Động kinh là
chứng bệnh đă được Hippocrate mô tả -
vừa có tính chất kinh điển, vừa có tính
chất hiện đại.
Là chứng
bệnh phổ biến của thần kinh, tâm thần...
là loại bệnh vừa có tính chất cấp cứu,
vừa có tính chất măn tính của y học ...
Có nhiều cấu
trúc của năo tham gia vừa cơ chế của động
kinh - trong đó có vai tṛ của khứu năo.
MỞ
RỘNG KHÁI NIỆM KHỨU NĂO
Khứu
năo không chỉ đơn thuần có chức năng
khứu giác - khứu năo thuộc tổ chức năo
cổ.
Hiện
nay trên cơ sở những thành phần giải phẫu
sinh lư đă biết từ lâu; nhờ những phương
tiện sinh lư thần kinh, thần kinh sinh lư lâm sàng - khái
niệm về khứu năo được mở rộng
với nhiều đường ṿng thần kinh có
những chức năng liên hợp về tâm thần -
thần kinh đặc biệt trong "nhận định"
về động kinh thái dương.
Khái
niệm cho khứu năo là nơi tiếp thu nhận
thức khứu giác (h́nh 1 và 2).
Từ
hành khứu, ở ngay trên mảnh sàng, tiếp thu các
sợi từ khứu năo lên, tiếp đó là dăi
khứu.
Dăi
khứu vào năo th́ chia thành ba rễ ở ngang mức
của khoang thủng trước : rễ trong vào hồi
viền thể trai, rễ giữa qua khoang thủng trước
vào vách trong suốt, rễ ngoài vào hồi thứ 5 thái
dương (hồi hải mă) tới nhân hạnh nhân và
sóng Ammon. Toàn bộ là hồi viền lớn Broca.
Các
đường ṿng : Từ khái niệm này, ta thấy có
ba đường ṿng (h́nh 1 và 2).
Đường
ṿng I : Chính là hồi viền lớn Broca.
Đường
ṿng II : ở hai bên thể trai, có hệ thống sợi
: sợi dây thần kinh Lancisi, thực tế đó là
một hồi ở ngang thể trai và bị teo đi,
nằm ở ngoài, ṿng quanh đi xuống tới thể
dăn deo (corps godronné). Đường đi từ trước
ra sau, từ trong ra ngoài nối liền với thuỳ thái
dương, kết hợp với thể dăn deo ở
ngoài gọi là dải chéo góc.
Đường
ṿng III : Từ rễ giữa, vách trong suốt có một
số tế bào (khứu năo) từ đó chuyển qua
sợi tam giác (ở mặt trong năo) họp thành thể
bờ (corps bordant) đi ra phía trước vào cũ nhũ
h́nh (từ cũ nhũ h́nh bờ Vicq d' Azyr đi tới
nhân trước của đồi thị để vào
hồi viền). Từ rễ giữa cũng có đường
đi vào cũ nhũ h́nh.
Đường
ṿng IV : (không quan trọng, ít mô tả chi tiết). Đi
từ vách trong suốt, đi ra hạch quai nón (hạch
cuống trước tuyến tùng); hạch quai nón có liên
hệ với hạch giữa cuống (bờ phản
xạ ngược của Gudden, biên giới của năo
thất III) và có nhiều liên hệ với nhiều
hệ thống khác nhất là cấu tạo lưới.
Mở
rộng khái niệm khứu năo.
Trên
cơ sở những thành phần giải phẫu đặc
biệt, một số tác giả đă nêu những ṿng
chức năng tổng hợp, qua đó cắt nghĩa
một số chứng bệnh quan trọng. Đường
ṿng Papez nêu lên những mối liên quan về trí
nhớ, về cảm xúc.
Đường
ṿng Papez : (h́nh 3) đường ṿng của vách trong
suốt, đường ṿng hải mă - cũ nhũ h́nh
- đồi thị - viền từ cũ nhũ h́nh
nối liền với thể tam giác, đi tới
thuỳ thái dương, liên hệ với thuỳ thái dương
và với đường ṿng ngoài ở hồi viền
lớn (qua nhân trước của đồi thị). Qua
đường ṿng này, ta nghiên cứu.

H́nh
1. Vỏ năo nguyên thủy và vỏ năo cổ (các nối
tiếp)
1.
Tam giác; 2. Di nhỏ bán ṿng; 3. Bờ vách - cuống trước
tuyến tùng hay cuống trước tuyến tùng; 4. Bó mép
của tam giác; 5. Hạch của cuống trước
tuyến tùng; 6. Tuyến tùng; 7. Di xanh; 8. Thể dăn
deo; 9. Tam giác (thể bờ); 10. Di bán ṿng; 11. Bó cuống
trước tuyến tùng - cuống năo; 12. Bó Schutz; 13. Nhân
liên cuống; 14. Hải mă; 15. Củ núm; 16. Diện h́nh
quả lê; 17. Nhân hạnh nhân (diện nội mũi); 18.
Móc; 19. Diệu khứu; 20. Dưới đồi thị;
21. Dải chéo; 22. Diện vách (hồi dưới trai);
23. Bó củ núm - đồi thị; 24. Vách trong suốt.
25. Hồi nội viên (dải xám).

H́nh
2. Vỏ năo nguyên thủy và vỏ năo cổ (các nối
tiếp)

H́nh
3. Ṿng hải mả - Củ núm - Đồi thị -
Thể trai ( đường ṿng Papez)

H́nh
4. Các diện vơ năo thần kinh thực vật. Ở
1,2,3 và 4
Người
ta gây những rối loạn vị tràng, vận mạch
và hô hấp
Hoạt
động của xúc cảm : kích thích một điểm
phát động đường ṿng thông - tuỳ theo
từng chỗ - vẫn có những loại xúc cảm
hoặc bị động (lo sợ, sững người).
Có
liên hệ với bản năng, t́nh dục.
Có
liên quan tới cơ chế "học nghề"
của trí nhớ, khi bị rối loạn, có hội
chứng korsakov (đường ṿng Papez cũng là
đường ṿng trí nhớ).
(Thực
ra, bản năng - bản năng t́nh dục là trí
nhớ của loài do đường ṿng có sẵn).
Khái
niệm Gastaut
Khứu
năo có liên hệ với hạ khâu năo. Do những
đường ṿng đi từ khoảng thủng trước
đi vào hạ khâu năo toả ra ở đó và có
những liên hệ với đường ṿng ngoài.
Có
các sợi liên hệ với nhân giữa lưng của
đồi thị và từ đó có liên hệ với
thuỳ trước trán (hồi ổ mắt) và diện
14 cho tới diện 13.
Ngoài
ra có liên hệ mật thiết với cấu tạo lưới.
Do đó, biểu hiện động kinh ở thuỳ thái
dương th́ dễ lan toả (liên hệ qua lại
giữa vỏ năo và cấu tạo lưới), nhiều
triệu chứng tâm thần rối loạn chức năng
(bùng nổ và tràn lan toàn bộ năo).
Như
vậy ta thấy, về giải phẫu, khứu năo bao
gồm nhiều cấu trúc vỏ năo, ở dưới
vỏ năo, đặc biệt ở gian năo, năo giữa và
hồi viền; ở vỏ năo vùng ổ mắt, ở
cực thái dương, ở thuỳ đảo, vách
trong suốt, thể trai, fornix, dây thần kinh Lancisi.
Về sinh lư, khứu năo tham gia vào hoạt động
bản năng, cảm xúc và trí nhớ.
THỰC
NGHIỆM
Các
kết quả thực nghiệm th́ khá phức tạp, khó
phân tích do nhiều đường ṿng song song, do tính
chất kích thích thậm chí không có kết quả
giống nhau ngay cả do cùng một tác giả nghiên
cứu (v́ sẽ phát động nhiều loại tế
bào khác nhau).
LÂM
SÀNG
Ta
có thể nghiên cứu về mặt lâm sàng của
khứu năo qua các can thiệp ngoại khoa và các bệnh
học. (Có những hiện tượng tương
tự như ở thực nghiệm ở loài vật) (h́nh
4).
Bệnh
học th́ có nhiều loại và phong phú - ở đây
chỉ tŕnh bày về phương diện lâm sàng chung
động kinh.
Triệu
chứng của động kinh thái dương. (H́nh
4).
Tiền
chứng "aura". Có
thể có ngừng thở th́ thở ra (vỏ - ổ
mắt - trán); aura thượng vị, nội tạng
(thuỳ đảo và cực thái dương) : có
những cơn đau bụng, tái mặt sau khỏi ngay
trong chốc lát, thường gặp ở trẻ em (phân
biệt nhiều căn nguyên đau bụng ở trẻ
em). Có thể có aura thính giác, khứu giác và aura vị
giác.
Rối
loạn ư thức. Luôn luôn có rối loạn ư
thức, người bệnh ở trạng thái chiêm bao
(dreamy - state) hoặc ở trạng thái không nói không
động (mutisme akinetique); tất cả có liên quan
tới hạ khâu năo.
Rối
loạn về cảm xúc tính t́nh. Người
bệnh có hiện tượng lo âu, có cảm giác
lạ lùng, sợ hăi khủng khiếp - hoặc có
những cơn hung dữ (đập phá), sợ ban đêm,
hoặc có rối loạn tính t́nh (động kinh tinh
thần chủ yếu là động kinh thái dương).
Rối
loạn trí nhớ. Người
bệnh có thể ở trạng thái chiêm bao có cảm giác
đă sống, cảm giác đă trông thấy hoặc
cảm giác chưa hề thấy.
Có thể có hội chúng Korsakov (do tổn thương
nhiều ở cũ nhũ h́nh).
Rối
loạn vận động. Có thể gây một
số rối loạn vận động (trung tâm tâm
thần - vận động) với những biểu
hiện mất tiếp xúc (không nói bất động)
hoặc hiện tượng tấn công. Có từng cơn
giận dữ, từng cơn động kinh tâm thần
thậm chí có thể giết người, dễ có
những xung động có thể đi đôi với
sảng khoái (euphoria) hoặc hiện tượng hề,
vui vẻ (moria) (có liên hệ tới hồi ổ
mắt). Hoặc có những cơn nhai, có những động
tác tự động.
Phân
loại động kinh thái dương
Động
kinh thái dương có nhiều triệu chứng phức
tạp : vùng thái dương rộng có nhiều
đơn vị chức năng - ở bên trong th́ có liên
quan tới khứu năo; ở bên ngoài th́ có liên hệ
với thính giác.
Có
thể phân làm 3 nhóm lớn có liên quan tới các
đường ṿng khứu năo.
Nhóm
vỏ năo mới (mặt ngoài): có các aura là các cơn
"ảo giác" về thị giác. Có thể có
những cơn loạn cảm ngôn hoặc mù đọc.
Nhóm
viền (năo cổ) : Có cơn động kinh tâm thần
- vận động điển h́nh với những
trạng thái chiêm bao cảm giác hoàn cảnh dị thường.
Nhóm
uneus (hải mă, năo cũ) : có những hiện tượng
về nội tạng, lo lắng xúc cảm cao độ.
Hoặc có những hiện tượng về vận
động, trương lực, có rối loạn ư
thức lú lẫn kéo dài.
