|
|
H̀NH
ẢNH HỌC
| ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Ưu điểm và giới hạn của các KT bản đồ năo hiện nay, ứng dụng và phạm vi hoạt động | ||||
|
Phương
pháp |
Khả
năng đánh giá. |
Bệnh
lư |
Ưu
điểm |
Giới
hạn |
|
CT |
Cấu
trúc năo, t́nh trạng nguyên vẹn của hàng rào máu
năo |
Xuất
huyết cấp và măn, chấn thương cấp, HA
chung về giải phẫu, teo năo cục bộ
hoặc toàn thể, năo nước. |
H́nh
ảnh xương rơ nét, phát hiện xuất
huyết ( 100%, thời gian chụp ngắn, có thể
chụp cho BN có gắn máy móc và những thiết
bị kim loại hoặc điện. |
Phát
xạ ion hóa, độ
phân giải tương phản kém. |
|
MRI |
Cấu
trúc năo, hệ mạch cổ và năo, t́nh trạng tưới
máu năo, nồng độ hóa chất, bó sợi, t́nh
trạng nguyên vẹn của hàng rào máu năo. |
Nhồi
máu cấp, khối tân sinh, bệnh hủy myelin, ổ
động kinh, các bệnh thoái hóa, nhiễm trùng,
bản đồ tiền phẫu. |
Sự
phân giải không gian cao, không phát xạ ion, tương
phản chất trắng và xám cao, không có h́nh
nhiễu do xương ở hố sau, có thể
chụp h́nh ảnh về hóa học, chức năng và
mạch máu. |
Thời
gian chụp dài, bệnh nhân có thể mắc chứng
sợ bị giam giữ, chống CĐ nếu gắn
thiết bị điện, XH cấp không chắc
chắn, chỉ đo đạc tương đối. |
|
PET
(PP chụp cắt lớp phát xạ positron |
T́nh
trạng tưới máu năo, chuyển hóa, bài tiết
chất nền, tổng hợp protein, t́nh trạng nguyên
vẹn của chất dẫn truyền TK và hàng rào máu
năo, gắn kết TCT. |
T́nh
trạng thiếu máu, bệnh thoái hóa, động
kinh, rối loạn vận động, bệnh lư
về cảm xúc, khối tân sinh, t́nh trạng
nghiện, bản đồ tiền phẫu |
Có
thể thực hiện h́nh ảnh về huyết
động học, hóa học và chức năng,
kết quả có thể địng lượng, có
thể xác định những thay đổi thuần
túy về sinh lư, phân giải không gian đồng
dạng. |
Phatù
xạ ion, giá khởi đầu cao, thời gian
biến đổi tạo chất mới dài, đánh
giá bị giới hạn, phân giải theo thời gian
chậm. |
|
Chụp
cắt lớp phát tia photon đơn |
T́nh
trạng tưới máu năo, t́nh trạng nguyên vẹn
của chất dẫn truyền TK và của hàng rào máu
năo, chất gắn TCT. |
T́nh
trạng thiếu máu, các bệnh lư thoái hóa, động
kinh, các rối loạn vận động. |
Có
thể thực hiện h́nh ảnh chức năng, hóa
học và huyết động, có thể dùng rộng
răi. |
Phát
xạ ion hóa, đo đạc chỉ tương đối,
phân giải không gian không đồng dạng, phân
giải theo thời gian chậm. |
|
Phương
pháp |
Khả
năng đánh giá. |
Bệnh
lư |
Ưu
điểm |
Giới
hạn |
|
Chụp
cắt lớp tăng cường xenon |
T́nh
trạng tưới máu năo |
T́nh
trạng thiếu máu |
Sử
dụng trang bị hiện nay. |
Phát
xạ ion hóa, tập trung xenon cao có tác dụng dược
lư. |
|
Chụp
MM CT xoắn ốc |
Giải
phẫu MM và xương. |
Bệnh
nghẽn mạch, ph́nh mạch, thông động tĩnh
mạch, dị dạng. |
Cung
cấp h́nh ảnh mạch máu phân giải cao. |
Phát
xạ ion hóa, chỉ thấy giải phẫu xương
và MM |
|
Ghi
điện năo |
Điện
sinh lư |
Động
kinh, bệnh năo, bệnh
thoái hóa, bản đồ tiền phẫu. |
Không
phát xạ ion, độ phân giải về thời
gian cao, có thể phát hiện ổ động kinh |
Độ
phân giải không gian thấp, thiên về đo đạc
bề mặt |
|
PP
từ năo |
Điện
sinh lư |
Động
kinh |
Không
phát xạ ion, độ phân giải về thời
gian cao, có thể phát hiện ổ động kinh |
Độ
phân giải không gian thấp |
|
Kích
thích từ trường xuyên sọ |
Sự
hoạt động cục bộ của năo |
Bản
đồ tiền phẫu |
Không
phát xạ ion, có khả năng điều trị, có
thể liên kết với các PP h́nh ảnh khác (PET,
fMRI) |
Độ
phân giải không gian thấp, có thể gây động
kinh ở một số BN. |
|
H́nh
ảnh tín hiệu bản chất quang |
Đo
đạc thống nhất thể tích máu, chuyển hóa
và phù tế bào |
Bản
đồ trong phẫu thuật |
Không
phát xạ ion, phân giải thời gian và không gian cao. |
Nguồn
tín hiệu phức tạp, PP xâm lấn (trong phẫu
thuật). |
Điều quan trọng phải chú ư rằng các PP h́nh
ảnh học riêng biệt chỉ
đặc thù trên một khía cạnh hoặc tốt
nhất với một vài khía cạnh về sinh lư và sinh
lư bệnh của năo. Ví dụ, kỹ thuật sinh lư
điện từ như là điện năo (ECG) khảo sát
các điện thế liên quan, từ trường năo cung
cấp thông tin về những nhóm nơ-ron lớn
và những vector điện từ sinh lư do chúng sinh
ra khi hoạt động. Những PP này có độ phân
giải thời gian cao, nhưng phân giải không gian
thấp và khu trú không chính xác. Những kỹ thuật khác
được dành cho việc khám nghiệm đặc
biệt cấu trúc năo bao gồm CT, MRI qui ước, h́nh
ảnh mạch máu với chụp mạch qui ước,
chụp mạch cộng hưởng từ hoặc CT
xoắn ốc. Nhóm thứ ba đánh giá đáp ứng
huyết động như là một tiêu chuẩn đo
chức năng của năo. Những kỹù thuật
của nhóm này bao gồm chụp cắt lớp vi tính tăng
cường xenon (xenon-enhanced CT), MRI chức năng (function
MRI) và những PP đo thể tích và ḍng máu năo như PET
hoặc SPECT. Các PP này cho thấy sự hoạt động
của các nơ-ron có liên hệ chặt chẽ với
việc tăng hoặc giảm ḍng máu. Điều này h́nh
như hợp lư trong t́nh trạng năo b́nh thường nhưng
không phải luôn luôn đúng trong t́nh trạng bệnh lư.
Những PP xác định quá tŕnh hóa học của năo
chủ yếu rơi vào lĩnh vực phổ cộng hưởng
từ và PET. PET có thể đo chuyển hóa glucoza,
tổng hợp protein, hấp thu axit amin, độ pH, và các
thay đổi khác bằng cách định lượng
kết quả với những đơn vị thích
hợp. PP phổ cộng hưởng từ cung cấp
những số liệu tương đối của
những hợp chất hóa học có nguồn gốc đặc
thù từ phổ proton của nguyên tử hydro, nhưng
với cường độ từ cao hơn nó cũng có
thể đánh giá định lượng tương
đối các đồng vị từ có chứa các phân
tử natri, flo, carbon và phosphat. H́nh ảnh của các
hệ thống thụ cảm thể, cả các phân tử
dẫn truyền thần kinh và phức hợp thụ
cảm thể là một lĩnh vực nghiên cứu
của PET và SPECT ở cả người bệnh và người
khỏe mạnh. Phần lớn thông tin được nghiên
cứu trên hệ thống dopaminergic, nhưng cũng có
thể trên những hệ thống benzodiazepin, opioid,
seretonergic, cholinergic.
Hơn nữa, có khuynh hướng tác động
lẫn nhau. Ưa chuộng nhất dĩ nhiên làø quan sát
trực tiếp những dấu hiệu và triệu
chứng ở những bệnh nhân bị bệnh năo,
điều này luôn luôn là mở đầu cần
thiết cho một vài đánh giá h́nh ảnh học
của bệnh nhân. Một khuynh hướng xâm lấn nhưng
thường được sử dụng là trường
hợp những bệnh nhân thức tỉnh sau gây mê trong
quá tŕnh phẫu thuật , ghi hoặc kích thích mô năo
kết quả tương ứng với t́nh trạng hành
vi ở những bệnh nhân tỉnh táo. Mới đây
những PP như vậy đă được phát
triển qua việc sử dụng h́nh ảnh với tín
hiệu bản chất quang học mà trong đó những
thay đổi của hệ số phản xạ quang
học từ vỏ năo được đo trong lúc kích
thích khi phẫu thuật.. Việc đo đạc có
thể làm khi bệnh nhân thức tỉnh hoặc khi
được gây mê với những kích thích cảm giác.
Tín hiệäu bản chất quang học cung cấp các thông
số chức năng của những vùng năo khác nhau trong
lĩnh vữc phẫu thuật.
Cuối cùng, kỹ thuật kích thích từ trường
xuyên sọ (transcranial magnetic stimulation-TMS) cho phép các nhà nghiên
cứu kích thích vỏ năo qua từ trường sọ, gây
ra sự phóng điện trong vỏ năo. Bằng cách quan sát
hành vi của bệnh nhân trong lúc kích thích như vậy có
thể vẽ được bản đồ chức năng
của năo.
Có một loạt những kỹ thuật sẵn có
mới đây giúp cho chẩn đoán, tiên lượng và
theo dơi điều trị bệnh. Trong tất cả các
kỹ thuật này, được sử dụng thông thường
nhất hiện nay là MRI (xem h́nh minh họa). Độ phân giải thời
gian và không gian của PP này vượt qua tất cả các
PP khác và nó là PP nghiên cứu h́nh ảnh được
lựa chọn trong tất cả các t́nh trạng trừ
khi có chống chỉ định do có dụng cụ
sắt từ cấy dưới da, chứng sợ bị
nhốt kín, hoặc khi t́nh trạng bệnh nhân không cho phép
tiến hành chụp với một thời gian tương
đối lâu trong buồng nam châm kín như vậy. Một thí dụ thú
vị về việc MRI đang làm biến đổi
thực hành lâm sàng như thế nào có thể được
minh hoạ bằng việc đánh giá những bệnh nhân
bị thiếu máu năo. Với tính chất khẩn cấp
của khuynh hướng điều
trị tiêu cục máu đối với các tổn thương
thiếu máu năo hiện nay, việc đánh giá một
bệnh nhân nhanh và đầy đủ bằng MRI nổi
bật lên như là một ch́a khóa ban đầu của
việc điều trị. Ở những bệnh nhân thích
hợp, trong ṿng 3 giờ sau khi các triệu chứng
khởi phát cấp tính, những h́nh ảnh chi tiết
về giải phẫu cấu trúc năo, xuất huyết năo
hoặc nhồi máu năo có từ trước có thể
nhanh chóng xác định. Đồng thời, giải phẫu
mạch máu được đánh giá bằng chụp
mạch cộng hưởng từ (xem h́nh
minh họa). Tổn thương mô
sớm được xác định tiếp theo bằng
những h́nh ảnh được lượng hóa
khuyếch tán mà nó chứng minh những thay đổi
trong và ngoài tế bào do thiếu máu sớm bằng sự
thay đổi khuyếch tán nước (proton) trong năo.
Kết hợp các dữ kiện
này cùng với việc đo đạc tưới máu năo
(pMRI), nhờ tiêm tĩnh mạch hợp chất gadolinium, có
thể đánh giá khu trú, mức độ, diễn
tiến theo thời gian, giải phẫu mạch, thể tích
vùng bị huỷ hoại (giảm tưới máu),
thiếu máu (khuyếch tán thay đổi) hoặc mô
nhồi máu. Kết quả thu được cho phép đánh
giá tiên lượng và trực tiếp can thiệp vào
điều trị, có thể theo dơi quá tŕnh điều
trị này nhờ sử dụng những PP tương
tự như vậy.
Hiện
nay, MRI không xác định được sự bài
tiết oxy hoặc chuyển hóa, nhưng PP quang phổ
cộng hưởng từ (magnetic resonance spectroscopy) đă
được dùng để đánh giá sự tập
trung lactate trong mô bị thiếu máu. Sự tưói máu,
chuyển hóa và bài tiết oxy, glucoza cũng có thể
định lượng bằng PET mặc dù mới chí có
vài nơi sẵn có những PP như vậy cho những
nghiên cứu thuộc cơ sở cấp cứu. H́nh
ảnh chức năng do fMRI, PET, hoặc SPECT có thể
sử dụng để đánh giá tiến triển
bệnh , điều trị thực nghiệm hoặc
ứng dụng lâm sàng đối với những bệnh
thoái hóa thần kinh như bệnh Alzheimer, Parkinson và
bệnh Huntington. Việc xác định chuyển hóa cơ
bản hoặc tăng tưới máu năo trong lúc thực
hiện những bài tập về hành vi có thể
được được sử dụng như là thước
đo sự thành công hoặc thất bại của điều
trị. Điều này đặc biệt giá trị trong
những bệnh nhân thời kỳ chưa có triệu
chứng (nghĩa là những bệnh nhân đă được
chứng minh về mặt di truyền có trinucleotide giăn to
lặp lại, những người chứa có triệu
chứng của bệnh Huntington) v́ không có tiêu chuẩn lâm
sàng để theo dơi, đánh giá hiệu quả của
điều trị trong t́nh trạng như vậy.
Một
lĩnh vực đặc biệt quan trọng để
sử dụng các PP h́nh ảnh chức năng là đánh
giá t́nh trạng bệnh nhân trước, trong và sau
phục hồi thần kinh bằng điều trị hành
vi và dược lư hoặc kết hợp. V́ những PP h́nh
ảnh này cho phép quan sát những thay đổi tinh tế
trong cơ quan chức năng của năo nên có thể dùng
chúng để phát hiện những người thích
hợp nhất với những sự điều trị như
vậy cũng như cách điều trị nào là phù
hợp nhất với t́nh trạng lâm sàng đó. Hơn
nữa, thời điểm có thể được đánh
giá bằng nghiên cứu theo chiều dọc khi so sánh nhóm
bệnh lư với nhóm chứng cho mỗi khuynh hướng
phục hồi thần kinh. Căn cứ vào sự thật
là có khoảng 54 triệu người có di chứng
thần kinh ở Mỹ, những PP làm tối ưu hóa
cả phương pháp và thời điểm điều
trị phục hồi
thần kinh sẽ tỏ rơ tầm quan trọng và sẽ
mang lại hiệu quả về chi phí đối với
việc đánh giá những bệnh nhân như vậy trong
tương lai.
(c̣n tiếp, xin xem trang sau)
![]()