
LUẬN
VĂN NỘI TRÚ
Tên luận văn: Khảo sát các yếu tố tiên
lượng suy hô hấp trên bệnh nhân viêm đa rễ dây thần kinh cấp tính. Tác giả: Lư
Thị Kim Lài
(Trường ĐH Y Dược TP HCM). Tŕnh luận văn ngày 27 tháng 4 năm 2007. Tác giả
nghiên cứu 125 bệnh nhân bị hội chứng Guillain-Barré, trong đó có 32 bệnh nhân
suy hô hấp và 93 bệnh nhân không bị suy hô hấp. Tác giả khảo sát các yếu tố nguy
cơ và nhận thấy các yếu tố sau đây là những yếu tố tiên lượng độc lập cho
suy hô hấp: thời gian từ khi khởi phát tới lúc nhập viện ngắn dưới 7 ngày, triệu
chứng liệt hầu họng, triệu chứng nâng đầu khỏi giường (khi nằm) yếu, và mất khả
năng đứng. Trong khi đó những yếu tố kinh điển của Guillain Barré như yếu liệt
tứ chi, tê b́, liệt mặt 2 bên, phân ly albumin-tế bào, bất thường dẫn truyền
trên EMG... chỉ là yếu tố giúp chẩn đóan bệnh, không phải là yếu tố tiên lượng
suy hô hấp.
B́nh luận: các yếu tố tiên lượng này đều là những yếu tố lâm sàng, rất dễ dàng
nhận biết và thực hiện tại bất kỳ tuyến bệnh viện nào. Do vậy nên áp dụng rộng
răi đễ phân loại Guillain-Barré sớm, tách nhóm có nguy cơ suy hô hấp để đưa vào
săn sóc tích cực sớm, không đợi tới lúc suy hô hấp thực sự rồi mới săn sóc tích
cực.
Tên
luận văn: Nghiên cứu áp dụng phẫu thuật nội soi
mở thông sàn năo thất III trong điều trị bệnh đầu nước tắc
nghẽn. Tác giả: Phạm Anh Tuấn (Trường
ĐH Y Dược TP HCM). Tŕnh luận văn ngày 3 tháng 8
năm 2004. Tác giả tŕnh bày kết quả điều trị 74 bệnh
nhân bị bệnh đầu nước tắc nghẽn (obstructive hydrocephalus) bằng
phương pháp nội soi mở thông sàn năo thất III. Tuổi nhỏ nhất là
3 tháng tuổi và cao nhất là 76 tuổi. Tỷ lệ thành công 62 BN
(=83,8%), không cần thực hiện VP shunt. Tổng cộng có 8 trường hợp
phải đặt VP shunt, có 2 tử vong sau mổ. Trong đó tỷ lệ thành công
với chứng đầu nước tắc nghẽn do hẹp cống năo bẩm sinh là
79,3%, do u là 86,7%. Tỷ lệ biến chứng thay đổi từ 4-19%.
Tên
luận văn: Điều trị đau dây thần kinh V bằng phương
pháp nhiệt đông tại hạch sinh ba qua da. Tác giả: Nguyễn
Thanh B́nh (Trường
ĐH Y Dược TP HCM). Tŕnh luận văn ngày 3 tháng 8 năm
2004. Tác giả tŕnh bày kết quả điều trị 537 bệnh nhân bị
đau dây V (trigeminalgia, tic douloureux) bằng phương pháp nhiệt đông.
Sử dụng máy Radionic RF-3C tạo ra nhiệt độ nhờ sóng vô tuyến, đưa
kim chuyên dụng chọc qua da vào lỗ bầu dục theo phương pháp
Hastel, tới hạch Gasser và rễ thần kinh - định vị nhờ X quang
(C-arm) và kích thích qua kim chọc. Kết quả giảm đau ngay sau khi
nhiệt đông 512 bệnh nhân (95,3%), số lần đốt dây V để hết đau
là: 1 lần (479 bệnh nhân = 89,2%), 2 lần (41 BN = 7,6%), 3 lần (16BN =
3%), 4 lần (1 BN = 0,2%). Kết quả rất tốt là 440 BN (82%), kém là 6
BN (1,1%). Biến chứng ít, bao gồm tê mặt (37,8%), giảm phản xạ
giác mạc (3,2%), rối loạn cơ nhai (5,6%). Nhiễm trùng 0%, tử vong
0%. Kết luận: Nhiệt đông qua da là một phương pháp điều trị đau
dây V có hiệu quả và an toàn.
Tên
luận văn: Khảo sát sự thay đổi men
CK, CK-BB, LDH trong huyết thanh bệnh nhân nhồi máu năo trên
lều. Tác giả: Nguyễn Kinh Quốc (Trường
ĐH Y Dược TP HCM). Tŕnh luận văn ngày 17 tháng 9
năm 2002. Tác giả khảo sát nồng độ các men
CK, CH-BB và LDH ở 46 bệnh nhân nhồi máu năo trên
lều, liên tiếp trong 5 ngày liên tục kể từ khi
khởi phát đột quỵ. Với những số
liệu có được, tác giả t́m mối liên quan
với những chỉ số lâm sàng và h́nh ảnh
học như: điểm Glasgow, phân độ hôn mê theo
tầng, thể tích ổ tổn thương trên h́nh
ảnh học, và khả năng sống c̣n. Tác giả
nhận thấy có hiện tượng tăng các men, trong
đó CK-BB tăng sớm ngay cuối ngày thứ nhất và
đầu ngày thứ 2, sau đó nhanh chóng trở về b́nh
thường, CK tăng chậm hơn và về b́nh thường
chậm hơn, c̣n LDH tăng chậm hơn cả, măi
tới sau ngày thứ 3 và có thể c̣n tăng tiếp sau
5 ngày. Tác giả chứng minh có sự tương quan
giữa nồng độ các men với thể tích ổ
tổn thương và với t́nh trạng lâm sàng thông qua
chỉ số hôn mê và khả năng sống c̣n. Thể tích
ổ tổn thương cành lớn, t́nh trạng lâm sàng
càng nặng, th́ nồng độ các men càng cao hơn,
đặc biệt quan tâm là CK-BB. CK-BB là một đồng
phân của CK có chủ yếu ở mô năo (tương
tự như CK-MB là đồng phân của CK có chủ
yếu ở mô tim), b́nh thường không hiện diện
trong huyết thanh.CK-BB xuất hiện ngay cuối ngày đầu
của đột quỵ, tăng cao nhất vào ngày
thứ hai và biến mất vào ngày thứ 4 sau đột
quỵ. Ở nhóm tử vong th́ nồng độ các men
CK, CK-BB và LDH cao hơn ở nhóm sống sót.
Bàn
luận thêm: Các
nghiên cứ về đột quỵ ở nước ta
từ trước tới nay thường là nghiên cứu
về lâm sàng, hoặc lâm sàng kết hợp với h́nh
ảnh học. Gần đây nhóm nghiên cứu của Bệnh
viện 175 có nghiên cứu về chức năng của các
đường dẫn truyền trung ương trong đột
quỵ. Với việc khảo sát CK-BB trên đột
quỵ, công tŕnh của tác giả Nguyễn Kinh Quốc có
lẽ là công tŕnh đầu tiên ở Việt Nam nghiên
cứu về sinh hóa thần kinh nói chung và sinh hóa thần
kinh trong đột quỵ nói riêng. Nếu nhận định
này là đúng, th́ công tŕnh này, mặc dù chỉ là
luận văn nội trú, nhưng đă mở ra hướng
nghiên cứu mới, có tính đột phá, trong các nghiên
cứu về đột quỵ ở Việt Nam.
Tên
luận văn: Phân loại nguyên nhân
nhồi máu năo: khảo sát tiền cứu 104 trường
hợp. Chuyên ngành: Thần kinh. Tác giả Lê Nguyễn
Nhựt Tín. Trường Đại học Y Dược TP
Hồ Chí Minh. Năm 2000. Tác giả có được
nhiều số liệu thống kê các đặc điểm
lâm sàng và cận lâm sàng của nhồi máu năo, trong đó
có lưu ư tới phân loại theo nguyên nhân theo tiêu
chuẩn TOAST. Công tŕnh nghiên cứu trong luận án là công
tŕnh thống kê mô tả, tác giả có so sánh các số
liệu của ḿnh với các số liệu của
những tác giả khác trên thế giới và trong nước.
Tác giả không thấy có liên quan giữa các rối
loạn lipid máu với sự h́nh thành các mảng vữa
xơ, trừ rối loạn về LDL-cholesterol.
Tên
luận văn:Thử nghiệm lập thang điểm
lâm sàng để chẩn đoán phân biệt nhồi máu
năo và xuất huyết năo trên lều. Chuyên ngành: Thần
kinh. Tác giả Nguyễn Bá Thắng. Trường Đại
học Y Dược TP Hồ Chí Minh. Công tŕnh tiến hành
kiểu tiền cứu, tác giả đă tính ra được
công thức tính điểm số dựa vào các dấu
hiệu lâm sàng, dựa vào điểm số tính
được từ công thức này, có thể chẩn
đoán phân biệt 2 thể tai biến mạch máu năo chính
trên lều với độ chính xác khá cao: nếu điểm
số dưới –1 th́ nghĩ tới nhồi máu năo, và
trên +1 nghĩ tới xuất huyết năo. Công thức
của tác giả có độ nhậy chẩn đoán
xuất huyết năo là 90,6%, độ nhậy chẩn
đoán nhồi máu năo là 93,6% và độ chính xác chung là
91,9%, các thông số này khá hơn khi so với thang điểm
Siriraj của Thái lan và đơn giản hơn khi so
với thang điểm của BV Guy.

LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA CẤP II
Luận
văn chuyên khoa cấp II: Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và
điều trị hội chứng cai rượu. Tác giả: Nguyễn văn Khoe. Bảo
vệ tại Trường Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh, ngày 11-4-2007. Tác giả nghiên
cứu trên 85 trường hợp hội chứng cai rượu, cho thấy 100% là nam giới, thời gian
uống rượu trung b́nh là 10,35 năm. Biểu hiện lâm sàng sau khi giảm hoặc ngưng
rượu 12-48 giờ. Thường là triệu chứng tâm thần( rối loạn trí nhớ 90,6%, tư duy
85,9%, hành vi 81,2%, ảo giác 70,6% và haong tưởng 30,6%), run tay (94,7%) và
rối loạn thần kinh thực vật với vă mồ hôi (82,2%) và nhịp nhanh. Cận lâm sàng
nổi bật là Hct giảm và Kali máu giảm.
Luận
văn chuyên khoa cấp II: T́nh h́nh quản lư động kinh tại huyện
Châu Thành tỉnh Tiền Giang năm 2005. Tác giả Dương Hữu Lễ,
bảo
vệ tại Trường Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh, ngày 11-4-2007. Tác giả nghiên cứu
trên 199 trường hợp được lập hồ sơ quản lư tại Huyện Châu Thành. Phân loại động
kinh theo cơn cho thấy 68,4% cơn toàn thể (co cứng - co giật 54,3% và dạng khác
14,1%), 31,1% cơn cục bộ (đơn giản 4,5%, phức tạp 4%, toàn thể hóa 22,6%), hội
chứng Lennox Gastaux 1 trường hợp (0,5%). Số bệnh nhân không tuân thủ điều trị
chiếm 40,2%. Hiệu quả điều trị kém thường xuyên tái phát là 14,1%, vài tháng lên
1 cơn là 57,3%, và ổn định trên 1 năm mới có 1 cơn là 28,6%.
Luận
văn chuyên khoa cấp II:
Tiên lượng xuất huyết năo trên lều bằng các thang
điểm đột quỵ tại Bệnh viện Thủ Đức. Tác giả BS Nguyễn Thanh Tùng, Bệnh viện
Đa khoa Khu vực Thủ Đức.
Bảo vệ tại Trường Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh, ngày 30-1-2007. Tác giả nghiên
cứu trên 101 bệnh nhân, tại bệnh viện khu vực. sử dụng thang điểm Glasgow, Công
thức của Trần Công Thắnng, thang điểm NIHSS, ... để tiên lượng khả năng sống c̣n
của bệnh nhân. Tác giả nhận thấy những yếu tố sau đây giúp tioên lượng sống c̣n:
công thức Trần Công Thắng (chia thành 8 nhóm), thang điểm Glasgow (8 điểm) lúc
nhập viện, điểm NIHSS (16 điểm) lúc nhập viện, thể tích khối máu tụ (30 ml), di
lệch đường giữa, là những ư6u tố tiên lượng khả năng sống c̣n cho bệnh nhân xuất
huyết năo trên lều.
Luận
văn chuyên khoa cấp II: Áp
xe năo: đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị
phẫu thuật. Tác giả BS Nguyễn Xuân B́nh, Bệnh viện nhân dân 115.
Bảo vệ tại Trường Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh, ngày
30-3-2004. Tác giả nghiên cứu tiền cứu và hồi cứu
trên 120 bệnh nhân bị áp xe năo điều trị tại bệnh viện Chợ
Rẫy và Bệnh viện trường Đại học Y Dược.Bệnh cảnh lâm sàng
phổ biến lả hội chứng tăng áp lực trong sọ và hội chứng nhiễm
khuẩn, cần chụp CT scan sớm để chẩn đoán. Nguồn lây bệnh hàng
đầu là bệnh tim bẩm sinh, nhưng có tới 35% không t́m được nguồn
gây bệnh. Vi khuẩn t́m thấy nhiều nhất là Streptococcus và
Staphylococcus, vi khuẩn kỵ khí 23%, nhiều vi khuẩn trên 1 ổ áp xe
chiếm 29% trường hợp. Có 3 phương pháp phẫu thuật: chọc hút,
chọc hút rồi bóc bao, và bóc bao ngay từ chỉ định đầu. Tỷ lệ
tử vong là 10%.
Luận
văn chuyên khoa cấp II: Đánh giá một số yếu tố
tiên lượng xuất huyết dưới nhện. Tác giả: BS Nguyễn Thi Kim Liên.
Bảo vệ tại Trường Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh, ngày
4-12-2003. Tác giả nghiên cứu tiền cứu trên 130 bệnh nhân xuất
huyết khoang dưới nhện (SAH), tuổi từ 19 tới 86, ở BV Chợ Rẫy
và BV ND 115. Các dữ liệu được phân tích hồi quy đa biến
logistic. Tác giả nhận thấy các yếu tố: tuổi, thang điểm hôn mê
Glasgow, và chứng tràn dịch năo thất (hydrocephalus) cấp trên CT khi
nhập viện, là 3 yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng tới kết
quả điều trị bệnh nhân bị SAH do vỡ ph́nh mạch năo. Trên phân
tích đơn biến, các yếu tố như: độ nặng của SAH trên CT theo
phân độ của Fisher, thể tích khối máu tụ trong năo, máu trong năo
thất, và tổng điểm chảy máu trong các bể nền năo, đều có liên
quan chặt đến kết quả xấu. Tuy nhiên, trên phân tích đa biến,
các yếu tố này có trọng lượng yếu. Có 44 bệnh nhân tử vong,
trong đó 20 do tái xuất huyết, chứng tỏ cần phẫu thuật sớm.
Trong 3 yếu tố có giá trị tiên lượng tốt nhất cho SAH, chỉ có
hydrocephalus là có thể can thiệp tích cực được.
Luận
văn chuyên khoa cấp II: Đánh giá nguyên nhân tử vong trên
bệnh nhân đột quỵ năo cấp. Tác giả: BS Trương
Văn Luyện.Trường
Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh.
Bảo vệ: tháng 7 năm 2002. Tác giả thống
kê hồi cứu được 392 trường hợp
tử vong do đột quỵ, từ đó phân tích các
biểu hiện về dân số học, lâm sàng và cận
lâm sàng của những trường hợp tử vong này.
Tác giả kết luận nguyên nhân tử vong cao nhất
được thấy ở xuất huyết năo (chiếm
66% tổng số trường hợp tử vong). Trong
tử vong do xuất huyết năo th́ vị trí hay gặp là
các động mạch xuyên. Tử vong có liên quan tới
huyết áp cao, tăng thân nhiệt... Tác giả nhiều
lần nhấn mạnh tới tầm quan trọng của săn
sóc điều dưỡng như đặt ống thông
dạ dày đúng thời điểm, pḥng chống
sặc hít vào phổi, chống bội nhiễm, điều
chỉnh nước điện giải...
Luận
văn chuyên khoa cấp II: Nhận xét
lâm sàng và h́nh ảnh học xuất huyết năo hố
sau. Trường Đại học Y Dược TP Hồ Chí
Minh). Họ và tên tác giả: Nguyễn Thị Hoa. Tháng 10 năm
1999. Trong các xuất huyết năo, th́ xuất huyết năo
hố sau ít gặp hơn nhiều so với xuất
huyết năo trên lều. Về lâm sàng, cũng dễ
bị nhầm lẫn và rất cần tới vai tṛ
của các xét nghiệm h́nh ảnh học hiện đại.
Công tŕnh đóng góp thêm vào kiến thức về lâm sàng
và h́nh ảnh học các đột quỵ nói chung tại
Việt nam, đặc biệt cung cấp những kiến
thức về xuất huyết năo hố sau. Tác giả
đă mô tả lại tỷ mỷ các biểu hiện lâm
sàng của xuất huyết năo hố sau. Trên 21 bệnh nhân,
yếu tố nguy cơ cao là cao huyết áp. Hội
chứng khóa trong chiếm 10/21 bệnh nhân. Trong 21 bệnh
nhân, tử vong 10. Trong 8 bệnh nhân xuất huyết
tiểu năo, chỉ có 1 tử vong, c̣n lại đều
hồi phục, có bệnh nhân chỉ số Barthel tới
95/100. Đặc biệt có 2 bệnh nhân có chỉ định
mổ, nhưng do thân nhân không chịu nên được
điều trị nội khoa đơn thuần và cho
kết quả tốt. Từ đó tác giả bàn luận
là cần thận trọng trong chỉ định mổ
cho bệnh nhân xuất huyết tiểu năo, chỉ
phẫu thuật khẩn cấp khi có dấu hiệu chèn
ép thân năo và năo thất 4.
Luận
văn chuyên khoa cấp II: Nhận xét
lâm sàng và điện cơ của hội chứng Guillain
Barré ở người lớn. Tác giả: Phan Thị Ǵn.
Trường Đại học Y Dược TP Hồ Chí
Minh. Tháng 10 năm 2000. Công tŕnh khảo sát tương
đối toàn diện về hội chứng Guillain Barré
ở người lớn, ngoài các khảo sát về lâm sàng
và điện cơ, tác giả c̣n xét nghiệm huyết
thanh. Tác giả đề cập nhiều tới các
dấu hiệu miễn dịch thể dịch như kháng
thể chống ganglioside GM1b, chống Campylobacter jejuni. Tác
giả cũng mô tả tỷ mỷ về các biến
thể của Guillain Barré, nhất là kiểu viêm đa dây
thần kinh hủy sợi trục cấp tính với
kiểu vận động đơn thuần (AMAN) và
kiểu cả vận động lẫn cảm giác (AMSAN),
là những kiểu mới được phân loại trong
những năm gần đây. Tác giả đă nghiên
cứu 31 bệnh nhân. Tỷ lệ bị thể sợi
trục chiếm 4/27, chỉ bằng khoảng 1/2 so với
tỷ lệ trong nghiên cứu trên trẻ em của BS Lê
Tự Quốc Tuấn (7/26), cho ta gợi ư về khác
biệt tỷ lệ phân bố thể này giữa trẻ
em và người lớn. 4/26 trường hợp phản
ứng huyết thanh dương tính với Cytomegalovirus và
1/26 trường hợp với Ebstein Barr virus. Có lẽ
đây là công tŕnh đầu tiên của Việt nam có
thực hiện huyết thanh chẩn đoán cho hội
chứng Guillain Barré. Tác giả cũng nhấn mạnh
biến đổi dịch năo tủy là một trong các tiêu
chuẩn chẩn đoán bệnh nhưng mức tăng
nồng độ anbumin không có giá trị tiên lượng.
Trong các dấu hiệu chẩn đoán điện, sóng F là
thông số nhậy cảm nhất, tiếp sau là thời
gian tiềm vận động ngoại vi. Đặc
biệt có 1 bệnh nhân chỉ có rối loạn thần
kinh thực vật nặng nề với suy hô hấp và
tụt huyết áp mà không có yếu liệt chi, chẩn
đoán xác định được nhờ xét nghiệm
dịch năo tủy và bất thường sóng F.
Luận
văn chuyên khoa cấp II: Nhận xét
sơ bộ về liên quan giữa mất ngôn ngữ
với vị trí tổn thương trên h́nh ảnh CT-scan
trong nhồi máu năo. Tác giả: Vũ Tuấn Hùng. Trường
Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh. Tháng 10 năm
2000. Ngày nay, khi CT scan và các phương pháp h́nh ảnh
học khác được dùng rộng răi, trên thế
giới có sự thay đổi quan điểm về định
khu của mỗi loại mất ngôn ngữ. Nhưng các tác
giả cũng không thật thống nhất với nhau
về định khu, thậm chí có khi trái ngược
nhau. Nghiên cứu bổ khuyết một mảng quan
trọng trong các nghiên cứu về lĩnh vực bệnh
lư rối loạn ngôn ngữ trong tai biến mạch máu năo
ở người Việt nam. Tác giả nghiên cứu trên
83 bệnh nhân nhồi máu năo, trong đó có 52 bệnh nhân
mất ngôn ngữ các loại, trong đó riêng mất ngôn
ngữ Broca chiếm 37 bệnh nhân: không có bệnh nhân nào
chỉ bị tổn thương vùng Broca đơn
thuần, và có tới hơn 65% không tổn thương vùng
Broca, có tới gần một nửa chỉ tổn thương
dưới vỏ đơn thuần. Kết luận:
nhiều cấu trúc năo có tham gia vào quá tŕnh vận động
ngôn ngữ, và chỉ cần tổn thương 1 trong
số đó cũng có thể gây mất ngôn ngữ,
mất ngôn ngữ Broca hiếm khi do tổn thương
đơn thuần vùng Broca mà thường do những
tổn thương lớn hơn nhiều. Tác giả
nhấn mạnh công tŕnh có giá trị chủ yếu
với mất ngôn ngữ Broca, c̣n các kiểu mất ngôn
ngữ khác do số lượng ít nên c̣n cần nghiên
cứu thêm.

NGHIÊN
CỨU KHOA HỌC
Đề
tài nghiên cứu cấp Bộ: Nghiên cứu thiết kế, chế tạo
và thử nghiệm thiết bị vật lư trị
liệu bằng điện tần số thấp. Chủ
nhiệm: thượng tá Đỗ Kiên Cường, phó giám
đốc Trung tâm Vật lư Y sinh học. Viện kỹ
thuật quân sự 2. Nam 2000. Đề tài nghiên cứu
đề cập chủ yếu tới lĩnh vực
kỹ thuật, có một phần quan trọng ứng
dụng thử nghiệm trên người bệnh liệt
do di chứng chấn thương hoặc bệnh lư
nội khoa. Công tŕnh đóng góp thêm khả năng ứng
dụng các tác nhân vật lư trong điều trị
bệnh trong hoàn cảnh của Việt nam. So với các máy
móc ngoại nhập, h́nh thức bên ngoài của thiết
bị Electromed E-699 tương đối đẹp, các nút
dễ điều khiển và hiển thị dễ xem. Không
gây tác dụng phụ đáng kể nào. Ngoài việc cung
cấp các xung điện tần số thấp, thiết
bị c̣n cung cấp ḍng Galvanic giúp đưa thuốc theo
phương pháp điện di vào trong cơ thể người
bệnh, do vậy tăng thêm giá trị ứng dụng
của thiết bị. Thiết bị có thể sử
dụng được trong thực hành y khoa, trong khi giá
lại thấp hơn nhiều so với ngoại nhập.
Đề
tài nghiên cứu cấp Bộ: Áp dụng thử nghiệm
viên Damin điều trị nhiễm độc ch́ hữu
cơ cho bộ đội và công nhân xăng dầu. TS Vũ
Đ́nh Hùng, Học viện quân y. Tháng 4 năm 2000. Sử
dụng Damin chế tạo từ men bia, khảo cứu
nồng độ ch́ niệu trước và sau dùng
thuốc trên các đối tượng nhiễm độc
ch́ hữu cơ do xăng pha ch́. Từ hàng trăm người
nghi bệnh, tác giả đă t́m được 32 người
có dấu hiệu nhiễm độc thực sự, là
những bệnh nhân có bệnh cảnh nhiễm độc,
nhưng ở mức độ c̣n nhẹ, và đă
được phát hiện và điều trị kịp
thời. Các số liệu có được trên những
người uống Damin trong khi vẫn tiếp xúc xăng
ch́ như b́nh thường, cho thấy giá trị thực
sự của thuốc này trong dự pḥng rộng răi cho các
đối tượng có nguy cơ. Damin là một chế
phẩm rẻ tiền, nhưng lại hữu hiệu trong
điều trị và dự pḥng nhiễm độc ch́
hữu cơ.
Đề
tài nghiên cứu cấp Bộ:
Nghiên cứu phương pháp điều
trị hội chứng Guillain - Barré bằng corticoide tiêm vào
khoang ngoài màng cứng. Chủ nhiệm đề tài: Lê
Kim Hà, BS chuyên khoa cấp II, trưởng khoa hồi
sức BV 175. Nghiệm thu: tháng
12 năm 2001. Điều
trị Guillain - Barré là 1 vấn đề của y học
hiện đại, liên quan tới chuyên ngành hồi
sức và thần kinh học. Trong đó chủ yếu là
các phương pháp điều trị về hồi
sức (ví dụ thở máy khi cần) và chăm sóc
bệnh nhân bất động có thể có rối
loạn thần kinh thực vật. Trên thế giới, người
ta hay dùng phương pháp
thay huyết tương (plasmapheresis) và tiêm truyền
immunoglobulin. Đại đa số các tác giả trên
thế giới đều thừa nhận dùng corticoide theo
đường toàn thân là không có hiệu quả trong
điều trị Guillain - Barré. Với lập luận cho
rằng về cơ chế, tổn thương trong
hội chứng Guillain - Barré chủ yếu là ở
rễ, tác giả đă dùng phương pháp tiêm
soludecadron, là một corticoide, vào thẳng khoang ngoài màng
cứng, nhằm tác động trực tiếp lên vị
trí bị viêm. Tổng cộng có 22 bệnh nhân được
áp dụng phương pháp tiêm corticoide vào khoang ngoài màng
cứng ở khoảng liên đốt D11-D12. Có 10 bệnh
nhân nặng phải thở máy và tất cả đều
bị liệt hai chi dưới. Tất cả bệnh nhân
đều được kiểm tra dịch năo tủy trước
khi điều trị và hầu hết đều
được kiểm tra chẩn đoán điện.
Kết quả cho thấy 17/22 bệnh nhân phục hồi
hoàn toàn, 10/22 bệnh nhân thở máy có thời gian thở
máy rút ngắn. Nhận xét của Hội đồng: Có thể thấy đây là một phương
pháp điều trị mới cho bệnh Guillain Barré, tương
đối an toàn và có hiệu quả,là một sáng
tạo của tác giả. Tuy nhiên do kinh phí và điều
kiện vật chất hạn hẹp, tác giả không
chứng minh được bằng thực nghiệm
hoặc h́nh ảnh học về khả năng tác
dụng của corticoide khi tiêm vào khoang ngoài màng cứng
ở thấp (D11-D12) đối với các rễ thần
kinh liên quan cơ hô hấp ở cao (các đốt
sống cổ). Nếu có điều kiện, tác giả nên
chứng minh rơ ràng hơn về giá trị của sáng
tạo kỹ thuật của ḿnh, bằng thực
nghiệm trên động vật và bằng các thuật toán
thống kê có so sánh đối chứng.
