
HỘI
CHỨNG GUILLAIN-BARRÉ MỨC ĐỘ NHẸ
MILD
GUILLAIN- BARRE' SYNDROME
Deborad
M. Green, Allan H. Ropper: Mild
Guillain - Barré syndrome.
Arch Neurol , 2001 ; 58 : 1098-
1101
Ngừơi
dịch: BS Hứa Thị Tú Sơn Khoa NTK BV 115
Đặt
vấn đề:
Việc không dự đoán
được giai đoạn đầu của hội
chứng GULLAIN- BARRE' (GBS) đă làm khó khăn hơn để
xác định nhửng t́nh trạng bệnh nào sẽ
xấu đi trong thời gian theo dơi bệnh. Những
thử nghiệm điều trị ngẫu nhiên về GBS
đă dùng khả năng không thể tự đi lại
như là một tiêu chuẩn chọn lựa. Kết
qủa là việc điều trị ở những
bệnh nhân GBS mức độ nhẹ hơn ít được
biết đến.
Mục
tiêu:
Nhằm xác định tần số xấp xỉ
của GBS mức độ nhẹ mà vẫn c̣n khả năng
tự đi và xem xét những đặc điểm nào có
thể dự đoán bệnh sẽ duy tŕ ở mức
độ nhẹ.
Lấy
mẫu:
Những bệnh nhân GBS từ các khoa nội và khoa
thần kinh từ 01/01/1992 đến 01/05/2000 ở một
bệnh viện công 400 giường.
Bệnh nhân:
12 (4,7%) trong tổng số 254 bn trong một loạt
nghiên cứu của chúng
tôi có thể tự đi lại trong suốt thời gian
bệnh .8 bn được điều trị thay huyết
tương hoặc truyền globulin ùmiễn dịch.
Số c̣n lại được theo dơi, không cần điều
trị.
Kết
quả:
Không có sự chiếm ưu thế về giói tính,
tuổi , mùa trong việc so sánh một loạt các ca bao
gồm các ca nặng .9/12 bn có nhiễm trùng đừơng
hô hấp khởi đầu. 10 bn có dị cảm. 7 bn có
đau là chủ yếu. 9 bn có thất điều . 7/10 bn
được theo dơi có mức đạm /DNT b́nh thường.
Trung b́nh mất 8 ngày để đạt đến
mức độ yếu nhất .1 bn đựơc điều
trị nữa bị loại ra khỏi mẫu có biểu
hiện yếu nhẹ ở 3 tuần đầu và sau
đó yếu dần với sự tái phát điển h́nh
của bệnh đa dây thần kinh viêm hủy myelin măn tính.
11 bn có biểu hiện block dẫn truyền đọan
gần ,xa, trung gian và chỉ có 3 ca có mất phân bố TK
nhẹ. Không có sự khác biệt rơ ràng về đặc điểm điện sinh
lư và lâm sàng giữa bn GBS được điều
trị và không điều trị và ngoại trừ
mức độ bệnh nhẹ và không có biễu
hiện tổn thương sợi trục thật sự
trên EMG, th́ không có sự khác nhau quan trọng giữa nhóm
bệnh nhẹ và nhóm bệnh nặng hơn.
Kết
luận:
Những ca GBS nhẹ sẽ đạt đến
thời điểm lâm sàng yếu nhất tương
tự những ca GBS nặng hơn. Việc điều
trị có thễ không cần thiết ở những bn có
thể tự đi trong suốt tuần thứ hai của
bệnh nhưng việc theo dơi cho đến ngày thứ 8
th́ dường như thích hợp để chắc
chắn rằng bệnh không diễn tiến thêm.Hầu như
tất cả ca GBS nhẹ không bao giờ đến khám
thầy thuốc TK.
BN
và PHƯƠNG PHÁP:
Những
ca GBS nhẹ gặp ở các khoa nội và ở khoa TK
từ 01/ 01/ 1992 đến
01/ 05/ 2000 đựơc chọn ra từ sổ đăng
kư của TT Y KHOA st ELIZABETH’s BOSTON, MASS. Bn được
chọn lựa nếu họ có thể tự đi
lại.(Medical Rearch Council Grade 1 và2) cho đến khi họ
bắt đầu có sự hồi phục Mặc khác
họ có đặc điểm điển h́nh của
yếu 2 chi, dị cảm ngọn chi, thay đổi
cảm giác nhẹ,1 vài bn có hoặc không tổn thương
dây sọ.Những bn với dạng GBS như thể FISHER
tổn thương đơn thuần hoặc chiếm
ưu thế dây TK sọ hoặc tổn thương
đơn thuần về cảm giác th́ không được
xem xét. 1 bn có biểu hiện bệnh đa dây TK viêm
hủy myelin măn tính rơ ràng về sau được xem xét
riêng. Mỗi bn được làm EMG. Tất cả trừ
2 bn có chọc ḍ DNT vào giai đọan sớm của
bệnh .
Để
tóm tắt về mức độ yếu,
thang điểm về
vận động được đưa ra bằng cách
thêm vào tổng số 4 đơn vị sức cơ
được tính từ đoạn gốc và ngọn chi
của tất cả 4 chi dựa trên thang điểm
mức độ sức cơ của hội đồng
nghiên cứu y khoa.(Mỗi đơn vị thay đổi
từ 0: không vận động –5:sức cơ bt).
Tổng tỉ số vận động tạo thành
số đo TB 4 sức cơ : cơ gốc chi ở 2
tay (delta, nhị đầu, tam đầu)
cơ ngọn chi ở 2 tay (dạng cổ tay , cơ
liên cốt), cơ gốc chi ở 2 chân (cơ thắt lưng
chậu, cơ tứ đầu đùi ,cơ may) và cơ
ngọn chi ở 2 chân (chầy trứơc, và cơ sinh
đôi cẳng chân) .Kết qủa thăm khám vận
động bt ở tỉ số 20. Chúng tôi cũng ghi
nhận dung tích TB mỗi ngày và đo 1 lần trong ngày.
Hội
chứng GUILLAIN-BARRÉ (GBS) thừơng dễ dàng chẩn
đóan v́ đặc
điểm lâm sàng điển h́nh và bởi sự
diễn tiến yếu dần trong nhiều ngày.Trong
những thử nghiệm ngẫu nhiên lớn nhất
dựa trên tính hiệu qủa của việc điều
trị miễn dịch trong GBS ,tiêu chuẩn lựa
chọn là khả năng không thể đi lại (hội
đồng nghiên cứu y khoa mức dộ 3 hoặc hơn).Vấn
đề thường xuất phát từ việc xem xét
điều trị cho bn GBS , những ngừơi không
đạt tiêu chuẩn này, ví dụ 1 bn vẫn có thể
tự đi lại .Rất ít thông tin đựợc
biết đến về nhóm bệnh này và việc không
dự đoán được giai đoạn LS sớm
của GBS đă làm khó khăn hơn cho việc phán đoán
t́nh trạng bệnh nào sẽ xấu đi trong thời
gian theo dơi. Chúng tôi xác định tần số xấp
xỉ của GBS mức độ nhẹ và t́m kiếm
những đặc điểm có thể dự đoán
đựơc sự biểu hiện bệnh ở mức
độ nhẹ hơn và xem xét việc điều tri có
thể cần ở nhóm bệnh này hay không.
KẾT
QỦA :
12
bn (4,7%) trong 254 bn đựơc theo dơi trong suốt qúa tŕnh
điều trị có thể tự đi lại trong
thời gian bệnh. 1 ca LS điển h́nh là bn nam 52
tuổi (bn số 3) có viêm đường hô hấp trên,
2 tuần sau có biểu hiện đau lưng và dị
cảm ở tay và chân, 4 ngày sau bn có biểu hiện song
thị và đi lại khó khăn, 6 ngày sau khởi
bệnh bn yếu rơ nhất với liệt dây VI một bên,
yếu nhẹ đối xứng ngọn chi hơn gốc
chi ở tay chân ,mất phản xạ gân cơ tn bộ,
giảm cảm giác rung âm thoa ở các ngón chân và dáng
đi dạng chân. Dung tích sống thấp nhất của
bn trong thời gian nằm viện là 3,1 L.Vào ngày thứ 2
của bệnh, mức protein trong DNT là 490 g/l(49 mg/dl) và
đo dẫn truyền TK có block dẫn truyền TKvận
động gốc chi và không có hoặc giảm điện
thế họat động TK cảm giác.
Điện cơ kim không biểu hiện sự
mất phân bố TK. Bn đựơc điều trị 1
đợt globulin miễn dịch và truyền corticoid v́
đau lan khắp vùng thắt lưng, cồ, vai, tay.
Sức cơ gần như b́nh thường sau 3 tuần,
bn trở lại làm việc sau 2,5 tháng nhưng vẫn c̣n
lọan cảm ở tay.
1 bn nữa có biểu hiện GBS nhẹ trong 3 tuần
nhưng yếu dần trong 2 tháng sau vàø phải dùng xe
đẩy. Bn được nghĩ có bệnh đa dây TK
viêm hủy myelin măn tính dựa trên sự tái phát bệnh
về sau và bị loại ra khỏi lô nghiên cứu.
Đặc
điểm LS của 12 bn có GBS nhẹ với tỉ số
vận động và dung tích sống thấp nhất đă
nêu ở bảng 1. Gíới hạn tuổi từ 19
(64. 9bn có nhiễm trùng hô hấp khởi đầu nhưng
bệnh không tập trung ở bất kỳ thời gian
đặc biệt nào trong năm. Tất cả trừ 2 ca
có dị cảm. Đau là 1 đặc điểm thấy
rơ ở 7 bn, 2 bn đau thắt lưng nhưng những bn
khác than đau quanh khớp hoặc đau lan tỏa hơn
không chỉ thắt lưng mà c̣n ở vai, tay và cẳng
chân. 1 bn có biểu hiện loạn cảm tứ chi ở
ngọn và gốc chi. 1 ca khác c̣n đau thật sự 6 tháng
sau khỏi bệnh. Những ca đau lan,khởi đầu
ở gốc chi trên,kéo dài suốt 2 tuần kế
tiếp sẽ trở nên cố định chủ yếu
ở tay và nặng lên đến nỗi cần thuốc
giảm đau và chích steroid vào màng cứng.
Những
tỉ số vận động xấu nhất thay đổi
từ 14(19 (20 là hoàn toàn khỏe ), và vẫn duy tŕ
hoặc cải thiện nhẹ trong suốt thời gian theo
dơi. Yếu nhất xảy ra trong 1 tuần ở 7 bn và
trong 14 ngày ở tất cả bn ; thời gian trung b́nh
nặng nhất của bệnh là 8 ngày. Tất cả
đều mất phản xạ hoặc c̣n một vài
phản xạ.Tất cả trừ 3 ca có thất điều
tư thế nhưng nói chung đều nhẹ. 4/12 bn có
liệt dây sọ chủ yếu dây VII. Không có RL bàng quang
hoặc hệ giao cảm. Dung tích sống > 1,74 L ở
tất cả bn ,thừơng vượt qúa 2,4 L. Những
chỉ số này ổn định trong thời gian nằm
viện. Mức protein trong DNT gia tăng ở 3/10 bn đựơc
chọc ḍ. Một vài bn có mức protein / DNT b́nh thừơng,
có thể có liên quan đến thời điểm
ngắn của bệnh với thời điểm lấy
mẫu.
Tất
cả bn đo EMG vào ngày thứ 2 đến ngày 21 của
bệnh,chỉ có 1 kq EMG đầu tiên đựơc nêu
trong bảng 2. Tất cả các dấu hiệu đều
bất thường , biểu hiện hủy myelin và 3 bn có
thêm tổn thương sợi trục. Biểu hiện
dẫn truyền TK bất thường có nghĩa là
chậm hoặc block ở hơn 1 dây TK trong tất cả
bn trừ 2 ca .Block dẫn truyền đoạn gần
được xác đinh như là sự mất sóng
F hoặc thời gian tiềm sóng F bất thường (
dựa trên chiều cao) mà không giải thích đựơc
bởi sự phán tán xa hoặc chậm biểu hiện
ở 8 bn . Block đọan xa đựơc xác đinh
như là thời gian tiềm ngọn chi kéo dài rơ, đựơc
ghi nhận ở đa số dây TK ở 7 bn. Block dẫn
truyền dọc dây TK bao gồm block ở ngọn và
gốc chi ở cùng 1 dây TK đựơc ghi nhận
ở 6 bn. Tốc độ dẫn truyền TK chậm
ở 6 bn. Sự giảm phức hợp biên độ
điện thế họat động cảm giác cơ không
hội đủ tiêu chuẩn block dẫn truyền
được ghi nhận ở 3 bn và đựơc nghĩ
rằng có tổn thương sợi trục. Hoạt
động điện thế TK cảm giác mất
hoặc giảm biên độ ở 4 bn và 1 bn có thời
gian tiềm ngoại vi kéo dài. Chỉ có 3 bn có biểu
hiện mất phân bố TK (rung giật bó cơ, hoặc
sóng nhọn dương trên EMG ). Những nghiên cứu này
được thực hiện vào giai đọan trễ
của bệnh (14- 21 ngày).
6
bn có điều kiện đựơc đánh giá lại
sau 2 tháng hoặc lâu (Bảng 1).Tất cả đều có
kết quả thăm khám TK b́nh thường hoặc
gần b́nh thường và nhóm bn nghỉ việc trứơc
đó đă trở lại làm việc sau 2 - 6 tháng. 2 bn
vẫn c̣n triệu chứng cảm giác sau 6 tháng ,1 ca
loạn cảm ở tay và 1 dị cảm ở tay và chân.
Không có sự khác nhau rơ ràng ở tốc độ
hồi phục hoặc triệu chứng c̣n lại
giữa 8 bn điều trị truyền
globulin miễn dịch hoặc thay huyết tương
so sánh với 4 bn không được điều trị.
Trở
về đầu trang
BÀN
LUẬN :
Rất
có thể những ca GBS nhẹ không đến khám
thầy thuốc TK.Trong lô nghiên cứu của chúng tôi 4,7%
bn vẫn c̣n yếu nhẹ và có thể tự đi
lại đựơc trong thời gian bệnh. Điều
này so sánh với 28% trong nghiên cứu của Netherlands , 9%
trong 120 bn có GBS trong một lọat nghiên cứu thăm ḍ
trứơc đây của chúng tôi, 9% trong 556 bn của 1
loạt nghiên cứu GBS có thay huyết tương của
nhóm liên kết ở Pháp và12% trong 100 bn GBS của lô nghiên
cứu thăm ḍ của Winer và CS. Những trừơng
hợp bệnh nhẹ đến với thầy thuốc
cho thấy không có sự ưu thế về tuổi,
giới tính và không theo mùa, trái ngựơc với
một vài ghi nhận của cuộc điều tra gần
đây ở Netherlands. Để phù hợp với GBS điển
h́nh , phần lớn bn của chúng tôi có sự nhiễm
trùng khởi đầu, tất cả trừ 2 ca có dị
cảm, nhiều ca có biểu hiện đau ở 1 vài
mức độ, nhưng không có ca nào có biểu hiện
ở hệ giao cảm. Thật ngạc nhiên, đau
gặp ở hầu hết bn mà không tương ứng
với thương tổn nhẹ về vận động
. Thời gian trung b́nh để đạt mức yếu
nhất trên LS là 8 ngày và trong tất cả ca là 14 ngày.
Hầu hết bn có mức protein trong DNT b́nh thường
hoặc gần như b́nh thừơng và không có ca nào có
sự mất phân bố TK rơ ràng trên điện sinh lư
trong ṿng 13 ngày sau khởi bệnh.Không có những kiểu
thay đổi điện cơ đặc biệt nào
đặc trưng cho nhóm bệnh này, có lẽ trừ
sự biểu hiện của mất sợi trục
thật sự. Những nghiên cứu về DNT vàø EMG đựơc
làm trong giai đọan sớm của bệnh có thể có
đánh giá qúa thấp mức protein đỉnh trong DNT và
số lượng thóai hóa sợi trục .
Chúng
tôi không thể xác định được có bao nhiêu
bn GBS có biểu hiện yếu nhẹ trong 8 ngày đầu
nhưng về sau có t́nh trạng bệnh xấu hơn, nhưng
theo đánh giá của chúng tôi sau lọat nghiên cứu là
rất ít ca rơi vào nhóm bệnh này. Khỏang thời
gian trung b́nh 8 ngày để đạt đến thời
điểm đỉnh của bệnh th́ tương
tự với những ghi nhận của những nghiên
cứu khác với 1 số lượng lớn bn GBS ở
mọi mức độ trong đó có bn của chúng tôi.Ví
dụ thời điểm đỉnh của bệnh là 7
ngày ở 34% (14 ngày ở 70 %) trong nhóm nghiên cứu
của Winer và CS, trong 7 ngày ở 74 % bn trong nghiên cứu
của Marshall và 12 ngày là thời gian trung b́nh trong cả 2
loạt nghiên cứu của Ravn và Loffel và CS. Tương
tự việc ghi nhận từ nhóm nghiên cứu trứơc
đó trên 169 bn cho thấy 38% bn đạt đến
thời điểm bệnh là 7 ngày và 77% bn trong 14 ngày. Hơn
thế nữa theo kinh nghiệm của chúng tôi và những
những nhóm khác, việc cải thiện sức cơ
nhẹ hoặc dị cảm sau đợt bệnh nặng
th́ dường như không xảy ra trừ khi có liên quan
đến việc điều tri miễn dịch có nghĩa
là sự phản hồi. Sự phản hồi này có
thể gợi ư rằng những ca nhẹ nhất không
cần điều trị. Trong 1 nghiên cứu của nhóm
liên kết ở Pháp về thay huyết tương trong
GBS, những ca nhẹ không điều trị bao gồm
những bn nhóm 3 hơn nhóm 1và2 theo hội đồng nghiên
cứu y khoa, có thời gian TB bắt đầu hồi
phục về vận động là 8 ngày,so sánh với 4
ngày ở nhóm điều trị thay huyết tương.
Tuy nhiên tất cả sự tái phát đều xảy ra
ở nhóm điều trị. Sự khác biệt về
cải thiện thời gian tiềm vận động
rất ít và theo dữ liệu của họ và chúng tôi
gợi ư không có sự khác nhau về di chứng lâu dài
giữa nhóm bệnh nhẹ có hoặc không điều
trị. V́ vậy dường như không có bằng
chứng rơ ràng rằng việc điều trị
được khuyến cáo ở tất cả bn.
Không
có sự khác nhau về đặc điểm LS hoặc
điện sinh lư giữa GBS mức độ nhẹ có vàkhông
điều trị cũng như không có sự khác
biệt quan trọng giữa bn GBS nhẹ và bn nặng hơn mà dự đoán là vẫn c̣n yếu
nhẹ.Việc cho rằng không có yếu tố dự
đóan tin cậy có thể được ghi nhận
từ việc thăm khám duy nhất đă cho thấy
rằng bn được khuyên nhập viện trong 2-3 ngày
dể chứng minh diễn tiến bệnh ổn định
gợi ư GBS nhẹ Những ca mà t́nh trạng bệnh không
xấu đi trong khoảng 8 ngày được hy vọng
là vẫn c̣n ở nhóm bệnh nhẹ Một gợi ư thăm
ḍ là có thể chờ đội đến ngày thứ 8
hoặc hơn nữa trứơc khi quyết định
điều trị cho bn vẫn c̣n có thể đi lại
được.
Trở
về đầu trang

BẢNG 1: ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CỦA BN GBS
TỒN TẠI Ở MỨC ĐỘ NHẸ