
điỀu
trỊ ty lẠp thỂ vỚi bỆnh parkinson
Tài
liệu dịch: Roger N. Rosenberg, MD. Mitochondrial Therapy for
Parkinson Disease. Arch Neurol. 2002;59: 1523.
Người
dịch: BS. Nguyễn Thanh Giang - khoa Nội Thần Kinh - BV
175
Nguyên
nhân chính xác của bệnh Parkinson (PD) trước hết
được định nghĩa bao gồm những
biến đổi mă di truyền một cách riêng biệt
quy định bởi t́nh trạng trội của nhiễm
sắc thể (alpha-synuclein mutations) và những kiểu h́nh
thuộc về tính lặn trong di truyền cùng với
việc điều trị PD không thường xuyên,
ảnh hưởng giữa những nhân tố di truyền
và những nhân tố thuộc về môi trường. Nhược
điểm phân tử nổi bật quan trọng là suy
giảm chức năng của chuỗi vận chuyển
điện tử ty lạp thể, là sự ức chế
một cách đặc biệt của những phức
hệ I, II, III đưa đến suy giảm sự
tổng hợp ATP. Sự ức chế của phức
hợp I bởi MPTP (1-methyl-4-phenyl-1,2,3,6-tetrahydropyridine) có
thể gây ra hội chứng Parkinson ở người.
Schapira và cộng sự đă xác định sự suy
giảm có tính chọn lọc trong hoạt động
của phức hợp I ở liềm đen của
những bệnh nhân mắc bệnh Parkinson sau khi chết
nhưng khtông thấy ở những bệnh nhân
bị teo hệ thống rải rác. Việc không điều
trị những bệnh nhân PD làm giảm hoạt động
của hệ thống I, II và III ở nhiều ty lạp
thể cô lập khỏi các tiểu cầu. Shults và
cộng sự đă chứng minh các mức độ suy
giảm của coenzyme Q10 trong ty lạp thể từ
việc cô lập các tiểu cầu ở bệnh nhân
Parkinson. Beal và cộng sự đă chỉ ra rằng
bổ sung coenzyme Q10 bằng đường uống
giảm sự mất dopamine và sợi trục dopaminergic
ở thể vân trong việc điều trị ở
chuột 1 tuổi với MPTP.
Trong
số báo Archives này, Shults và các đồng nghiệp trong
nhóm nghiên cứu về bệnh Parkinson đă nghiên cứu
những hiệu quả của coenzyme Q10 ở những
bệnh nhân mắc bệnh Parkinson sớm. Những
bệnh nhân được lựa chọn không được
điều trị với bất kỳ dược
phẩm nào cho bệnh Parkinson hoặc với bất kỳ
dược phẩm chống gốc tự do nào như
selegiline, vitamin E, vitamin C trong khoảng thời gian 60 ngày. 80
bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu và
được phân nhóm điều trị một cách
ngẫu nhiên bằng giả dược hoặc bằng
coenzyme Q10 với liều 300, 600, 1200 mg/ngày. Các bệnh nhân
được đánh giá theo thang điểm thống
nhất về mức độ của bệnh Parkinson
(Unified Parkinson Disease Rating Scale - UPDRS) tại thời điểm
khởi điểm, tại các tháng 1, 4, 8, 12, 16 và tiếp
tục cho đến khi bệnh nhân được điều
trị bằng levodopa hoặc tối đa 16 tháng. Điều
quan tâm lớn nhất là họ nhận thấy sự
biến đổi giảm dần của toàn bộ UPDRS, rơ
rệt nhất với sự biến đổi giảm
dần của các số điểm về hoạt động
sống hàng ngày. Sự biến đổi mạnh mẽ
của UPDRS là các đối tượng ở cả ba
liều điều trị với coenzyme Q10, tuy nhiên
hiệu quả nhất là các đối tượng ở
liều điều trị cao nhất 1200 mg/ngày.
Dữ
liệu của họ khuyến khích việc lưu tâm
đến rối loạn chức năng của ty lạp
thể đóng vai tṛ trong sinh bệnh học của
bệnh Parkinson không thường xuyên và xa hơn nữa
việc nghiên cứu sử dụng coenzyme Q10 với
liều cao nên được xem xét cẩn thận.
Thật là quan trọng đến việc định rơ
liệu rằng những khiếm khuyết của phức
hợp ty lạp thể I, II và III là những biến đổi
di truyền mắc phải và liệu chúng bị ảnh hưởng
bởi những độc tố môi trường hoặc
chủ yếu những biến đổi bẩm sinh,
thừa hưởng từ người mẹ, là nguyên nhân
tố bẩm di truyền của bệnh Parkinson. Rơ ràng,
dữ liệu của nhóm nghiên cứu về bệnh
Parkinson trong bài báo này là những khám phá về điều
trị có tính hấp dẫn và khêu gợi, mở ra hy
vọng tiềm năng đáng kể cho những điều
trị tương tự trong tương lai.
