| |

MỘT
TRƯỜNG HỢP HUYẾT KHỐI TĨNH MẠCH
NỘI SỌ
VÀ NHIỄM TRÙNG HẬU SẢN
BS Phan
Thị Mỹ Hạnh và BS Phan Công Tân, BV Nhân dân Gia Định
BỆNH
ÁN
Nữ
bệnh nhân Ma S T, 22 tuổi, công nhân mây tre lá, được
nhập bệnh viện Nhân dân Gia Định ngày 16 tháng
8 năm 2002 v́ yếu liệt nửa người trái.
Bệnh nhân đă là bệnh cũ của khoa Sản B trước
đó từ 4/8 đến 16/8/2002 với chẩn đoán
tiền sản giật trên sản phụ sanh con so bằng
sanh hút (đạm niệu > 5 g/L, phù chân, tăng
huyết áp 150/100 mmHg) bị nhiễm trùng hậu sản.
Trong giai đoạn đó, bệnh nhân đă được
điều trị bằng kháng sinh liên tục trong bảy
ngày với Cefaxon 2 g/ngày và metronidazol 1.5 g/ngày. Và được
xuất viện sau đó sau khi dứt sốt được
hai ngày. Tuy nhiên chỉ sau xuất viện được 3
giờ, bệnh nhân đột ngột bị bí tiểu và
tế yếu nửa người trái, bắt đầu
từ chân sau đó lan lên đến tay. Lúc tái nhập
viện (18 giờ 40 ngày 16/8), bệnh nhân trong trạng thái
sốt cao 3901 C, huyết áp 150/90 mmHg, yếu liệt
nửa người trái. Sau nhập viện khoảng
gần 1 giờ, bệnh
nhân
có lên một cơn co giật với miệng bị méo
sang phải, huyết áp lúc đó bằng 180/110 mmHg, nên
được xử trí như là một sản giật.
Ngày 19/8, bệnh nhân được chuyển Khoa Săn Sóc
Đặc Biệt Nội và bị liệt thêm chân
phải trong cùng ngày đó. Trong suốt thời gian cho
đến ngày 20/8, bệnh nhân luôn luôn trong t́nh trạng
số cao.
Về
tiền căn, bệnh nhân và gia đ́nh không ghi nhận
được là có bị ệnh thận, tăng
huyết áp, và bệnh tim mạch trước đó.
Thăm
khám thực thể tại Khoa Săn Sóc Đặc
Biệt Nội ghi nhận một nữ bệnh nhân có
hội chứng nhiễm trùng, sốt 390 C, mạch 100/phút,
huyết áp 130/80 mmHg, nhịp tim đều, có một ít
ran ứ đọng, bụng mềm nhưng có bờ gan 3
cm dưới bờ sươn. Về mặt ư thức tri
giác, bệnh nhân tỉnh, Glasgow Coma Scale bằng 15 điểm.
Bệnh nhân có triệu chứng liệt nửa người
trái và chân phải (cơ lực 0/5), liệt dây VII trung
ương trái, liệt dây VI hai bên, phù nhẹ gai thị
hai bên nhưng không có dấu màng năo. Triệu chứng
giảm cảm giác sâu nửa người bên trái cũng
được ghi nhận. Các bất thường phản
xạ đă được
ghi nhận gồm có tăng phản xạ gân cơ hai chi
dưới (3+, so với phản xạ gân cơ chi trên là
1 đến 2+), phản xạ gan bàn tay cằm + bên
phải, và dấu Babinski + cả hai bên.
Bệnh
cảnh nhiễm trùng, co giật, liệt nửa thân trái và
chân phải kèm bí tiểu xảy đến cấp tính trên
một nữ bệnh nhân trong giai đoạn hậu
sản gợi ư nhiều tới một nhồi máu năo do
huyết khối tĩnh mạch nội sọ hoặc / hay
phải phân biệt với một ap-xe năo. Trên cơ
sở định hướng chẩn đoán đó, các xét
nghiệm và thăm ḍ cận lâm sàng cần thiết đă
được thực hiện và cho kết quả như
sau: -TC:12’’1(11’’-13’’), TCK:24’’1
(30’’-42”), tiểu cầu:162.000/mm3,
TĐLM h1:110mm
h2:143mm, taux de prothrombine :100%, CTM: 10000 bạch cầu/mm3
(đa nhân trung tính:85%), dung tích hồng cầu: 21%, đạm
niệu 24 giờ tăng cao (16/8: 2.85 g/L, 22/8:2.6 g/L), LE cell:
âm tính.
Chụp
CT scan sọ năo ngày 18/8 ghi nhận trên h́nh không thuốc
cản quang có hiện tượng giảm đậm độ
bán cầu hai bên, nhiều ở chất trắng dưới
vỏ, rơ ở vùng trán đính bên phải và gây di
lệch nhẹ liềm năo sang trái. Bên bán cầu phải
th́ có h́nh ảnh tăng đậm độ tự phát
gợi ư của một xuất huyết. CT scan có cản
quang không ghi nhận có bắt cản quang bất thường
cũng như không phát hiện được dấu delta
trống. H́nh ảnh giảm đậm độ trên CT năo
không theo phân bố của vùng tưới máu động
mạch gợi ư nhiều đến một nhồi máu do
tắc xoang tĩnh mạch dọc trên do đó MRI và MRA năo
bộ đă được chỉ định thêm với
kết quả như sau. H́nh T1W không gadolinium cho thấy có
giảm tín hiệu trong chất trắng
và vùng dưới
vỏ cả hai bán cầu, nhiều nhất ở vùng trán
đính (bên phải nhiều hơn bên trái), và các rănh
vỏ năo bị xoá mờ. Trên T2W, các vùng nói trên tăng
tín hiệu ngoài ra có những nốt giảm tín hiệu
trong ổ tổn thương bên phải gợi ư của
xuất huyết. H́nh ảnh chụp mạch máu cộng hưởng
cho thấy toàn bộ 2/3 trước của xoang tĩnh
mạch dọc trên bị tắc.
|
|
|
|
Kết
quả MRI và MRA đă giúp xác định chẩn đoán
nhồi máu năo do huyết khối xoang tĩnh mạch
dọc trên do đó điều trị kháng sinh trong 14 ngày
(cefaxon 4 g/ngày, metronidazol 1.5 g/ngày, vancomycin 2 g/ngày) phối
hợp chống động kinh (phenytoin 200 mg/ngày) và kháng
đông (lovenox 0.4 mL x 2/ngày trong 8 ngày; kế tiếp là
sintrom 0.25 mg/ngày và aspegic 0.5 g/ngày cho đến lúc xuất
viện).
Sau
7 ngày điều trị như trên, triệu chứng
sốt và đau đầu thoái lui,dấu hiệu liệt
dây VII trung ương bên trái cũng thuyên giảm, nửa
người bên trái nhận biết trở lại cảm
giác nhưng cơ lực th́ chưa phục hồi, và gan
vẫn to hơn 5 cm dưới bờ sườn. Các xét
nghiệm nghiệm kiểm tra sau đó như CRP và test
Widal đều âm tính, số lượng bạch cầu
bằng 4420 / mm3, nhưng test ANA dương tính. Bệnh
được tiếp tục điều trị bằng
vancomycin 2 g/ngày cho đủ 21 ngày, opekacin 1 g/ngày cho đủ
7 ngày, và xuất viện ngày 25/9/2002 trong t́nh trạng ư
thức tri giác b́nh thường, không sốt, hết
dấu hiệu liệt dây VII trung ương trái, phục
hồi cảm giác nửa thân bên trái, tuy nhiên cơ
lực th́ vân chưa phục hồi.
BÀN
LUẬN
Trường
hợp nữ bệnh nhân này đă có bệnh cảnh lâm
sàng với các đặc điểm sau đây: (1) xẩy
đến đột ngột và cấp tính kiểu
của tổn thương mạch máu năo và có định
vị tổn thương ở các vùng cạnh đường
dọc giữa hai bên của vùng trán đính (bí tiểu,
liệt hai chi dưới); (2) có hai triệu chứng
nổi bật là đau đầu và co giật; (3) có t́nh
trạng nhiễm trùng hậu sản; (4) có diễn
tiến xấu dần cho đến khi được
điều trị đặc hiệu. Các đặc điểm
này rất phù hợp với bệnh cảnh của
một huyết khối tĩnh mạch nội sọ
thể có triệu chứng năo cục bộ.1 Theo y văn
huyết khối tĩnh mạch nội sọ có
biểu lộ lâm sàng rất đa dạng nhưng trong
đó các triệu chứng chính yếu hay gặp nhất
gồm có đau đầu, phù gai thị, dấu định
vi thần kinh, co giật và rối loạn ư thức tri giác.1
Các thể lâm sàng thường gặp của huyết
khối tĩnh mạch nội sọ đă đượ
liệt kê trong y văn gồm có thể tăng áp lực
nội sọ đơn độc, thể có triệu
chứng năo cục bộ, thể bệnh năo bán cấp, và
thể huyết khối gây tắc xoang hang.
Chẩn
đoán huyết khối tĩnh
mạch nội sọ dựa trên sự phối hợp các
yếu tố lâm sàng và yếu tố nguy cơ gợi ư
với thăm ḍ h́nh ảnh học, trong đó có giá
trị nhiều nhất là chụp cộng hưởng năo
bộ (MRI), chụp cộng hưởng mạch máu năo
(MRA) và chụp mạch máu năo số hoá xoá nền
(DSA).1,2,3 H́nh ảnh CT đặc thù và trực tiếp
của huyết khối tĩnh mạch nội sọ có
thể được gặp là dấu dây thừng (cord
sign), dấu tam giác đặc (dense triangle), và dấu delta
trống (empty delta sign).1 MRI là phương thức thăm ḍ
h́nh ảnh được chọn lựa cho chẩn đoán
nhồi máu năo do huyết khối tĩnh mạch nội
sọ. H́nh ảnh MRI trong huyết khối xoang tĩnh
mạch dọc trên cho thấy tổn thương nhồi
máu xâm phạm các vùng vỏ do các tĩnh mạch vỏ năo
đổ về xoang tĩnh mạch dọc trên, cũng như
xâm phạm cả vùng tiếp hợp chất xám-chất
trắng trong các khu vực đó. Xuất huyết thứ
phát trong các ổ nhồi máu nói trên cũng rất hay
được gặp. Mất tín hiệu ḍng chảy
của máu (flow void) trong xoang tĩnh mạch cũng là
một dấu hiệu đáng tin cậy khác.2 cùng với
MRI, MRA cũng là môt phương pháp thăm ḍ h́nh ảnh
học có độ nhạy cao trong phát hiện các
huyết khối tĩnh mạch nội sọ. Mra c̣n là
một phương đơn giản để theo dơi
hiệu quả của điều trị kháng đông trên
xoang tĩnh mạch bị huyết khối.3
Về
mặt nguyên nhân của huyết khối tĩnh mạch
nội sọ, ở nữ bệnh nhân của thông báo này
cũng đă có hai yếu tố đă được công
nhận như là yếu tố nguyên nhân của huyết
khối tĩnh mạch nội sọ gồm có t́nh
trạng hậu sản và sự hiện diện của
một hội chứng nhiễm trùng.1 Xét nghiệm ANA dương
tính trong trường này cần được theo dơi và
kiểm tra tiếp tục, bởi v́ bệnh lupus hệ
thống cũng được nhận dạng như là
một yếu tố nguyên nhân của huyết khối tĩnh
mạch nội sọ.1
Bệnh
nhân đă được áp dụng chế độ
điều trị phối hợp kháng sinh-kháng đông-chống
động kinh như y văn đă đề cập1
với kết quả khả quan. Bệnh nhân cần
được theo dơi lâu dài v́ các di chứng của
bệnh và khả năng tái phát của huyết khối
tịnh mạch nội sọ.
TÀI LIỆU THAM
KHẢO
1.
Bousser M.G., Barnett H.J.M.
(1998). Cerebral Venous Thrombosis. In Henry J.M. Barnett, J.P. Mohr,
Bennett M. Stein, Frank M. Yatsu (eds) Stroke: Pathophysiology, Diagnosis, and
Management, Churchill Livingstone, Philadelphia, p 623-647.
2.
DeLaPaz R.L., Mohr J.P. (1998).
Magnetic Resonance Scanning. In Henry J.M. Barnett, J.P. Mohr, Bennett M. Stein,
Frank M. Yatsu (eds) Stroke: Pathophysiology, Diagnosis, and Management,
Churchill Livingstone, Philadelphia, p 227-256.
3.
Lee D.H. (1988). Magnetic
Resonance Angiography. In Henry J.M. Barnett, J.P. Mohr, Bennett M. Stein, Frank
M. Yatsu (eds) Stroke: Pathophysiology, Diagnosis, and Management, Churchill
Livingstone, Philadelphia, p 284-295.

|