnh mạch, dị dạng.

Cung cấp h́nh ảnh mạch máu phân giải cao.

Phát xạ ion hóa, chỉ thấy giải phẫu xương và MM

Ghi điện năo

Điện sinh lư

Động kinh, bệnh năo,  bệnh thoái hóa, bản đồ tiền phẫu.

Không phát xạ ion, độ phân giải về thời gian cao, có thể phát hiện ổ động kinh

Độ phân giải không gian thấp, thiên về đo đạc bề mặt

PP từ năo

Điện sinh lư

Động kinh

Không phát xạ ion, độ phân giải về thời gian cao, có thể phát hiện ổ động kinh

Độ phân giải không gian thấp

Kích thích từ trường xuyên sọ

Sự hoạt động cục bộ của năo

Bản đồ tiền phẫu

Không phát xạ ion, có khả năng điều trị, có thể liên kết với các PP h́nh ảnh khác (PET, fMRI)

Độ phân giải không gian thấp, có thể gây động kinh ở một số BN.

H́nh ảnh tín hiệu bản chất quang

Đo đạc thống nhất thể tích máu, chuyển hóa và phù tế bào

Bản đồ trong phẫu thuật

Không phát xạ ion, phân giải thời gian và không gian cao.

Nguồn tín hiệu phức tạp, PP xâm lấn (trong phẫu thuật).

TỔNG QUAN

Điều quan trọng phải chú ư rằng các PP h́nh ảnh học riêng biệt  chỉ đặc thù trên một khía cạnh hoặc tốt nhất với một vài khía cạnh về sinh lư và sinh lư bệnh của năo. Ví dụ, kỹ thuật sinh lư điện từ như là điện năo (ECG) khảo sát các điện thế liên quan, từ trường năo cung cấp thông tin về những nhóm nơ-ron lớn  và những vector điện từ sinh lư do chúng sinh ra khi hoạt động. Những PP này có độ phân giải thời gian cao, nhưng phân giải không gian thấp và khu trú không chính xác. Những kỹ thuật khác  được dành cho việc khám nghiệm đặc biệt cấu trúc năo bao gồm CT, MRI qui ước, h́nh ảnh mạch máu với chụp mạch qui ước, chụp mạch cộng hưởng từ hoặc CT xoắn ốc. Nhóm thứ ba đánh giá đáp ứng huyết động như là một tiêu chuẩn đo chức năng của năo. Những kỹù thuật của nhóm này bao gồm chụp cắt lớp vi tính tăng cường xenon (xenon-enhanced CT), MRI chức năng (function MRI) và những PP đo thể tích và ḍng máu năo như PET hoặc SPECT. Các PP này cho thấy sự hoạt động của các nơ-ron có liên hệ chặt chẽ với việc tăng hoặc giảm ḍng máu. Điều này h́nh như hợp lư trong t́nh trạng năo b́nh thường nhưng không phải luôn luôn đúng trong t́nh trạng bệnh lư. Những PP xác định quá tŕnh hóa học của năo chủ yếu rơi vào lĩnh vực phổ cộng hưởng từ và PET. PET có thể đo chuyển hóa glucoza, tổng hợp protein, hấp thu axit amin, độ pH, và các thay đổi khác bằng cách định lượng kết quả với những đơn vị thích hợp. PP phổ cộng hưởng từ cung cấp những số liệu tương đối của những hợp chất hóa học có nguồn gốc đặc thù từ phổ proton của nguyên tử hydro, nhưng với cường độ từ cao hơn nó cũng có thể đánh giá định lượng tương đối các đồng vị từ có chứa các phân tử natri, flo, carbon và phosphat. H́nh ảnh của các hệ thống thụ cảm thể, cả các phân tử dẫn truyền thần kinh và phức hợp thụ cảm thể là một lĩnh vực nghiên cứu của PET và SPECT ở cả người bệnh và người khỏe mạnh. Phần lớn thông tin được nghiên cứu trên hệ thống dopaminergic, nhưng cũng có thể trên những hệ thống benzodiazepin, opioid, seretonergic, cholinergic.

Hơn nữa, có khuynh hướng tác động lẫn nhau. Ưa chuộng nhất dĩ nhiên làø quan sát trực tiếp những dấu hiệu và triệu chứng ở những bệnh nhân bị bệnh năo, điều này luôn luôn là mở đầu cần thiết cho một vài đánh giá h́nh ảnh học của bệnh nhân. Một khuynh hướng xâm lấn nhưng thường được sử dụng là trường hợp những bệnh nhân thức tỉnh sau gây mê trong quá tŕnh phẫu thuật , ghi hoặc kích thích mô năo kết quả tương ứng với t́nh trạng hành vi ở những bệnh nhân tỉnh táo. Mới đây những PP như vậy đă được phát triển qua việc sử dụng h́nh ảnh với tín hiệu bản chất quang học mà trong đó những thay đổi của hệ số phản xạ quang học từ vỏ năo được đo trong lúc kích thích khi phẫu thuật.. Việc đo đạc có thể làm khi bệnh nhân thức tỉnh hoặc khi được gây mê với những kích thích cảm giác. Tín hiệäu bản chất quang học cung cấp các thông số chức năng của những vùng năo khác nhau trong lĩnh vữc phẫu thuật.

Cuối cùng, kỹ thuật kích thích từ trường xuyên sọ (transcranial magnetic stimulation-TMS) cho phép các nhà nghiên cứu kích thích vỏ năo qua từ trường sọ, gây ra sự phóng điện trong vỏ năo. Bằng cách quan sát hành vi của bệnh nhân trong lúc kích thích như vậy có thể vẽ được bản đồ chức năng của năo.

THEO DƠI TIẾN TRIỂN, TIÊN LƯỢNG VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH

Có một loạt những kỹ thuật sẵn có mới đây giúp cho chẩn đoán, tiên lượng và theo dơi điều trị bệnh. Trong tất cả các kỹ thuật này, được sử dụng thông thường nhất hiện nay là MRI (xem h́nh minh họa). Độ phân giải thời gian và không gian của PP này vượt qua tất cả các PP khác và nó là PP nghiên cứu h́nh ảnh được lựa chọn trong tất cả các t́nh trạng trừ khi có chống chỉ định do có dụng cụ sắt từ cấy dưới da, chứng sợ bị nhốt kín, hoặc khi t́nh trạng bệnh nhân không cho phép tiến hành chụp với một thời gian tương đối lâu trong buồng  nam châm kín như vậy. Một thí dụ thú vị về việc MRI đang làm biến đổi thực hành lâm sàng như thế nào có thể được minh hoạ bằng việc đánh giá những bệnh nhân bị thiếu máu năo. Với tính chất khẩn cấp của khuynh hướng  điều trị tiêu cục máu đối với các tổn thương thiếu máu năo hiện nay, việc đánh giá một bệnh nhân nhanh và đầy đủ bằng MRI nổi bật lên như là một ch́a khóa ban đầu của việc điều trị. Ở những bệnh nhân thích hợp, trong ṿng 3 giờ sau khi các triệu chứng khởi phát cấp tính, những h́nh ảnh chi tiết về giải phẫu cấu trúc năo, xuất huyết năo hoặc nhồi máu năo có từ trước có thể nhanh chóng xác định. Đồng thời, giải phẫu mạch máu được đánh giá bằng chụp mạch cộng hưởng từ (xem h́nh minh họa). Tổn thương mô sớm được xác định tiếp theo bằng những h́nh ảnh được lượng hóa khuyếch tán mà nó chứng minh những thay đổi trong và ngoài tế bào do thiếu máu sớm bằng sự thay đổi khuyếch tán nước (proton) trong năo. Kết hợp các dữ kiện này cùng với việc đo đạc tưới máu năo (pMRI), nhờ tiêm tĩnh mạch hợp chất gadolinium, có thể đánh giá khu trú, mức độ, diễn tiến theo thời gian, giải phẫu mạch, thể tích vùng bị huỷ hoại (giảm tưới máu), thiếu máu (khuyếch tán thay đổi) hoặc mô nhồi máu. Kết quả thu được cho phép đánh giá tiên lượng và trực tiếp can thiệp vào điều trị, có thể theo dơi quá tŕnh điều trị này nhờ sử dụng những PP tương tự như vậy.

Hiện nay, MRI không xác định được sự bài tiết oxy hoặc chuyển hóa, nhưng PP quang phổ cộng hưởng từ (magnetic resonance spectroscopy) đă được dùng để đánh giá sự tập trung lactate trong mô bị thiếu máu. Sự tưói máu, chuyển hóa và bài tiết oxy, glucoza cũng có thể định lượng bằng PET mặc dù mới chí có vài nơi sẵn có những PP như vậy cho những nghiên cứu thuộc cơ sở cấp cứu. H́nh ảnh chức năng do fMRI, PET, hoặc SPECT có thể sử dụng để đánh giá tiến triển bệnh , điều trị thực nghiệm hoặc ứng dụng lâm sàng đối với những bệnh thoái hóa thần kinh như bệnh Alzheimer, Parkinson và bệnh Huntington. Việc xác định chuyển hóa cơ bản hoặc tăng tưới máu năo trong lúc thực hiện những bài tập về hành vi có thể được được sử dụng như là thước đo sự thành công hoặc thất bại của điều trị. Điều này đặc biệt giá trị trong những bệnh nhân thời kỳ chưa có triệu chứng (nghĩa là những bệnh nhân đă được chứng minh về mặt di truyền có trinucleotide giăn to lặp lại, những người chứa có triệu chứng của bệnh Huntington) v́ không có tiêu chuẩn lâm sàng để theo dơi, đánh giá hiệu quả của điều trị trong t́nh trạng như vậy.

Một lĩnh vực đặc biệt quan trọng để sử dụng các PP h́nh ảnh chức năng là đánh giá t́nh trạng bệnh nhân trước, trong và sau phục hồi thần kinh bằng điều trị hành vi và dược lư hoặc kết hợp. V́ những PP h́nh ảnh này cho phép quan sát những thay đổi tinh tế trong cơ quan chức năng của năo nên có thể dùng chúng để phát hiện những người thích hợp nhất với những sự điều trị như vậy cũng như cách điều trị nào là phù hợp nhất với t́nh trạng lâm sàng đó. Hơn nữa, thời điểm có thể được đánh giá bằng nghiên cứu theo chiều dọc khi so sánh nhóm bệnh lư với nhóm chứng cho mỗi khuynh hướng phục hồi thần kinh. Căn cứ vào sự thật là có khoảng 54 triệu người có di chứng thần kinh ở Mỹ, những PP làm tối ưu hóa cả phương pháp và thời điểm điều trị  phục hồi thần kinh sẽ tỏ rơ tầm quan trọng và sẽ mang lại hiệu quả về chi phí đối với việc đánh giá những bệnh nhân như vậy trong tương lai.

 (c̣n tiếp, xin xem trang sau)

Quay lại đầu trang