
Trình
Bày TrưỜng HỢp Lâm Sàng
BS
Lê Văn Tuấn (Trường ĐH Y Dược TP Hồ
Chí Minh)
Nữ
bệnh nhân (bn) 41 tuổi nhập viện vì một
khối choáng chổ trong sọ.
Trước
đây bn hoàn toàn khoẻ mạnh cho đến một
tuần trước khi nhập viện, khi bn bị đau
khắp đầu, kèm theo yếu toàn cơ thể,
cảm giác mất thăng bằng, hơi quên, chán ăn
tiến triển, và nhìn mờ. Bn được chụp hình
não và ghi nhận một khối tăng quang không đồng
nhất do vậy bn được nhập viện.
Bn
là người El Salvador, nhập cư vào Mỹ được
11 năm; bà ta thường trở về thăm quê hương.
Bn bị sốt 5 tháng trước nhập viện, với
giai đoạn khó thở kéo dài, ho khan, và đau đầu
nặng thường làm bà ta thức giấc và cải
thiện khi bà ta ngồi dậy hay đứng. Sốt này
nhanh chóng bình phục không cần điều trị. Bn
sống với chồng và đã mang thai một lần. Bn
không dùng rượu, thuốc lá, hay thuốc ngừa thai.
Không có tiền căn triệu chứng thần kinh hay
bất thường thị giác, nhiễm trùng thời
trẻ thơ, hay buồn nôn, ói, động kinh, đau
ngực, ớn lạnh, đổ mồ hôi, tiêu phân đen,
xuất huyết âm đạo hay sụt cân. Xét nghiệm
về HIV âm tính.
Nhiệt
độ là 36o4, mạch 72, hô hấp 18. huyết áp 140/80
mmHg.
Khám
thực thể: bn tỉnh, định hướng tốt,
và có thể đàm thoại. Hạch không to. Cổ
mềm. Phổi, tim, bụng, tứ chi đều bình thường.
Khám
thần kinh cho thấy chức năng thần kinh sọ bình
thường. Sức cơ 5/5. phối hợp vận động
bình thường. Phản xạ gân cơ ++ ở tay và
gối trái và + ở nơi khác; phản xạ gấp
ở da lòng bàn chân.
Nước
tiểu bình thường, ngoại trừ cặn lắng có
5-10 bạch cầu và vài vi khuẩn. Hematocrit 35,8%; bạch
cầu 7100/mm3, với 61% là neutrophil, 29% lymphocyte, 5% monocyte,
4% eosinophil, và 1% basophil. Tiểu cầu 430.000/mm3, VS
21mm/giờ, thể tích trung bình hồng cầu là 73/micromét
khối, PT là 13,4 giây, PTT là 19,4 giây. Calci 11,3 mg%, phospho
2,5mg%, protein 8,7g% (albumine 3,9g%; globuline 4,8g%). Ure, creatinine,
glucose, uric acid, bilirubine toàn phần, Mg, điện giải
do962, LDH, alkaline phosphatase, TSH đều bình thường.
Hình
1. CT cắt ngang não tại mức thùy thái dương, cho
thấy vỏ não thùy thái dương tăng đậm
độ, gợi ý sự xuất hiện xuất
huyết (mũi tên). Có vùng giảm đậm độ
bao quanh, biểu hiện của phù chất xám và chất
trắng.
Hình
2. MRI-T2 cắt ngang tại mức thùy thái dương, cho
thấy tăng tín hiệu ở chất trắng nhiều
hơn chất xám, gợi ý sự xuất hiện hiện
tượng phù nề.
Hình
3. MRI-T1 cắt ngang trước (A) và sau (B) khi dùng cản
từ, cho thấy tăng tín hiệu ở vỏ não thùy
thái dương trái. Tăng tín hiệu là biểu hiện
xuất huyết bán cấp (methemoglobine). Có sự tăng
quang nhẹ xung quanh (B).
CT
não không cản quang cho thấy vùng phù lớn liên quan
chất xám và chất trắng thùy thái dương (Hình
1). Có hẹp các rãnh vỏ não và tăng đậm độ
ở thùy thái dương trái, gợi ý tình trạng
xuất huyết. Các điểm vôi hoá nhẹ ở
vỏ não thùy trán phải, không có phù khu trú. XQ phổi không
ghi nhận đặc biệt.
MRI
não (Hình 2 và 3) cho thấy một bất thường
1,8x2,9x1,8 cm tập trung ở vỏ não thùy thái dương
trái. Bất thường tăng đậm độ trên
T2 và dạng thùy trên T1; trên T1 có vùng sáng xung quanh, cho
thấy sụ xuất hiện của máu.
Có
một vùng phù rộng bao quanh sang thương, cũng như
tăng tín hiệu viền lan hướng vào não thất
(không có bằng chứng lan rộng vào dưới màng não
thất). Có một ổ thứ hai, tăng đậm
độ dạng nốt, mà ở hơi phía sau và dưới
của vùng bất thường chính. Ghi nhận hiệu
ứng choáng chổ nhẹ ở não thất bên bên trái.
Biểu hiện gợi ý sự xuất hiện khối
xuất huyết. Cuối cùng có một bất thường
giới hạn rỏ, đường kính 6mm, ở thùy trán
phải mà biểu hiện đậm trên T2; nó tương
ứng với đậm độ vôi hoá trên CT scan và có
lẽ là biểu hiện của u hạt củ không
rỏ nguyên do. Oå mắt, tín hiệu trống của lưu
thông máu trong sọ và các xoang cạnh mũi thì không đáng
kể. ECG: 74/phút và không có bất thường.
Điều
trị bắt đầu với phenytoin sodium kết
hợp với ranitidine, dexamethasone (4mg mỗi 6 giờ), và
vit K (10 mg uống mỗi ngày trong 3 ngày). Bn vẫn không
sốt và không có bất thường khác khi khám thần
kinh lại ở những lần sau. Xét nghiệm thêm trong
3 ngày sau ghi nhận mức phospho sau khi ăn là 1,6mg%.
calcium, magnesium, ure, creatinine, bilirubine, protein toàn phần,
albumine, globuline, SGOT, SGPT, và alkaline phosphatase vẫn trong
giới hạn bình thường.
THỦ
TỤC CHẨN ĐOÁN ĐÃ ĐƯỢC LÀM.
Chẩn
đoán phân biệt
Bs
DAVID E. THALER (giáo sư thần kinh, khoa đột quị):
nét chính trong trường hợp này là biểu hiện không
điển hình của các triệu chứng thần kinh. Các
triệu chứng của bn gợi ý một biểu
hiện trong sọ do viêm hay do tăng áp lực nội
sọ, tuy nhiên chúng không giúp định vị sang thương.
Kết quả của khám tổng quát và khám thần kinh
đặc biệt đều bình thường. Bn không có
sốt, không dấu màng não (mà thường biểu
hiện như sợ ánh sáng và cứng gáy), bệnh não,
rối loạn ngôn ngữ, thờ ơ, mất thị
lực, khiếm khuyết thị trường, phù gai,
mất cảm giác nửa người, liệt nửa người,
thất điều, hay các phản xạ bệnh lý.
Sự mất cân xứng các phản xạ ở chân có
lẽ không liên quan đến triệu chứng của bn.
Các biểu hiện không điển hình như vậy không
phải là không thường gặp trong thực tế lâm
sàng, tuy nhiên chúng đặc biệt là một thách
thức trong trường hợp này. Chúng ta có thể xem
lại các khảo sát hình ảnh học được không?
Bs
MICHAEL H. LEV (khoa hình ảnh học thần kinh): CT scan não (Hình
1) không có cản quang cho thấy một vùng tăng đậm
độ ở vỏ não thùy thái dương (TD) trái,
một biểu hiện gợi ý sự xuất huyết
(XH); nó được bao quanh bởi vùng phù giảm đậm
độ ở chất trắng và chất xám thùy thái dương.
Các hình MRI sau đó đã làm chắc sự xuất
hiện sang thương XH ở thùy TD trên bên trái. Trên hình
T2 (Hình 2), tín hiệu tăng đậm độ lan
rộng, gợi ý tình trạng phù, xuất hiện ở
chất trắng (nhiều hơn ở chất xám) của
thùy TD và vành tia bên trái, và lan rộng đến thùy
đỉnh và nắp trán. Hình T1 (Hình 3) cho thấy tín
hiệu tăng đậm độ ở thùy TD trái,
gợi ý sự XH bán cấp. Sau khi dùng gadolinium, có sự
tăng quang nhẹ ở viền. Không có bằng chứng
lưu lượng chậm hay cục máu trong lòng mạch.
Bs
THALER: người phụ nữ trẻ khoẻ mạnh này
có XH trong não ở thùy TD trái, mà tôi cho rằng là bán
cầu ưu thế ngôn ngữ. Gần như tất
cả những bn như vậy có rối loạn ngôn
ngữ cảm nhận. Khiếm khuyết thị trường
bên phải cũng điển hình trừ tụ máu đặc
biệt ở phía trước. Đau đầu thường
gặp. Động kinh gặp trong 25% trường hợp.
Hồi phục rất nhanh rối loạn ngôn ngữ
Wernicke trong XH thùy TD trái, mà có thể giải thích sụ
vắng mặt rối loạn ngôn ngữ ở bn này
một tuần sau khi khởi bệnh.
XH
trong não là một biểu hiện mà đa số thường
gặp ở người già với cao huyết áp
(Bảng 1). Ở Rochester, Minnesota, tỉ lệ ở người
35-54 tuổi là 3/100.000; trên 75 tuổi là 571/100.000. vài
chủng tộc có nguy cơ cao như người Nhật
trên 40 tuổi là 120/100.000. Cao HA là nguyên nhân đa số
ở người già nhưng hiếm ở người
trẻ. Vị trí ở ngoại vi vỏ não là vị trí
ít gặïp nhất; XH vào bèo sẫm, tiểu não, đồi
thị, và cầu não thì thường gặp hơn. Ơû
người trẻ với XH não không do chấn thương,
chẩn đoán thường nhất là dị dạng
mạch máu, chẳng hạn như dị dạng động-tĩnh
mạch, phình động mạch, hay u mạch máu dạng
hang. U XH luôn luôn là chẩn đoán được đề
cập, nhất là ở bn không cao HA. MRI cản quang thường
được làm vài tuần sau khi XH não, để phát
hiện các sang thương cơ bản mà không rỏ khi
XH chồng lên.
Bảng
1. Cơ Chế XH Trong Não
Cao
HA
Chấn
thương
Dị
dạng mạch máu
Phình
động mạch
Dị
dạng động-tĩnh mạch
U
mạch máu dạng hang
U
Rối
loạn đông máu
Bệnh
rối loạn đông máu
Dùng
thuốc kháng đông
Dùng
tác nhân tiêu sợi huyết
Bệnh
mạch máu dạng bột ở não
Huyết
khối tĩnh mạch và tăng áp lực tĩnh mạch
Nhồi
máu XH
Dùng
các tác nhân giống giao cảm (như., cocain)
Viêm
mạch máu
Các
rối loạn XH, cả hai tự phát và do điều
trị, là chẩn đoán phân biệt ở người
trẻ, tuy nhiên bn không có vấn đề trên. Huyết
khối tĩnh mạch (TM) hay xoang TM não với nhồi máu
và XH có thể xảy ra, trong trường hợp đó bn
có thể biểu hiện đau đầu nhẹ hay
nặng như ở bn này. Tuy nhiên, phù gai trong 50%, động
kinh 29%, giảm ý thức 29%; bn này không có các biểu
hiện trên. Hơn nửa, tiền sử của bn không
gợi ý tình trạng tăng đông, chẳng hạn như
huyết khối tĩnh mạch sâu, thuyên tắc phổi,
hay xẩy thai tự phát trong 3 tháng đầu hay tiền
sử gia đình có tình trạng tăng đông. Tuy nhiên,
biểu hiện hình ảnh học không giúp chẩn đoán
cũng không loại trừ trường hợp này.
Bn
có sốt nhẹ 5 tháng trước. Nếu bệnh sử
này có liên quan đến tình trạng của bn thì
chẩn đoán phân biệt sẽ hẹp hơn. Các nét chính
của bệnh trước đây mà hồi phục
tự phát là sốt, đau đầu, khó thở, và ho
khan. Giải thích có lẽ là tình trạng nhiễm trùng
phổi với tác nhân không điển hình, mắc
phải ở cộng đồng. Không có đặc điểm
khác gợi ý viêm nội tâm mạc nhiễm trùng hay
nhiễm trùng hô hấp trên ở các xoang hay nơi khác.
Đau đầu mà đi kèm giai đoạn đó làm
phức tạp thêm bệnh cảnh của bn. Thức và
đau về đêm mà nặng khi bn nằm ngửa gợi
ý do tăng áp lực nội sọ (TALNS). Tuy nhiên khó có
sang thương khối đủ lớn gây TALNS và
giảm tự phát mà không để lại dấu vết
trên X-quang. Có những tình trạng khác không phải là
sang thương khối nhưng gây TALNS; một số trong
số chúng như não úng thủy hay huyết khối TM hay
xoang TM não, có thể giảm tự phát. Không có bằng
chứng hình ảnh của một trong hay trường
hợp này, mặc dù chụp TM hay mạch máu MRI với
cản quang được yêu cầu để loại
trừ huyết khối TM hay xoang TM não. Yếu và đau
đầu lần đầu và hồi phục nhanh chóng, mà
tôi nghĩ là dưới 1 tuần. Tôi tin rằng 1
tuần là quá ngắn của giai đoạn huyết
khối TM để gây ra TALNS lành tính và rồi thì
hồi phục. Trong bệnh toàn thân, đặc điểm
đau đầu của bn này là không đặc hiệu và
có thể không phải là TALNS.
Việc
cho rằng sốt của bn liên quan đến các biểu
hiện hiện tại, tôi nghĩ rằng XH não là hậu
quả của viêm mạch máu não (Bảng 2). Ba hội
chứng thần kinh-phổi không nhiễm trùng chính mà
kết hợp với viêm mạch máu là-bệnh u hạt
của Wegener, sarcoidosis, và ban XH Henoch-Schonlein-Tuy nhiên tất
cả bệnh này thì không phù hợp. Bệnh sinh của
viêm động mạch nhiễm trùng liên quan hoặc
với lan theo đường máu, như viêm nội tâm
mạc nhiễm trùng, hay lan trực tiếp từ ổ
nhiễm trùng kế cận, như trong viêm màng não do
mycobacterium hay viêm tắc TM nhiễm trùng do hậu quả
của bệnh xoang. Không có bằng chứng cho rằng bn
này có một trong những bệnh kể trên.
Bảng 2. Các
Hội Chứng Viêm Mạch Máu Não Đặc Biệt
Những Bệnh Kết Hợp Với XH Trong Não
Viêm
mạch máu hoại tử nguyên phát
Viêm
nút quanh động mạch
Bệnh
u hạt Wegener
Viêm
mạch máu kết hợp với bệnh hệ thống
Lupus
ban đỏ hệ thống
Viêm
khớp dạng thấp
Sarcoidosis
Bệnh
Behcet
Viêm
mạch quá mẫn
Ban
XH Henoch-Schonlein
Viêm
mạch do thuốc
Viêm
mạch kết hợp với nhiễm trùng
Nhiễm
trùng vi khuẩn thường kết hợp với viêm
nội tâm mạc nhiễm trùng
Nhiễm
nấm
Nhiễm
siêu vi
Nhiễm
ký sinh trùng
Bệnh
phổi gốc của bn có lẽ là viêm phổi không
điển hình. Những viêm phổi này thường
tự lành và thường kèm với sốt, ho khan, khó
thở, và nhất là, đau đầu. Bn này không bị
nhiễm HIV và không có suy giảm miễn dịch. Do đó,
vấn đề là nhận ra nhiễm trùng ở người
khoẻ mạch, tự giới hạn, và kèm với viêm
mạch hệ thần kinh trung ương.
Nguyên
nhân được biết thường gặp nhất
của viêm phổi không điển hình là do Mycoplasma
pneumoniae. Khoảng 5% có biểu hiện thần kinh.
Bệnh sinh của biểu hiện thần kinh là do
hoặc xâm lấn trực tiếp vào hệ thần kinh
trung ương do độc tố hay do kháng thể
được tạo ra vì viêm phổi. Biến chứng
thần kinh bao gồm viêm não-màng não, viêm đa rễ
thần kinh (bao gồm hội chứng Guilain-Barre), bệnh
thần kinh sọ, loạn thần cấp, thất điều
tiểu não, và viêm tủy cắt ngang. Đột quị
nhủn não và XH thì ít gặp, tuy nhiên có những cố
gắng để tìm sự liên kết mycoplasma với viêm
mạch máu não. Viêm mạch do u hạt của hệ
thần kinh là viêm mạch gần như đặc
biệt khu trú ở các mạch máu nhỏ ở màng não và
nhu mô. Do XH não có thể xảy ra do các viêm mạch có
thể điều trị được này, người
ta cho rằng bất cứ sinh thiết nào được
làm vì XH não vô căn, các màng não như màng mềm, màng
nhện nên được lấy trong các mẫu sinh
thiết. Đặc biệt, ở bn viêm mạch do u
hạt, các tiểu thể như mycoplasma được tìm
thấy trong các tế bào khổng lồ, gợi ý là
một nguyên nhân liên quan.
Tác
nhân sinh bệnh thường nhất của viêm động
mạch nhiễm trùng, khi không có viêm nội tâm mạc và
viêm màng não, là nấm. Aspergillus fumigatus có khuynh hướng
xâm lấn thành mạch máu và có thể kết hợp
với XH dưới màng nhện và XH não. Không phải
tất cả nấm đều có thể là nguyên nhân gây
bệnh phổi ở vật chủ bình thường,
với sự hồi phục tự phát. Bệnh aspergillus
lan tỏa thì hiếm gặp nhưng không phải không có.
Nấm
có thể gây nhiễm ở phổi của người có
miễn dịch bình thường gồm Histoplasma capsulatum,
Blastomyces dermatitidis, Coccidioides immitis, và các loài actinomyces.
Nhiễm nấm ở người bình thường cũng
như người suy giảm miễn dịch bao gồm các
tác nhân như Cryptococcus neoformans, Nocardia asteroides, Sporothrix
schenckii, Penicillium marneffei, và các loài geotrichum, tuy nhiên các tác
nhân này có lẽ ít lan từ phổi vào hệ thần
kinh trung ương ở người bình thường hơn
ở người giảm miễn dịch.
Nhiễm
C. immitis thường ở vùng Arizona va thung lũng trung tâm
của California và, ngoài Mỹ, trong vùng rộng lớn bao
gồm Guatemala, Honduras, Nicaragua, và El Salvador. Nhiễm nấm
coccidioidose có thể vài tháng sau bệnh phổi. Mặc dù
suy giảm miễn dịch làm tăng nguy cơ lan tỏa
bệnh, đa số bn với bệnh lan toả thường
là người có miễn dịch bình thường.
Bệnh ngoài phổi có triệu chứng gặp dưới
1% những người bị viêm phổi, mặc dù
khảo sát nước tiểu và mắt của bn
nhiễm trùng đã cho thấy có sự lây nhiễm theo
đường máu không triệu chứng lên đến
một nửa trường hợp. Các màng não bị liên
quan trong một phần ba trường hợp bệnh ngoài
phổi và thường là vị trí có biểu hiện lây
nhiễm lâm sàng duy nhất. Thậm chí ở những người
viêm màng não được chứng minh trên giải
phẩu bệnh, tuy nhiên, các dấu hiệu màng não thường
chỉ gặp trong 50% trường hợp.
Vài
báo cáo bệnh học mô tả viêm mạch với
nhiễm coccidioidose hệ thần kinh trung ương.
Biểu hiện lâm sàng của trường hợp này liên
quan chặc chẽ với nhiễm coccidioidose ở ngực
theo sau là lan theo đường máu vào hệ thần kinh
trung ương, đưa đến viêm mạch và XH não.
Tuy nhiên, biểu hiện là sự giải thích khá bất
thường của XH não ở bn này. Dịch tể
học của XH não gợi ý bn này có lẽ có dị
dạng mạch máu, u, hay huyết khối TM.
Tiếp
cận chẩn đoán trong trường hợp này nên
được bắt đầu bằng các khảo sát
huyết thanh, chẳng hạn như cố định
bổ thể, khuếch tán miễn dịch, hay các xét
nghiệm về kết tập latex, để nhận ra tác
nhân gây bệnh phổi. Chọc dò thắt lưng có
lẽ không cung cấp thông tin chẩn đoán đủ
nhanh và đặc hiệu để giúp quyết định
điều trị, mặc dù nó có lẽ nên được
làm. Chụp mạch não đồ, mà phát hiện những
bất thường mạch máu trong khoảng một
nửa bn XH trong sọ không do chấn thương mà không
có sang thương choáng chổ cơ bản nào được
biết, nên được đề cập trong trường
hợp này. Ơû những bn XH não và biểu hiện
mạch não đồ bình thường, lấy bỏ
tụ máu bằng phẩu thuật có thể trợ giúp
chẩn đoán. Dựa trên lâm sàng và hình ảnh học,
bn này không yêu cầu can thiệp phẩu thuật thần
kinh cấp cứu để cho ích lợi điều
trị ngay. Không có bằng chứng thuyết phục để
giải thích XH của bn này, tuy nhiên, một mẩu sinh
thiết, bao gồm mẩu từ màng mềm não, nên
được làm để khảo sát mô học bệnh
lý.
Chẩn
đoán lâm sàng
U
NÃO.
Chẩn
đoán của Bs DAVID E. THALER
XH
não thùy.
Viêm
mạch do nấm?
THẢO
LUẬN BỆNH HỌC
Bs
MATHHEW P. FROSCH (Bệnh học thần kinh): thủ thuật
chẩn đoán là sinh thiết não mở. Khảo sát cho
thấy nhồi máu với sự tích tụ đại
thực bào và mô hạt sớm (Hình 4). Trong màng mềm não,
ghi nhận vài TM bị huyết khối (Hình 5). Các cục
huyết khối cho thấy những mức độ
tổ chức khác nhau, với vài nguyên bào sợi phát
triển bên trong (Hình 6). Vắng mặt các vết
nhuộm trên các sợi đàn hồi (Hình 7) đã làm
chắc sự hợp nhất của các mạch máu bị
huyết khối này như là những TM (ngược
với các động mạch kế cận). Không thấy
bằng chứng nhiễm trùng. Chẩn đoán bệnh
học, vì vậy, là huyết khối TM não, mà đưa
đến nhồi máu tiến triển của thùy TD sau bên
trái.
Hình
4. Mẩu sinh thiết não cho thấy nhồi máu vỏ não,
với thâm nhiễm đại thực bào và mô hạt
sớm.
Hình
5. Huyết khối TM ở TM màng mềm
Hình
6. Huyết khối trong lòng mạch cho thấy bằng
chứng về sự tổ chức, tăng sinh nguyên bào
sợi bên trong và các kên mạch máu nhỏ.
Hình 7.
Huyết khối trong TM được nhận biết
nhờ vắng mặt các sợi đàn hồi. Ngược
lại, động mạch kế cận chứa các
sợi đàn hồi trong (đầu mũi tên).
Huyết
khối TM não là nguyên nhân đột quị tương
đối hiếm gặp. Trong tình trạng này, huyết
khối TM khu trú (TM dẫn lưu nông hay sâu) hay xoang TM
của sọ đưa đến thiếu máu cục
bộ, nhồi máu, hay cả hai, với hậu quả
thiếu sót thần kinh sau đó. Đau đầu
được nhận biết trong một loạt ca lâm sàng
như là triệu chứng đầu tiên, mặc dầu
phù gai, dấu cục bộ (kể cả co giật), và
thay đổi ý thức cũng nổi bật. Nói chung, vài
biểu hiện có thể gặp; bao gồm TALNS riêng
biệt (với đau đầu và phù gai), dấu cục
bộ, bệnh não cấp sau đó, và hội chứng
xoang hang (với đau đầu, đau mặt với
mặt đỏ, phù, liệt vận nhãn, xung huyết
ổ mắt và võng mạc). Có nhiều loại liên quan
dẫn lưu TM, mặc dù thường gặp nhiều
vị trí huyết khối. Xoang dọc trên, riêng biệt
hay kết hợp với các vị trí khác, là vị trí thường
gặp nhất.
Yếu
tố nguy cơ quan trọng là tình trạng tăng đông.
Có thai và đặc biệt những thay đổi ở
sản phụ là những yếu tố nguy cơ quan
trọng; chúng có thể là yếu tố nguy cơ ưu
thế trong hơn 20% trường hợp. Dùng thuốc
ngừa thai uống cũng là yếu tố nguy cơ. Đột
biến yếu tố V Leiden và biến đổi đa hình
guanine thành adenine cũng là những yếu tố nguy cơ.
Trong
trường hợp này, sau khi chẩn đoán dựa vào
sinh thiết, bn được tìm đột biến
yếu tố V Leiden, đa dị hình prothrombine, thiếu
protein C, S và antithrombine III; tất cả đều âm tính.
Không có bằng chứng kháng thể anticardiolipin. Vì bn
được điều trị kháng đông, các
khảo sát về chức năng của dòng thác đông máu
đã không được làm.
CHẨN
ĐOÁN GIẢI PHẨU HỌC
Huyết
khối TM não, đưa đến nhồi máu XH ở thùy
TD sau bên trái.
Bổ
sung
Bs
FERDINANDO S. BUONANNO (Thần kinh học): tôi đã khám
lại bn 17 tháng sau đó. Bn vẫn dùng kháng đông và không
có đau đầu hay co giật, không có triệu
chứng cục bộ, và không có biến chứng XH.
(Dịch
từ Case Records Of The Massachussette General Hospital, Case 16-2002,
N Engl J Med 2002, Vol. 346, No. 21: 1651-1658).
