THAM KHẢO THẦN KINH HỌC

Hi`nhAnh2

Home Up Feedback Contents Search

 

Hi`nhAnh3

HÌNH ẢNH HỌC:cửa sổ nhìn vào não.  (tiếp theo)

John C. Mazziotta, MD, PhD. Imaging. ARCH NEUROL./VOL. 57, OCT 2000, p1413-1421.

Người dịch: BS Bach Thanh Thủy.

LẬP KẾ HOẠCH PHẪU THUẬT 

Sử dụng những PP bản đồ não tới những tiêu đích trong não ở những bệnh nhân đang chuẩn bị phẫu thuật có 2 mục đích. Đầu tiên là xác định những vị trí trong não để phẫu thuật cắt bỏ vì bản thân chúng là nguyên nhân của tình trạng bệnh lý (như là khối tân sinh hoặc dị dạng mạch máu). Thứ hai là khi phẫu thuật có kế hoạch làm gián đoạn những con đường đặc biệt giúp cải thiện triệu chứng của bệnh nhân như là trong bệnh Parkinson. Trong mỗi ca, chi tiết giải phẫu tối ưu và lý tưởng là đặc điểm chức năng sẽ giúp cải thiện kết quả phẫu thuật. Kỹ thuật bản đồ não hiện đại giúp ích cho quá trình phẫu thuật bằng 4 cách. Thứ nhất, khu trú và đặc điểm tổn thương được hoàn thiện có thể giúp xác định những vị trí cắt bỏ tốt hơn. Thứ hai, độ phân giải về giải phẫu tăng cùng với các kỹ thuật hình ảnh về cấu trúc giúp xác định ranh giới giải phẫu tại chỗ và xung quanh vị trí giải phẫu tốt hơn. Thứ ba, hình ảnh chức năng có thể cho thấy hoạt động sinh lý tại vị trí giải phẫu, đặc biệt trong những trường hợp mà tuần hoàn bình thường bị cố gắng làm gián đoạn vì mục đích phẫu thuật, như là trong bệnh Parkinson. Thứ tư, việc sử dụng bản đồ xác suất của cộng đồmg tính toán sự biến đổi cấu trúc và chức năng giữa người với người có thể giúp xác định vị trí giải phẫu và vị trí chức năng quan trọng trong não của một người nhất định.

Gần như không còn nghi ngờ rằng sự tiến bộ của hình ảnh cộng hưởng từ đã đem lại những bộ giải phẫu vượt xa bất kỳ mức độ chi tiết nào mới đây, cả về độ phân giải không gian và độ tương phản. Thêm vào đó, sự tạo hình bằng cộng hưởng từ tốc độ cao cho khuynh hướng trung bình hóa những nghiên cứu phức tạp , tăng cường độ phân giải không gian và cho phép hình dung những cấu trúc mới đây còn không được nhìn thấy được bằng hình ảnh đại thể, tất cả những điều đó rất quan trọng trong chiến lược phẫu thuật.

Nghiên cứu hoạt động chức năng của những vị trí  có khả năng bị kích thích hoặc bị cắt bỏ (như là cầu nhạt, các nhân đồi thị) thì ít phát triển hơn. Mô hình và chiến lược tạo hình cần có những tiến bộä quan trọng trước khi những tiêu đích chính xác của những vị trí chức năng như vậy có thể được sử dụng như là một phương pháp tiền phẫu. Có thể chọn lựa những nghiên cứu đóng để có thể xác định những hệ thống dẫn truyền thần kinh đặc biệt được quan tâm để cắt bỏ hoặc kích thích như là một biện pháp điều trị.

Sự phát triển của CT xoắn ốc là tiến bộ mới nhất trong khả năng chụp hình ảnh của hệ thống mạch máu của não và cổ là vấn đề quan tâm đặc biệt  trong việc lập kế hoạch tiền phẫu. Ở đây, sự tạo hình CT tốc độ cao trong khi tiêm tĩnh mạch chất cản quang iodinate gắn liền với sự di chuyển của giường bệnh nhân qua giàn cắt lớp. Trong lúc đi qua mạch máu, toàn bộ đầu được vẽ hình. Kỹ thuật này đã cho thấy những hình ảnh phân giải cao của cấu trúc không gian ba chiều về giải phẫu mạch của não và phình mạch, dị dạng động tĩnh mạch và những bất thường khác về mạch (xem hình minh họa). Phương pháp chụp mạch kinh điển cho những hình ảnh hai chiều của lumen mạch máu. Thông thường chỗ thắt lại của một phình mạch và liên quan của nó với động mạch trước và sau nó có thể khó nhận biết trừ khi có được những hình ảnh ở những góc độ khác nhau. Phương pháp chụp mạch kinh điển làm bệnh nhân phải chịu liều bức xạ lớn  và còn bị thêm gánh nặng do sử dụng chất cản quang iodinate. Sử dụng CT xoắn ốc, tiêm thuốc cản quang tĩnh mạch một lần cho phép hiện lại toàn bộ phức hệ mạch máu của phình mạch cũng như những mạch máu trước và sau nó. Có thể tái hiện hình ảnh không gian ba chiều ở bất cứ góc nào, cho phép  các nhà phấu thuật  mạch máu kiểm tra chặt chẽ những mối liên hệ này và dự kiến chiến lược tiền phẫu. PP này cung cấp thông tin mà không đòi hỏi liều bức xạ lớn hoặc dùng nhiều chất cản quang. Thêm vào đó, nó có thể dẫn tới việc phát triển những dụng cụ kẹp ảo hoặc những dụng cụ phẫu thuật khác được thiết kế độc nhất cho mỗi tổn thương của bệnh nhân mà có thể được thử nghiệm trong môi trường ảo và sau đó mới được sản xuất trong qui trình thực tế.

Những bệnh nhân bị tổn thương bán cầu mà cần phải phẫu thuật cắt bỏ hoặc can thiệp X-quang thần kinh có nguy cơ mất những chức năng bình thường mà đã được kiểm soát  bằng các mô kế cận, đặc biệt ở vỏ não. Những vấn đề như vậy đặc biệt gây rắc rối cho những bệnh nhân có tổn thương  ở trong hoặc gần vùng vỏ não vận động hoặc ngôn ngữ. Những bệnh nhân như vậy, trước đây đã được khuyên hoặc là khôâng phẫu thuật hoặc biết trước trước một khiếm khuyết nghiêm trọng. Trong những trường hợp khác, các bệnh nhân bị mất cảm giác được điều trị một khi khi bộc lộ vỏ não và việc nghiên cứu hành vi được tiến hành trong khi các vị trí cần cắt bỏ ở vỏ não được kích thích điện để phá vỡ tạm thời hoạt động chức năng của chúng. Những phương pháp như vậy đã được biện hộ bởi vì hoặc chịu hậu quả tàn phá của thương tổn hoặc chịu hậu quả của việc cắt bỏ đối với vùng vỏ não nguy hiểm với chức năng ngôn ngữ hoặc vận động. Ở những bệnh nhân cần cắt bỏ thùy thái dương, việc nghiên cứu chức năng trí nhớ cũng là một phần trong việc đánh giá tiền phẫu. Trong trường hợp này,  barbiturate được tiêm tạm thời vào trong động mạch làm đảo ngược, bất hoạt giữa thùy thái dương hoặc một phần của toàn bộ thùy tthái dương phụ thuộc vào mạch máu được tiêm. Trong thời gian tác dụng của thuốc, các bệnh nhân được nghiên cứu hành vi để xác định xem họ có thể tiếp thu thông tin mới không. Giả sử là thùy thái dương được dự định cắt bỏ, nó sẽ được làm mất cảm giác tạm thời bằng barbiturate, phần còn lại của não sẽ có khả năng ghi nhớ và sử dụng những vật liệu mới cho việc học tập.

Như vậy thủ thuật Wada, như nó được gọi, được dùng để xác định xem những chức năng này có thể được giữ lại sau phẫu thuật cắt bỏ hay không. Các xu hướng tương tự có thể được dùng cho những vùng ngôn ngữ. Những nghiên cứu này, trên thực tế rất khó thực hiện và đòi hỏi phối hợp tốt với bệnh nhân, những bệnh nhân này cần sẵn sàng cộng tác và cung cấp những số liệu chính xác. Bại nửa người thoáng qua có thể xuất hiện sau khi sử dụng barbiturate, mặc dù việc kiểm tra trước cảnh báo là thuốc an thần gây ra và làm tăng thêm stress và kết quả không chắc chắn.

Vì tất cả những lý do này, bản đồ tiền phẫu không xâm lấn đã được theo đuổi tích cực như là phương tiện để cố gắng tránh một vài  khuynh hướng ít chính xác và hay gây chấn thương này để xác định vị trí của những vùng vỏ não bình thường và vùng có chức năng đặc biệt. PET, SPECT, fMRI và TMS tất cả đã được dùng cho mục đích này. Phần lớn số liệu đã được thu thập nhờ PET và fMRI. Trong những trường hợp này, những bộ mô hình hành vi được tiến hành trước phẫu thuật cho các bệnh nhân để xác định bản đồ của những vùng tăng tưới máu tương đối liên quan với việc thực hiện những bài tập quan trọng bao gồm những vùng não gần những vùngdự định cắt bỏ. Như vậy những bệnh nhân  bị tổn thương ở trong hoặc gần vùng vỏ não vận động hoặc cảm giác được yêu cầu thực hiện  những bài tập mà nó hoạt hoá những vùng tương ứng của vỏ não vận động; khoảng cách tương đối giữa vị trí tổn thương và vị trí hoạt hóa cho thấy yếu tố nguy cơ liên quan với phẫu thuật.. Bằng cách kết hợp những kỹ thuật bản đồ không xâm lấn nói trên với test Wada qui ước, kích thích trong phẫu thuật và các kiểu đánh giá khác, người ta sẽ có thể công nhân độ chính xác của xu hướng không xâm lấn và xác định tính khả thi của nó để sử dụng duy nhất trong những bệnh nhân tiền phẫu thuật.

Hai công cụ mới có thể dùng  trong phẫu thuật và cho PP bản đồ trong phẫu thuật là MRI và OIS. MRI trong phẫu thuật có thể được dùng bằng 1 hoặc 2 cách. Đầu tiên, một máy cộng hưởng tư trường thấp được đặt trong phòng mổ và các bác sỹ tiến hành phẫu thuật trong mội trường bình thường, chuyển bệnh nhân vào trong môi trường từ lặp lại nhiều lần để tạo hình ảnh tiến tới phẫu thuật. Xu hướng thứ hai là phẫu thuật trong chính môi trường từ trường, đòi hỏi dụng cụ giải phẫu và các phương tiện theo dõi điện sinh lý phải tương thích với môi trường từ trường. Hiện tại, hình ảnh chức năng trong phẫu thuật do MRI vẫn chưa được đánh giá đầy đủ.

Kỹ thuật bản đồ não mới nhất được dùng trong phẫu thuật là tín hiệu bản chất quang học (OIS). Sử dụng cách này thì ánh sáng trắng được chiếu lên trên vỏ não đã bộc lộ trong phẫu thuật với tổng số ánh sáng với các bước sóng khác nhau, và sau đó người ta xác định phản ứng từ vỏ não. Hệ số phản xạ của ánh sáng tại những bước sóng đặc biệt thay đổi khi chức năng hoạt động thần kinh của mô được chiếu sáng thay đổi thứ phát theo thể tích máu, dòng chảy, phù nề tế bào và tình trạng oxy hóa của mô (trong số những yếu tố khác có thể thay đổi). Một kỹ thuật xâm lấn, OIS được sử dụng trong phòng mổ để cung cấp bản đồ chức năng trong đó hoạt động thần kinh được làm biến đổi bằng kích thích thần kinh ngoại vi hoặc tiến hành trong lúc bệnh nhân thức tỉnh bằng cách cho bệnh nhân thực hiện những bài tập về hành vi. Đáng chú ý, OIS có độ phân giải thời gian và không gian tốt nhất trong số các kỹ thuật hình ảnh chức năng, độ phân giải không gian gần 50 µm với và độ phân giải thời gian gần 50 ms. Ngoài ra, OSI có thể được dùng để làm cho những bản đồ tiền phẫu có giá trị dựa vào những phương pháp chụp X-quang cắt lớp hoặc để xác định liên tục các bờ đã xác định tiền phẫu khi mà não thay đổi hình dáng do mất nước thẩm thấu, dẫn lưu não thất hoặc phù não khu trú trong quá trình phẫu thuật(xem hình minh họa).

BẢN ĐỒ XÁC SUẤT

Sự xuất hiện của xu hướng sử dụng máy điện toán  và toán học hiện đại đối với dữ liệu tạo hình được trung bình hóa qua nhiều người đã dẫn đến sự phát sinh ra bản đồ xác suất dựa trên cộng đồng dân cư. Những bản đồ như vậy đã được thực hiện cho những não bình thường ở những lứa tuổi khác nhau. Những tấm bản đồ dựa trên nhóm bệnh lý có thể có ích đối với chẩn đoán phân biệt những bệnh lý ở não người (xem hình minh họa).

Xu hướng cơ bản đối với việc phát sinh những tấm bản đồ như vậy là để tạo được những hình ảnh từ một số lượng người lớn (hàng trăm hoặc hàng ngàn) trong khuôn khổ toán học mà tạo ra cơ sở dữ liệu theo xác suất. Một bản đồ như vậy cho phép người sử dụng tìm được thông tin liên quan lấy được từ việc tính toán sự khác nhau trong cấu trúc và chức năng của cộng đồng người. Một khi được thành lập, một bản đồ như vậy có thể ảnh hưởng qua lại với những số liệu mới tìm thấy từ nhiều người hoặc từ nhiều bệnh nhân, cả hai, riêng lẻ cũng như nhiều nhóm người. Như vậäy, một bác sỹ lâm sàng hoặc một nhà nghiên cứu thực hiện việc quét MRI của một bệnh nhân bị động kinh cục bộ có thể gọi một bản đồ xác suất kỹ thuật số của những người khỏe mạnh và so sánh não của bệnh nhân với não người bình thường trung bình. Sự thay đổi thông tin (được đánh giá từ cộng đồng những người khỏe mạnh) được dùng để xác định xem hình ảnh của bệnh nhân ở trong hay ngoài giới hạn bình thường. Nếu như bản đồ được xây dựng từ một nhóm không đủ số lượng, một bộ phận cư dân nhận diện được gần gũi nhất về nhân khẩu học và lâm sàng với bệnh nhân cần được tuyển chọn. Trong trường hợp như vậy, người ta có thể yêu cầu chỉ những người thuận tay phải, chỉ những người đàn bà, một chủng tộc riêng và ở lứa tuổi 25-30. Sự xác định trước như vậy có thể gồm các biến số ngày càng tăng về số lượng, phụ thuộc vào kích cỡ của tập hợp số liệu cấu tạo nên bản đồ và loại thông tin được tuyển lựa về những người tham gia. Kết quả, nó có thể phát hiện những bất thường rất tinh vi quan trọng đối với chẩn đoán mà có thể không phát hiện được bằng phương pháp qui ước ít nhậy cảm của. hình ảnh hai chiều định tính. Thêm vào đó, xu hướng dựa trên bản đồ như vậy sẽ cho ta một phương pháp quan trọng khách quan và có thể định lượng  để phát hiện bất kỳ tổn thương nào. Dữ liệu của bệnh nhân sau đó có thể được thêm vào bản đồ làm tăng giá trị của chúng đối với những nhóm bệnh nhân đặc biệt.

Bản đồ đối với những nhóm bệnh lý  được xây dựng theo cùng cách như vậy. Người ta có thể hình dung ra bản đồ chức năng và hình thể của bệnh Alzheimer, bệnh Parkinson, bệnh tâm thần và những bệnh lý khác. Những bản đồ như vậy có thể cung cấp hình ảnh não của một cộng đồng người bệnh thích hợp cho việc nghiên cứu bệnh sử tự nhiên của bệnh khi mà bệnh tiến triển, tuổi khởi phát, kiểu gen, hoặc những thay đổi khác. Những bản đồ như vậy có thể dùng để phát hiện những thay đổi trong cách tiến triển tự nhiên của bệnh khi có can thiệp điều trị. Cần chú ý, ví dụ, một thử ngiệm lâm sàng của một thuốc mới cho bệnh Alzheimer, bản đồ cộng đồng bệnh nhân Alzheimer có thể giúp đánh giá những thay đổi hình thể (như là teo não cục bộ) và ví dụ, các thay đổi chuyển hóa glucoza trong não một khi bệnh tiến triển. Việc tạo từng chuỗi hình ảnh của nhóm chứng và nhóm điều trị bằng những kỹ thuật phù hợp và sau đó có thể tái tạo hình ảnh theo chiều dọc và tạo hình ảnh theo không gian 4 chiều. So sánh những thay đổi về chuyển hóa và hình thể theo thời gian có thể khám phá những khác biệt định tính và khách quan giữa hai nhóm. Một vài sự khác biệt có thể cho phép đánh giá hiệu quả của điều trị  teo não tiến triến và thay đổi chuyển hóa  do diễn biến tự nhiên của bệnh. Có thể, mặc dù hiện tại chưa có bằng chứng,  là phương pháp này có thể nhậy cảm hơn để phát hiện những khác biệt giữa nhóm chứng và nhóm thực nghiệm, cung cấp một phương tiện để đánh giá tiến triển và hiệu quả điều trị bệnh và như vậy có thể cần số lượng người tham gia nghiên cứu ít hơn, thời gian cần để đánh giá hiệu quả điều trị ngắn hơn, kết quả cuối cùng là chi phí cho thử nghiệm điều trị thấp hơn.

PHÁT HIỆN GEN

Khả năng phát hiện gen ở người có thể giúp hình thành mối liên kết quan trọng giữa trật tự sinh học phân tử và đánh giá kiểu hình  ở người. Hai lĩnh vực này phát triển nhanh chóng sau đó có thể liên kết với nhau ở một mục đích chung là các vấn đề phân tử gây bệnh và việc can thiệp ở mức phân tử nhằm phòng ngừa, trì hoãn, ngăn chặn hoặc đảo ngược tiến triển của bệnh. Tất cả các phương pháp hiện nay đòi hỏi những kỹ thuật dạng vết. Những phương pháp này có thể sử dụng đồng vị phóng xạ dạng vết và những kỹ thuật như là PET và SPECT hoặc những chất cản quang không có tính chất phóng xạ nhưng có thể theo dõi bằng MRI. CaØng tổng quát cách giải quyết các kết quả dạng vết càng có thể tổng quát hóa và sử dụng có ích. Phương pháp này giống sinh học phân tử thực nghiệm, ở đóù một gen mang thông tin và một chất phát hiện thông tin sinh ra một tín hiệu mà nó có thể được nhìn thấy trong tế bào đặc trưng bởi một vài dạng tín hiệu quang học (phát huỳnh quang). Hai khuynh hướng đầy hứa hẹn đã được mô tả.

Phương pháp có thể được sử dụng cùng với PET được minh hoạ như sau, xem xét trường hợp protein sản phẩm của gen thông tin được PET phát hiện là một enzyme như là herpes simplex virus thymidine kinase và chất dò thông tin được PET phát hiện là một F-fluorogancivlovir.  cách làm việc như mô tả dưới đây. Gen thông tin có thể phát hiện bởi PET được kết hợp chặt chẽ với bộ gen của adenovirus sau đó người hoặc động vật thực nghiệm được làm nhiễm adenovirus này, F-fluoroganciclovir được tiêm vào tĩnh mạch. Nó khuyếch tán vào trong tế bào và nếu trong tế bào không có gen thông tin thì nó sẽ khuyếch tán ra ngoài tế bào và được thải ra ngoài qua thận. Nếu trong tế bào có gen thông tin thì F-fluoroganciclovir se sẽ được phosphoryl hoá bởi enzyme của gen thông tin và bị giữ lại trong tế bào. Một phân tử enzyme (trong đó có gen thông tin) có thể phosphoryl hóa nhiều phân tử chất dò thông tin đến nỗi có một hiệu ứng lan rộng trong phương pháp qua trung gian enzyme này.

Hai kỹ thuật MRI ở dưới xem xét việc chứng minh khả năng phát hiện gen. Đầu tiên, một phân tử được gắn với một ion gadolium ở trung tâm, được sắp xếp theo kiểu như vậy, ion này đã hạn chế đến gần phân tử nước và như vậy làm tín hiệu MRI bị xáo trộn ít nhất. Sự sắp xếp theo vị trí đặc biệt cúa một phần phân tử đó có thể bị tách ra bởi gen thông tin sau đó bộc lộ ion gadolinium, làm cho nó có thể tới gần proton của phân tử nước hơn và làm thay đổi tín hiệu MRI tại vị trí  phát hiện gen. Ví dụ, sự sắp xếp theo vị trí đặc biệt của vòng galactopyranosyl trong phân tử lớn có thể được tách ra bằng cách sử dụng thông thường gen thông tin (-galactosidase. Một xu hướng thay đổi là tạo ra những hạt bao gồm DNA và một phân tử polylysin được biến đổi bằng một chất phản quang thuận từ như là gadolinium. Sự vận chuyển phối hợp  DNA và các chất phản quang MRI chứng minh những vùng phát hiện gen mà những tế bào đích đặc biệt trên vivo có thể được coi như là chất đánh dấu quá trình này. Những phương pháp này đặc biệt sẽ có ích lợi trong nghiên cứu và thực hành lâm sàng khi màphương pháp điều trị gen trở thành hiện thực trong những năm sắp tới.

HÌNH ẢNH HOẠT ĐỘNG VÀ LIÊN KẾT CỦA CÁC NƠ-RON

Sự hoạt động của các nơ-ron xảy ra trong khoảng thời gian được tính theo phần nghìn của giây. Phần lớn các phương pháp hình ảnh chức năng dựa vào sự thay đổi tưới máu não hoặc thể tích máu mà điều này thay đổi đặc thù tính theo giây. Việc kết hợp thời khoảng sinh lý tương đối dài dựa vào một yếu tố quan trọng (nghĩa là người ta muốn xác định hoạt động của nơ-ron nhưng thực sự là xác định sự thay đổi tưới máu) cùng với những  điều kiện cần thiết về hệ phương pháp để thu được đủ dữ liệu về những sự kiện để cho ra một hình ảnh xác thực có thể thống kê và người ta thấy rằng trong các phương pháp hình ảnh học chức năng hiện nay hình ảnh quan tâm được tích hợp từ những hình ảnh hơn nó 1 hoặc 2 bậc về khung thời gian Tuy nhiên người ta có thể sử dụng kỹ thuật trung bình hóa các tín hiệu để cải thiện tình trạng này. Những hình ảnh EEG thu được trong quá trình MRI có khả năng đem lại dữ liệu fMRI để xác định vị trí  của các gai sóng trong động kinh. Bằng cách quét liên tục trong khi ghi EEG, fMRI có thể được tái tạo tại thời điểm khi mà các spicke xuất hiện, điều chỉnh để có cản trở của huyết động lực phù hợp (Xem hình minh họa). Phương pháp như vậy có thể được áp dụng cho động kinh cục bộ với điều kiện là những cơn động kinh đó không gây cử động đầu để có thể tạo những hình gai sóng giả trong dữ liệu fMRI. Một khi dữ liệu fMRI được tập hợp và điều chỉnh cản trở huyết động, những hình ảnh tăng ngấm tương đối được tạo ra đã liên quan với vị trí của gai sóng giữa hai cơn hoặc với động kinh cục bộ (tranh 6). Mặc dầu giá trị của những nghiên cứu như vậy trong việc đánh giá tiền phẫu của những bệnh nhân bị động kinh vẫn còn phải xác định, một trong những vấn đề khó khăn nhất ở những bệnh nhân như vậy là sự lan truyền nhanh chóng từ ổ bệnh tiên phát tới các vị trí lân cận hoặc ở xa. Tập hợp những dữ liệu fMRI-EEG như vậy có thể giúp ích trong quá trình này là có thể hiểu được. Thêm vào đó, cách này có thể được sử dụng trên những người khỏe mạnh,họ thực hiện lặp đi lặp lại một bài tập , trong khi được ghi EEG để cho kết quả chuẩn. Với một phương pháp như vậy, số liệu điện sinh lý của EEG có thể kết hợp với các số liệu chức năng của fMRI và có thể tạo được một bản đồ kết hợp có độ phân giải thời gian và không gian cao.

 Một phương pháp thay thế là tìm kiếm sự thay đổi trong độ tập trung ion có liên quan với hoạt động của các nơ-ron. Ở đây, lần nữa, có thể sử dụng hai cách. Thứ nhất là dùng MRI và các nguyên tố tự nhiên đặc biệt như là natri (trong tế bào đối với ngoài tế bào) mà chúng có thể được tạo hình trực tiếp với những máy quét  có trường cao. Cách thứù hai là dùng những phân tử có cấu trúc đóng và cấu trúc mở ở những độ tập trung ion đặc biệt để bộc lộ một phần của phân tử mà phần này làm thay đổi tín hiệu cộng hưởng từ. Phân tử gadolinium ở dạng đóng chuyển thành dạng mở ở độ tập trung calcium, có khả năng tạo bản đồ khu trú của calcium trong não. Những cách giống như vậy có thể được dùng bằng những chất phát hiện  ion khác. Bằng cách trung bình tín hiệu để cải thiện độ phân giải thời gian, hình ảnh đánh giá hoạt động của các nơ-ron tỉ mỉ hơn có thể được phát triển. Cho đến nay chưa có phương pháp nào trong số các phương pháp hình ảnh ion này được sử dụng đối với người.

Cuối cùng người ta có thể sử dụng sự kết hợp  các kỹ thuật hình ảnh để nghiên cứu sự liên kết giữa các nơ-ron. Người ta kết hợp các kỹ thuật này với nhau. Đầu tiên, nghiên cứu một người khỏe mạnh , trong khi đang thực hiện bài tập vận động thì được  ngiên cứu fMRI để xác định vùng vận động tay của vỏ não vận động. Hình ảnh không gian ba chiều được tái tạo chứng minh định khu của vùng chức năng đó trong não. Người đó sau đó được đặt vào trong  một máy PET, và một máy TMS nhằm vào tọa độ của vùng chi phối vận động tay của vỏ não vận động. Vào thời điểm tiêm chất phóng xạ đánh dấu mà chất này có thể được PET phát hiện trong dòng máu, máy TMS cũng được hoạt động, hoạt hóa nhân tạo vỏ não vận động. Bằng cách đó nó tạo ra hình ảnh chức năng. Vì sự hoạt hóa này cũng sẽ lan truyền thuận và ngược chiều, cả hai đường  vào và đường ra vỏ não vận động cũng sẽ làm tăng tưới máu tương đối và có thể nhìn thấy trong hình ảnh PET. Cách này cho phép xác định những khu vực  của não có liên quan vớùi nhau về chức năng nhờ sự kết hợp 3 phương pháp. Với việc thực hiện những nghiên cứu như vậy ở một số lượng người lớn và ở nhiều khu vực não, những hình ảnh thu được có thể được thêm vào bản đồ xác suất, đã thảo luận ở đây, làm gia tăng tầm quan trọng của mối liên kết giữa cấu trúc và chức năng của não. Những hình ảnh này có thể được sử dụng kết hợp với những hình ảnh về giải phẫu thu được từ việc sử dụng rộng rãi các kỹ thuật MRI.

KẾT LUẬN

Những kỹ thuật hình ảnh học thần kinh và phương pháp bản đồ não rõ ràng đã làm biến đổi cách thực hành lâm sàng thần kinh và phẫu thuật thần kinh của chúng ta ngày nay. Trong những năm sắp tới chúng ta sẽ chỉ thấy những sự tiến bộ hơn nữa và những cơ hội. Khi mà một số phương pháp điều trị mới được triển khai trong lĩnh vực khoa học thần kinh lâm sàng, hình ảnh học sẽ cung cấp phương tiện để đánh giá sự thành công hoặc thất bại  của những cách điều trị này và sẽ thực hiện theo cách xác suất và định tính, sử dụng những phương pháp tự động, khách quan và hiện đại để gia tăng tốc độ, hiệäu qủa và tiết kiệm chi phí cho các thử nghiệm lâm sàng trong thời kỳ quá độ, từ nghiên cứu khả năng điều trị tới áp dụng vào thực tế. Những kỹ thuật chức năng tiến bộ từ trước đến nay sẽ chứng chứng minh các hệ thống hóa học phụ của não, những mạng lưới hợp thành một thể thống nhất, sự phân bố theo thời gian phức tạp để tạo nên những hành vi phức tạp ở người như là việc học và sự giảm sút trí tuệ trong tình trạng bệnh lý. Sử dụng một số phương pháp đã mô tả ở đây và một số phương pháp khác chưa được được mô tả, hình ảnh học sẽ cung cấp cầu nối giữa kiểu hình, kiểu gen và hành vi của loài người. Bằng cách theo dõi hình ảnh gen, phương pháp điều trị gen, và các hoạt động ở mức phân tử khác, sinh học phân tử và khoa học thần kinh lâm sàng sẽ trở nên nối liền với nhau qua hình ảnh học , cho phép chúng ta hiểu xem hoạt động ở mức tế bào và gen diễn ra trong mạng lưới thống nhất và phức tạp của não người như thế nào.

Quay lại đầu trang