
HÌNH
ẢNH QUANG HỌC VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG LÂM SÀNG THẦN
KINH.
Susa
V. Szaplel, MD. Optical Imaging and Its Role in Clinical Neurology. Arch
Neurol/Vol 58, July-2001, P 1061-1065.
Người
dịch: BS Bạch thanh Thủy
THUẬT
NGỮ NGHUYÊN MÔN CỦA CẤU TRÚC CHỨC NĂNG NÃO
TRONG BÀI
*
Cortical columns: Nhiều phần của tân vỏ não đã
cho thấy bao gồm nhiều đơn vị chức năng
cực nhỏ được mô tả như là những
nhóm riêng biệt của các nơ-ron tạo thành các
cortical columns mà bao trùm độ dày của lớp vỏ não
thường từ lớp bề mặt qua phần lớn
lớp giữa. Các nơ-ron trong một cột nói chung có
tất cả tính chất chức năng giống nhau( chúng
hoạt động đáp ứng với cùng một
dạng kích thích). Trong vỏ não thị giác, các kích thích
thường là những thành phần nhỏ của quang
cảnh thị giác ( đường được định
hướng, màu sắc, cử động đặc
biệt, trực tiếp...). Các nơron cũng có thể
được nhóm lại theo mắt đang cung cấp kích
thích (OD).
*
OD columns: Vỏ não thị giác nguyên thủy chứa các
cortical columns mà bao trùm bề dày của lớp vỏ và
được bao gồm nhiều nơ-ron đáp ứng
đầu tiên với tín hiệu đi vào từ mắt
phải hoặc mắt trái. những nơ-ron đã
chiếm ưu thế đầu tiên bởi mắt
phải tập hợp lại tạo thành cột (OD columns
của mắt phải) mà chạy song song tới và luân phiên
cùng với các cột chứa
các nơ-ron đáp ứng đầu tiên với những
tín hiệu đi vào từ mắt trái )OD columns của
mắt trái) và tạo thành dạng vạch khi được
nhìn trên một mặt phẳng từ vỏ não (tranh 2A phía
dưới). Những vạch này khoảng 500 (m và đã
được khám phá mới đây bằng bản đồ
điện sinh lý được tái tạo hoặc phân tích
chất phóng xạ dạng vết tiêm vào trong mắt
của các mô vỏ não trong khám nghiệm tử thi.
*
Orientation columns: Orientation columns mô tả các cortical columns
của các nơ-ron trong vỏ não thị giác nguyên
thủy trong đó tất cả các tế bào sẽ
hoạt động đầu tiên chỉ theo một
đường hoặc bờ của một hướng
đặc biệt (góc 10 độ, góc 20 độ...)
trong phạm vi của vùng thị giác của đối tượng
nghiên cứu ( như là mèo...) (tranh 2B). Orientation columns nói
chung bao trùm bề dày của vỏ não. Dường như,
chúng không sắp thành dạng vạch nhưng thường
xếp thành dạnh vòng hao khi được nhìn từ
bề mặt vỏ não.
*
Whiser barrels: Vùng vỏ não đại diện cho vùng
tiếp nhận của một râu đơn độc
ở chuột có thể thấy rõ của cơ thể như
là một khối tập hợp của các nơ-ron
được gọi là một barrel, khu trú ở lớp
vỏ não thứ IVcủa cỏ não nguyên thủy. Mỗi
sợi râu được đại diện bởi
một barrel khác nhau với kiểu cách 1:1
Những
tiến bộ và phát triển nhanh chóng của kỹ
thuật hình ảnh quang học trong suốt 15 năm qua
đã dẫn đến sự đổi mới đầy
hứa hẹn của hình ảnh phân giải cao trong nghiên
cứu chức năng của não. Điều này không
chỉ góp phần làm sáng tỏ cấu trúc và tính linh
hoạt của não mà còn làm tăng thêm hiểu biết
của chúng ta về
những động lực theo thời gian và không gian
của cơn động kinh vỏ não lan tỏa, dẫn
đến việc cải thiện những kỹ thuật
liên quan đối với phẫu thuật thần kinh trong
việc cắt bỏ ổ bệnh gây động kinh và có
thể giúp phẫu thuật cắt bỏ u não chính xác hơn
cũng như góp phần giúp hiểu biết về
chức năng nhận thức cao cấp hơn.
Hiện
tại những hệ phương pháp luận hiện có
để xác định cấu trúc và chức năng
của não thay đổi từ phép ghi với những
điện cực đơn tế bào tới hình ảnh
hoạt động của một số lượng
lớn các nơ-ron. Tuy nhiên chúng thay đổi nhiều
về độ phân giải theo thời gian và không gian.
Mặc dù là kỹ thuật có phần xâm lấn, hình
ảnh quang học của các tín hiệu nội tại có
ưu điểm về độ phân giải theo thời
gian và không gian tuyệt vời, tương ứng dưới
150-200 ms và 50-100 (m so sánh với độ phân giải
của hình ảnh cộng hưởng từ chức năng
là khoảng 1 đến 2 s và vài mm (thông thường
nhất). Độ phân giải theo thời gian của hình
ảnh quang học có thể được cải
thiện tới vài ms khi dùng những thuốc nhuộm
nhạy cảm điện áp, nhưng những thuốc
nhuộm như vậy nói chung độc với não,
hiện nay đã loại bỏ, không dùng trong những nghiên
cứu vivo. Độ phân giải theo không gian cao như
vậy cho phép hình dung một số cấu trúc trong
cấu tạo giải phẫu và chức năng của não
chẳng hạn như ocular dominance và orientaton columns của
vỏ não thị giác.
Hình
ảnh quang học hiện nay có thể phân tích kiểu
cấu trúc chức năng này cũng như những tính
chất động lực khác của vỏ não trên vivo.
Bằng
ánh sáng chói chiếu trên bề mặt não và bằng ghi và
phân tích các dạng ánh sáng phản xạ, người ta
có thể thu được bản đồ có độ
phân giải cao của những cấu trúc chức năng
của não dựa vào những tín hiệu nội tại.
Những tín hiệu nội tại được sinh ra như
là kết quả của hoạt động chuyển hóa
của hoạt động điện của các nơ-ron
và bởi vậy nó phản ánh gián tiếp hoạt động
của các nơ-ron. Những tín hiệu này phát ra sau
thời gian trì hoãn ngắn của đáp ứng với
hoạt động các nơ-ron gây nên. Nguồn gốc
của những tín hiệu bên trong được cho là do
những thay đổi trong thể tích và dòng chảy trong
các vi mạch, những thay đổi về hấp thu ánh
sáng hoặc huỳnh quang cũa các chromophores bên trong (ví
dụ như hemoglobin) và các tín hiệu tỏa sáng từ
nước và các ion. Trong giới hạn ánh sáng có
thể nhìn thấy (540-630 nm), tín hiệu dường như
đến trước hết từ sự tăng
deoxyhemoglobin (bắt đầu khoảng 200 ms sau kích thích),
sau đó do tăng thể tích và dòng máu. Một thành
phần nhỏ hơn của tín hiệu được
phản xạ bởi tăng mức oxyhemoglobin, bắt
đầu khoảng 15 giây sau khi bắt đầu kích thích.
Ở mức ánh sáng cận hồng ngoại tín hiệu
trội hơn nữa so với ánh sáng phân tán. Hình
ảnh quang học có thể cũng được
thực hiện bằng cách dùng các thuốc nhuộm
nhạy cảm điện áp, điều này được
áp dụng đối với não hoặc phần chuẩn
bị trước ghi. Thuốc nhuộm kết lại
đối với những màng dễ bị kích thích điện
và biến đổi điện thế màng thành tín
hiệu quang học và thu được bằng mạng
photodiode phản ánh trực tiếp hoạt động
của các nơ-ron.
LỊCH
SỬ
Lịch
sử của hình ảnh quang học bao gồm các nguyên lý,
thực hành và các quan sát của nhiều nhà nghiên cứu
qua nhiều thập kỷ. Sự thay đổi các tính
chất quang học của mô thần kinh xuất hiện cùng
với các hoạt động điện và chuyển hóa
đã được biết từ lâu, nhưng những
thay đổi này nhỏ và khó tạo thành hình ảnh.
Những tiến bộ về sau này sử dụng các
thuốc nhuộm nhạy cảm điện áp bên ngoài làm
biến đổi màu sắc của mô và các mạng
photodiode đã phát hiện một tín hiệu nhanh mà có
thể tạo được hình ảnh và đã phản
ánh trực tiếp hoạt động của các nơ-ron.
Vào
năm 1986, Blasdel và Salama dùng các thuốc nhuộm nhạy
cảm điện áp đối với vỏ não thể vân
của khỉ, một máy quay video và một phương pháp
phân tích mới lần đầu tiên đã cho những hình
ảnh phân giải cao đẹp mắt của ocular
dominance và orientaton columns trêân vivo của khỉ. Người
ta cũng đã chú ý tới một tín hiệu chậm
trong suốt quá trình ghi nhưng hình như đã không coi tín
hiệu này có vai trò đóng góp quan trọng với các hình
ảnh thu được. Về sau, Grinvald và cộng
sự đã chỉ ra rằng các tín hiệu chậm như
vậy, tín hiệu bên trong có thể được dùng
để khám phá cấu trúc chức năng, đặc
biệt, những orientation columns của mèo và whisker barrels
của chuột không sử dụng thuốc nhuộm.
Frostig
và cộng sự đã thông báo hình ảnh quang học phân
giải cao (100-150 (m, 200ms) của những tín hiệu
nội tại của ocular dominance và orientation columns
của mèo và khỉ sử dụng một camera CCD và
gợi ý rằng nguồn gốc chính của những tín
hiệu (dùng ánh sáng có bước sóng 570 nm) là do
những thay đổi về thể tích dòng máu nhưng
chỉ có 5% tín hiệu phản xạ lại. Ở
mức 600 nm, tín hiệu có thể liên quan nồng độ
oxy và hoặc với tình trạng bão hòa của hemoglobin và
30-40% tín hiệu phản xạ lại. Người ta cũng
đã ghi nhận rằng tín hiệu đó xuất
hiện trước những thay đổi thể tích máu
về mặt thời gian. Tại bước sóng cận
hồng ngoại 810nm, người ta đã có thể
vẽ hình orientaton columns qua màng cứng, và ở bước
sóng hồng ngoại (930 nm), người ta có thể
vẽ hình qua lớp xương mỏng ở mèo. Ánh sáng
phát tán dường như đóng vai trò nổi bật
trong việc góp phần tạo tín hiệu ở bước
sóng cận hồng ngoại và đã góp chỉ khoảng
10% tín hiệu.
Bằng
cách sử dụng hình ảnh quang phổ và phương
pháp đo lưu lượng dòng máu bằng laser-doppler
ở mèo, Malonek và cộng sự đã thấy rằng sau
khi kích thích cảm giác thị giác, có sự tăng ban
đầu của deoxyhemoglobin (bắt nguồn từ mao
mạch) sau đó giảm từ từ và liên quan cùng
với việc tăng toàn bộ lượng hemoglobin,
tiếp theo bằng tăng dòng máu não và
mức hemoglobin được oxy hóa khi mức
deoxyhemoglobin bắt đầu giảm. Sự tăng về
sau này của dòng máu và nồng độ oxyhemoglobin đã
được xem là ít khu trú đối với những vùng
hoạt động của các nơ-ron được so sánh
với sự tăng nồng độ deoxyhemoglobin dựa
trên những sự quan sát sớm hơn của Malonek và
Grinvald, điều này đã chỉ ra rằng sự tăng
oxyhemoglobin được ghi nhận theo không gian ít cùng
với cortical columns được hoạt hóa liên quan
với việc tăng sớm các mức deoxyhemoglobin. Người
ta đã kết luận rằng các phương pháp hình
ảnh dựa đơn độc trên những đáp
ứng thứ phát của mạch máu như là chụp
cắt lớp phát tia positron hoặc hình ảnh cộng hưởng
từ nhạy cảm với dòng máu thì có thể cung
cấp hình ảnh có độ phân giải thấp hơn
những phương pháp dựa trên sự tăng khởi
đầu của deoxyhemoglobin.
PHƯƠNG
PHÁP
Phần
lớn những hình ảnh vivo được thực
hiện mới đây trên các động vật bị gây
mê, nhưng chúng có thể thực hiện ở các động
vật và ngườit thức tỉnh. Hình ảnh quang
học ở người đòi hỏi một số
biến đổi so với các bước ở động
vật. Để tạo hình ảnh những tín hiệu bên
trong ở mèo và khỉ,
một thủ thuật mở sọ được
thực hiện trên vùng não muốn tạo hình ảnh, và
một buồng kim loại được đặt trên
vị trí và đánh
dấu sọ bằng bột hàn răng. Màng cứng
được lấy bỏ ở phần lớn các trường
hợp và sau đó buồng kim loại được
đổ đầy dầu silicone và được
bịt kín bằng nắp thủy tinh. Hệ thống
bịt kín này giúp giảm sự rung động của
mạch máu não, điều có thể cản trở
việc tạo hình ảnh. Trong nghiên cứu ở người,
thủ thuật khoan sọ được thực hiện,
một miếng kính mỏng có thể được đặt
trên bề mặt của
vỏ não để làm giảm rung động. Bề
mặt não được chiếu sáng dùng thiết bị
dẫn ánh sáng dẻo và trong suốt được cung
cấp bởi nguồn cung cấp năng lượng có
khả năng sản xuất ra dòng điện trực
tiếp có thể điều biến được và
đèn halogen tungsteng. Bộ lọc được sử
dụng để tạo ra các bước sóng theo yêu
cầu. Một bộ lọc xanh lá cây (546 nm) được
dùng để thu những hình ảnh ranh giới của
bề mặt mạch máu vỏ não và bộ lọc màu cam
(603) nm thường được dùng để thu
những hình ảnh toàn thể. Trong những nghiên cứu
ở người, cơ cấu này được biến
đổi để chứa nguồn sáng trong kính hiển
vi trong phẫu thuật. Camera (video hoặc CCD) được
đặt trên vỏ não và dụng cụ dẫn ánh sáng
được đặt trên dụng cụ chống rung
tự do. Trong những nghiên cứu ở người,
camera được gắn với kính hiển vi phẫu
thuật. . Các ống kính được gắn để
quan sát đầu tận cùng của camera và tập trung vào
các mạch máu vỏ não để thu được hình
ảnh ban đầu của ánhh sáng xanh (tranh 2A-B,trên đỉnh).
Về sau, camera được tập trung xuống sâu
khoảng vài trăm (m cho đến khi các mạch máu
bị mờ đi và bộ lọc được điều
chỉnh để tạo được hình ảnh như
mong muốn.
Kích
thích cảm giác (thị giác, cảm giác thân thể, thính
giác...) được thực hiện đối với
động vật theo một tỷ lệ qui định và
camera tập hợp ánh sáng phản xạ từ bề
mặt não trong suốt thời gian kích thích. Khi camera video
được sử dụng, một hệ thống
số hóa các tín hiệu video và gửi nó tới máy vi tính,
ở đó các tín hiệu được trung bình hóa. Các
tín hiệu thu được khác nhau và có thể sử
dụng quá trình phân tích. Phóng đại hình ảnh trước
khi số hóa có thể thực hiện bằng phép trừ
vi sai của hình ảnh tương tự từ hình
ảnh video. Các tín hiệu sau đó được phóng
đại. Các hình ảnh khác nhau có thể được
quan sát trên monitor, điều này giúp thông tin phản
hồi nhanh chóng trong quá trình nghiên cứu. Các tín hiệu
được vẽ bản đồ hoặc bản
đồ của các tín hiệu bên trong thu được
nhờ sự kết hợp khác nhau của phép trừ và
phép chia lẫn nhau của những tín hiệu được
trung bình hoá. Tín hiệu ánh sáng được phản
chiếu từ bề mặt não rất nhỏ (0,5-5%) khi so
sánh với hoạt động cơ sở; dường như
cần nhiều kích thích để trung bình hóa với nhau
giúp cải thiện tình trạng nhiễu. Để thu
bản đồ của ocular dominance, tín hiệu đã thu
từ kích thíchø mắt phải có thể bị chia
hoặc bị trừ với tín hiệu thu từ kích thích
mắt trái hoặc từ tình trạng không kích thích.
Đối với những bản đồ định hướng,
những tín hiệu sinh ra từ lưới đứng
dọc có thể được trừ với những tín
hiệu sinh ra từ lưới ngang hoặc từ một
phức hợp của những tín hiệu kết hợp
được chọn lựa trong quá trình đáp ứng
với nhiều hướng của lưới. Vùng
sẫm (hấp thu ánh sáng) trên bản đồ là vùng
của vỏ não đã được hoạt hoá trong quá
trình đáp ứng với kích thích (tranh 2).
KHẢ
NĂNG ỨNG DỤNG LÂM SÀNG
Hiện
nay, hình ảnh quang học của hoạt động não
người là một kỹ thuật mới được
nghiên cứu, nhưng đã có nhiều nghiên cứu trên
người đáng chú ý. Haglund và cộng sự đã xây
dựng được bản đồ quang học
của những bệnh nhân đã phẫu thuật
điều trị động kinh và so sánh chúng với ghi
hoạt động điện bề mặt vỏ não.
Bản đồ của hoạt động điện
bề mặt vỏ não đã thu được trong quá trình
hoạt động nhận thức và trong lúc phóng điện
kiểu động kinh. Trong nghiên cứu hoạt động
nhận thức, cố gắng để xác địng vùng
Broca và Wernicker đã được thực hiện ở
những bệnh nhân được gây tê cục bộ
trong quá trình nghiên cứu. Các hình ảnh đã được
ghi nhận lúc nghỉ ngơi, lúc bệnh nhân cử động
lưỡi, lúc tập nói rõ từ và trong lúc kích thích
bề mặt để làm ngừng nói. Các nhà nghiên
cứu đã phát hiện ra rằng vùng liên quan trong lúc nói
rõ từ đã khác
với vùng lúc cử động lưỡi. Những nghiên
cứu như vậy có thể giúp xác định tốt
hơn các vùng trong não và sau đó có thể hướng
dẫn để bảo toàn hơn nữa việc cắt
bỏ trong phẫu thuật.
Trong
những nghiên cứu về phóng điện trong động
kinh, Haglund đã tìm ra rằng những thay đổi
về mặt quang học cho thấy mức độ đáp
ứng liên quan với thời khoảng và cường
độ của kích thích (các diện cực kích thích-bề
mặt), điều này liên quan với những thay đổi
về điện. thêm vào đó, những thay đổi
về mặt quang học đi xuống dưới
vạch ranh giới sau giai đoạn phóng điện
ở nhiều bệnh nhân gợi ý khả năng ức
chế các nơ-ron hoặc ức chế bề mặt
hoặc các nguyên nhân khác.
Hình
ảnh quang học của hoạt động dạng động
kinh trong các phần não đã cho thấy nó là một phương
pháp có ích đối với các hướng nghiên cứu
đa dạng theo thời gian và không gian của cơn
động kinh lan tỏa. Ở giai đoạn sớm trong
những nghiên cứu vivo, đã thấy ổ động
kinh không cố định . Mới đây hơn, những
lớp cắt đã giúp làm sáng tỏ vai trò của
những lớp mỏng vỏ não khác nhau đã liên quan
tới khởi phát và lan truyền động kinh.
Những lớp cắt não từ bệnh phẩm của người
hoặc động vật cho cơ hội để nghiên
cứu hoạt động của tất cả các lớp
vỏ não được so sánh với hình ảnh quang
học trong vivo, các hình ảnh được giới
hạn ở bề mặt các thùy và thông thường vài
trăm (m độ sâu đầu tiên của vỏ não.
những quá trình như vậy thêm vào cùng với hình
ảnh quang học cũng
có thể có ích đối với việc nghiên cứu cơ
chế hoạt động và
hiệu quả của một số thuốc chống động
kinh và dĩ nhiên cả những thuốc khác được
dùng trong các bệnh lý
thần kinh khác.
Lợi
ích tiềm tàng khác của hình ảnh quang học
ở người là để xác định ranh
giới của u trước phẫu thuật cắt
bỏ. Trong một nghiên cứu đáng lưu ý trên vivo
của Haglund và cộng sự ở chuột, hình ảnh
quang học có dùng thuốc nhuộm tiêm vào trong tĩnh
mạch của những khối u và ranh giới của nó
được phân biệt với mô bình thường
kề nó có độ nhậy cảm và đặc
hiệu cao. Khả năng có lợi của việc cắt
bỏ chính xác hơn là điều mong muốn rõ ràng.
Mặc
dầu hình ảnh quanh học có thể ứng dụng
để nghiên cứu bệnh tâm-thể ở người
đối với những chức năng nhận thức
cao cấp, những nghiên cứu hiện nay được
giới hạn đối với những người
phải phẫu thuật thần kinh. Dường như
những nghiên cứu như vậy có thể được
bổ xung bằng cách sử dụng hình ảnh tín
hiệu quang học liên quan biến cố (EROS) sử
dụng ánh sáng cận hồng ngoại. Kỹ thuật này
hiện nay được sử dụng để tạo
hình ảnh đã gợi nên hoạt động của
vỏ não cao hơn qua hộp sọ ở người và
mới đây mang lại độ phân giải không gian vài
mm (ít hơn rõ rệt hình ảnh quang học nhưng tương
tự với hình ảnh cộng hưởng từ
chức năng) và độ phân giải theo thời gian
khoảng 20 ms (tỷ lệ lấy mẫu camera).
NHỮNG
ỨNG DỤNG TRONG KHOA HỌC THầN KINH.
Hình
ảnh quang học của các tín hiệu não đã mang
lại nhiều cách nhìn mới thú vị trong nghiên
cứu chức năng
của vỏ não. Trong nghiên cứu của Blasdel và
Salama về ocular dominance và orientaton columns ở khỉ, các
tác giả đãõ chứng minh rằng cấu trúc về
chức năng của orientation column đã không được
sắp xếp thành các thanh kẻ vạch vì các cột
định hướng xen kẽ như đã được
gợi ý sớm hơn bởi Hubel và Wiesel (mặc dầu
họ đã suy xét rằng các cột không sắc nét
về cấu tạo). Thay vào đó chúng xuất hiện
nhiều hình hoa thị. Nghiên cứu đó và một nghiên
cứu khác trên mèo của Bonhoeffer và Grinvald đã dẫn
đến việc chứng minh dạng tháp hoa nhỏ
nhiều hơn trong sắp xếp các orientation column.
Hiện
nay, người ta thừa nhận là tính linh động
của não không giới hạn
cho đến thời kỳ phát triển tới
hạn của nhiều tổ chức, và phương pháp
đo về khía cạnh không gian của việc tổ
chức lại các phần tiếp nhận hoặc sự
lan rộng thường được giới hạn
bằng việc ghi với các điện cực đơn
chậm và khó khăn. Hình ảnh quang học đã
được chứng ming là một phương pháp có
ích để đo đạc những thay đổi động
lực trong một số lớn các nơ-ron tại
một khoảng thời gian và do đó có ích lợc đặc
biệt trong việc nghiên cứu tính linh động
của não không chỉ theo thời gian mà còn cả theo không
gian. Polley và cộng sự đã tiến hành
một quan sát thú vị ở vùng vỏ não liên quan
với vùng vỏ não whisker-barrels những con chuột trưởng
thành, đã cho thấy tính mềm dẻo của vùng
xuất chiếu của whisker-barrels ở vỏ não do
chức năng cảm giác bị mất và kích thích
của môi trường mới. Trong nghiên cứu đó, người
ta đã lấy tất cả những râu lớn của
chuột chỉ để lại một râu và đã quan sát
thấy sự lan rộng của vùng xuất chiếu
chức năng còn lại của râu chuột ở vỏ
não. Dường như khi động vật bị lấy
ra khỏi chuồng của chúng và đặt vào một môi
trường mới để khảo sát đã có sự
co nhỏ rõ rệt của
vùng xuất chiếu của barrel ở vỏ não. Việc
co nhỏ và giãn nở của vùng vỏ não liên quan
với whisker-barrels chuột đã đảo ngược
trong lúc râu mọc lại.
Quan
sát không công bố của Szapiel và cộng sự đã phát
hiện dạng sọc trong hoạt động
của thùy đỉnh sau của một con khỉ nâu
thức tỉnh khi đáp ứng với dòng kích thích
thị giác lan rộng gợi ý một cấu trúc chức
năng không nhìn thấy được mới đây
đối với những dạng kích thích sử dụng
kỹ thuật hình ảnh quang học này. Dòng thị giác
là tri giác chuyển động khi chúng ta quay về phía trước
hoặc phía sau qua môi trường. Khi chuyển động
lên phía trước vật có xu hướng chạy
về phía sau chúng ta ở dạng lan rộng từ
một điểm trung tâm, khi di chuyển ra sau, dạng
xuất hiện là co nhỏ. Một dạng chuyển động
của các điểm thu nhỏ hoặc phóng to bắt
nguồn từ hoặc đi về phía điểm trung tâm
trên màn hình máy tính có
thể kích thích dòng thị giác khi được nhìn
bởi một người ở một khoảng cách đặc
biệt so với màn hình. Vỏ não thùy đỉnh dưới
của khỉ nâu đã cho thấy chứa nhiều nơ-ron
để đáp ứng với dòng thị giác.
Hình
ảnh quang học phân giải cao của các tín hiệu
nội tại và hình ảnh quang học thời gian
thực cùng với thuốc nhuộm màu nhậy cảm
điện áp trong vivo và vitro liên tục làm tăng thêm
hiểu biết của chúng ta về cấu trúc và
chức năng cơ bản của não, và nó sẽ cung
cấp một phương tiện quan trọng để
hiểu biết và điều trị
các bệnh thần kinh.
