|
|
Nhận
Định Bước Đầu về Bệnh Xơ
Cứng Rải Rác ở Việt Nam:
Khảo
Sát Tiền Cứu 13 Trường Hợp.
Lê
Minh (BS
CK II), Trần Ngọc Tài, Trần Thanh Hùng, Nguyễn Lê Trung
Hiếu, Phạm Văn Ư, Tóm
tắt
Cơ
sở của nghiên cứu:
Bệnh xơ cứng rải rác là một bệnh mất
myelin mắc phải của hệ thần kinh trung
ương rất hay gặp ở các xứ ôn đới,
nhiều ở lứa tuổi thanh niên và trung niên. Dữ
liệu về loại bệnh này ở các nước
đông nam á c̣n ít, ngoại trừ các số liệu
dịch tễ học đă được công bố
tại Malaysia năm 1988. Một khảo sát hồi cứu
về khía cạnh chẩn đoán loại bệnh này
tại một khoa thần kinh học của Tp Hồ Chí
Minh đă được thực hiện năm 1999 – 2000
và công bố năm 2001. Chất lượng khoa học
của một khảo sát hồi cứu luôn luôn bị
nhiều giới hạn nên chúng tôi đă tiến hành
khảo sát tiền cứu khía cạnh chẩn đoán
của loại bệnh này tại khoa thần kinh học
bệnh viện Chợ Rẫy trong thời gian từ tháng
12/2000 đến hết tháng 01/2003. Mục tiêu của nghiên
cứu: Các mục tiêu của nghiên cứu này gồm có
(1) xác định xem bệnh xơ cứng rải rác có
hiện diện thật sự ở Việt Nam hay không? (2)
xác định các thể loại chẩn đoán bệnh
xơ cứng rải rác theo phân loại của Poser; (3)
khảo sát các đặc điểm lâm sàng của
bệnh xơ cứng rải rác ở Việt Nam; (4)
khảo sát đặc điểm chung của dịch năo
tuỷ và đặc điểm h́nh ảnh học
cộng hưởng từ được gặp trong
bệnh xơ cứng rải rác. Phương pháp nghiên
cứu là phương pháp mô tă cắt ngang,
được thực hiện bởi một nhóm nghiên
cứu viên cố định, dựa theo các tiêu chuẩn
chẩn đoán bệnh xơ cứng rải rác của
Poser . Kết quả cho thấy có 12 bệnh nhân được
xếp loại trong nhóm chẩn đoán chắc chắn là
bệnh xơ cứng rải rác trên lâm sàng (11 A1 và 1 A2),
và 1 bệnh nhân được xếp loại chẩn
đoán có thể có trên lâm sàng (1 C3). Đa số các
bệnh nhân đều là nữ (11/13), tuổi phát
bệnh trung b́nh là 28. Các đặc điểm lâm sàng
được ghi nhận cũng phù hợp với
nhận định của y văn, trong đó nổi
bật lên các triệu chứng của các tổn thương
tại đường thị giác, tuỷ gai, thân năo và
tiểu năo. Thăm ḍ h́nh
ảnh học bằng chụp cộng hưởng từ
đă được áp dụng cho 11/13 các bệnh nhân. Các
thăm ḍ cần thiết khác về cận lâm sàng trong
bệnh xơ cứng rải rác như phương pháp
tập trung đẳng điện dải IgG oligoclonal trong
dịch năo tuỷ, đo chỉ số IgG, và thăm ḍ
điện thế gợi đă không được
thực hiện v́ không có phương tiện. Chúng tôi cũng
bàn luận về các vấn đề liên quan gồm có:
khuyến cáo về tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh xơ
cứng rải rác của Hội Thảo Quốc Tế
về Chẩn Đoán Bệnh Xơ Cứng Rải rác năm
2000; vai tṛ của các thăm ḍ cận lâm sàng; các
chẩn đoán phân biệt của bệnh xơ cứng
rải rác. Kết luận: Bệnh xơ cứng rải rác
thật sự có mặt ở Viêt Nam và cần được
tiếp cận chẩn đoán và xử trí kịp
thời. Để đạt được mục đích
này cần là tốt qui tŕnh chẩn đoán lâm sàng, h́nh
ảnh học cộng hưởng từ và bổ sung thêm
các thăm ḍ cận lâm sàng cần thiết khác như
kỹ thuật t́m dải IgG oligoclonal trong dịch năo
tuỷ, đo các loại điện thế gợi. Abstract
Preliminary
remarks on multiple sclerosis in Viet Nam: a prospective study on 13 cases. LE Minh, TRAN Ngoc Tai, TRAN Thanh Hung, NGUYEN
Le Trung Hieu, PHAM Van Y, LE Van Thanh Background:
Multiple sclerosis is an acquired demyelinating disease of the central nervous
system, affecting firstly young adult and middle-aged people in temperate zone.
It is the most common acquired demyelinating in North America and Europe, with a
gradient of increasing prevalence with increasing latitude. Epidemiologic data
concerning multiple sclerosis in the South-East Asia countries are scarce,
except those published by Malaysian researchers in 1988. A retrospective study
on the diagnostic aspects of multiple
sclerosis in one neurology departement at HCM city was carried out in 1999-2000
and showed that multiple sclerosis was really present in this country. The
obvious low scientific value of all
retrospective studies pushed us to set up this prospective study on the
diagnostic aspects of multiple sclerosis in the neurology department of Cho Ray
Hospital, from december 2000 to january 2003. Objectives: the
objectives of this study are: (1) to determine whether multiple sclerosis does
exist in Viet Nam? (2) to look at the diagnostic approach of multiple sclerosis
based upon the Poser’s criteria; (3) to study the clinical findings of mutiple
sclerosis in vietnamese people; and (4) to study the general CSF abnormalities, and the MRI
characteristics found in multiple sclerosis. Method:
prospective and descriptive study on the
diagnostic aspects of multiple sclerosis based upon the POSER’s
criteria, in which the clinical examination and other diagnostic approaches were
carried out by an unique team of neurologists.
Results: twelve patients fitted in with the clinically definite
multiple sclerosis category (11 A1 and 1 A2), and one patient in the category of
clinically probable multiple sclerosis (C3). There was the presence of female
predominance (11 patients), and the mean age of onset was 28 years. The clinical
features were in accordance with those described in the medical literature, with
the outstanding symptoms of visual pathways, spinal cord, and
brainstem/cerebellum involvements. MRI study was done in 11 patients. The other
necessary diagnostic methods and investigation for multiple sclerosis diagnosis
such as isoelectric focusing for oligoclonal IgG bands, IgG index,
pattern-reversed VEPs, SSEPs, and BAEPs were lacking and not done therefore. We
also discussed about other related aspects such as the application in Viet Nam
of the new diagnostic criteria for mutiple sclerosis of the International Panel
on the Diagnosis of Multiple
Sclerosis 2000, the value of the diagnostic methods, and the differential diagnosis of
multiple sclerosis. Conclusion: Multiple sclerosis really
exist in Viet Nam, and should be more investigated. This aim will be attained
only with the improvement by the vietnamese neurologists of
the diagnostic approach of this disorder, and with the use of other
needed investigation tools such as evoked potentials, and cerebrospinal
fluid analysis for IgG oligoclonal bands. ĐẶT
VẤN ĐỀ
Xơ
cứng rải rác (XCRR) là một bệnh viêm của
hệ thần kinh trung ương trong đó có sự h́nh
thành rất đặc trưng của các mảng mất
myelin tại năo bộ và tuỷ gai. Bệnh đă
được đề cập lần đầu tiên cách
nay 160 năm bởi một thày thuốc Scotland1 nhưng
chỉ thật sự được mô tả một cách
hệ thống và nghiêm túc lần đầu tiên trong ba
thập niên cuối của thế kỷ thứ 19 bởi
một thày thuốc thần kinh học Pháp là Jean Martin
Charcot taị bệnh viện La Salpêtrière. Charcot đă
gọi bệnh dưới nhiều tên khác nhau như scléroses
en plaques, sléroses en plaques disséminées, sclérose multiloculaire và sclérose généralisée. Suốt cuộc
đời hành nghề của ḿnh, Charcot đă tổng
kết được 34 trường hợp và qua đó đă có những đóng góp
quan trọng bước đầu trên các khía cạnh sau
đây của bệnh: xếp loại bệnh, mô tả tương
quan lâm sàng-bệnh học, nêu lên các giải thích sinh lư
bệnh học, và nói lên sự tuyệt vọng về phương
diện điều trị bệnh này.1 Các tác giả Anh
Mỹ thời đó gọi bệnh là disseminated sclerosis, insular sclerosis hay lobular and diffuse
sclerosis. Tại Đức
bệnh được gọi tên là multiple Sklerose hay
multiple inselformige Sklerose, multiple
Hirnsklerose và multiple Sklerose des Nervensystem. Kể từ lúc
đó đến ngày nay nhiều khía cạnh khác nhau
của bệnh đă
được khảo sát và
dần dần sáng tỏ theo thời gian như
mô tả bệnh (1838-1981), định danh và xếp
loại bệnh (1849-1983),
cơ chế sinh bệnh (1849-1972), phát hiện về mô
thần kinh đệm và hiện tượng tái myelin hoá
(1858-1988), dịch tễ học của bệnh (1883-1976), và
thái độ điều trị bệnh (1841-1983).1 Việc
định danh bệnh XCRR chỉ ổn định kể
từ thập niên 50 của thế kỷ 20, với tên
gọi là multiple sclerosis ở
các nước nói tiếng Anh (sách chuyên khảo đầu
tiên tựa là multiple sclerosis do Douglas McAlpine, Nigel Compston và
Charles Lumsden viết và
xuất bản năm 1955) nhưng riêng tại Pháp th́
vẫn duy tŕ tên bệnh là sclérose en
plaques. Nếu dựa theo
tiếng Anh th́ tương đương của tiếng
Việt là bệnh xơ hoá nhiều nơi hay nhiều
ổ, đối với tên gọi Pháp ngữ tương
đương Việt ngữ sẽ là bệnh xơ
hoá nhiều mảng. Trong khi chờ đợi có sự
thống nhất định danh mới cho bệnh này
ở Việt Nam, chúng tôi vẫn tiếp tục sử
dụng thuật ngữ bệnh xơ cứng rải rác
của từ điển Y Dược Pháp Việt năm
1976 của Nhà Xuất bản Y Học. Trên
phương diện lâm sàng đặc điểm nổi
bật và rất đặc thù của bệnh XCRR là tính
đa dạng của các triệu chứng chức năng và
thực thể về thần kinh chứng tỏ tổn thương
phân bố rải rác trong không gian (dây thần kinh thị,
bán cầu đại năo, thân năo, tiểu năo, tuỷ gai)
và phân bố rải rác trong thời gian (thường là
nhiều đợt tái đi tái lại, với các tổn
thương cũ xen với tổn thương mới mà
h́nh ảnh cổng hưởng từ sẽ giúp phát hiện , xác định độ
tuổi).6,9,12 Dựa trên kiểu cách diễn tiến
của bệnh XCRR, người ta đă thống nhất
phân loại bệnh ra thành bốn nhóm bệnh hay thể
bệnh khác nhau: nhóm bệnh XCRR lành tính (benign MS) chiếm
10% các trường hợp, có phục hồi hoàn toàn sau các
đợt bùng phát đơn độc, không gây phế
tật hay gây phế tật không đáng kể sau 10 – 15
năm tiến triển; nhóm bệnh XCRR tái phát – thoái
lui hay tái đi tái lại (relapsing - remitting MS) chiếm 40% các
trường hợp, có các đợt bùng phát
triệu chứng xen kẽ bởi các giai đoạn thoái
lui hoàn toàn hay gần hoàn toàn các triệu chứng, nhưng
khác với nhóm lành tính ở chỗ các đợt bùng phát
nhiều hơn và có thể gây phết tật thần kinh
nhiều hơn; nhóm bệnh XCRR nặng dần thứ phát
(secondary progressive MS) chiếm tỷ lệ 40% các trường
hợp, có kiểu diễn tiến tương tự nhóm tái
đi tái lại nhưng sự phục hồi chức năng
thần kinh kém, phế tật thần kinh nặng dẫn
trong khoảng giữa hai đợt bùng phát; nhóm bệnh
XCRR nặng dần nguyên phát (primary progressive MS)
chiếm 10% các trường hợp trong đó bệnh
cảnh nặng dần liên tục, không có khoảng
thời gian thoái lui triệu chứng, và nhanh chóng dẫn
đến phế tật nặng nề.1,5,20 Do
các đặc điểm lâm sàng và diễn tiến
của nó, bệnh XCRR dễ bị nhầm lẫn với
nhiều loại bệnh khác của hệ thần kinh trung
ương.10 Các câu hỏi đặt ra cho bác sĩ
thần kinh học khi đứng trước một
bệnh nhân nghi ngờ mắc bệnh XCRR gồm có như
sau: bệnh sử có phù hợp không? Có sự hiện
diện của nhiều tổn thương trong hệ
thần kinh trung ương hay không? Bản chất của
tổn thương có thuộc loại huỷ myelin hay không?
Có sự hiện diện của một cơ chế
miễn dịch bất thường tác động lên
hệ thần kinh trung ương hay không? Có một
chẩn đoán nào khác hơn nữa có thể giải thích
được bệnh cảnh của bệnh nhân này?
Việc chẩn đoán bệnh do đó luôn luôn phải là
một chẩn đoán loại trừ, dựa trên đặc
điểm phân bố rải rác trong thời gian và không
gian của các triệu chứng thần kinh, dựa trên các
bằng cớ cận lâm sàng chứng tỏ có sự
hiện diện của nhiều tổn thương rải
rác trong hệ thần kinh trung ương (h́nh ảnh
cộng hưởng từ, điện thế gợi), và
dựa trên sự hiện diện của một cơ
chế miễn dịch bất thường liên quan tới
hệ thần kinh trung ương (tăng IgG trong dịch năo
tuỷ, Oligoclonal band trong dịch năo tuỷ).12 Để
tiện lợi và tăng cường chất lượng
khoa học cho việc chẩn đoán, điều trị và
nghiên cứu về căn bệnh thiên h́nh vạn
trạng này, Poser và cộng sự đă đưa ra các
tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh XCRR vào năm 1983;14 các
tiêu chuẩn này đă được áp dụng rộng răi
từ đó đến nay trên toàn thế giới, cũng
như đă được áp dụng trong khảo sát
hồi cứu về bệnh XCRR từ tháng 12 / 1999 đến
tháng 7 / 2000 do chúng tôi thực hiện và đă công bố
trong năm 2001.8 Hội thảo quốc tế về
chẩn đoán bệnh XCRR mới đây lại đưa
ra những khuyên cáo mới về tiêu chuẩn chẩn
đoán bệnh XCRR nhằm làm cho chẩn đoán
được dễ dàng và chính xác hơn.12 Cho
đến nay, nguyên nhân đích thực của bệnh
XCRR vẫn chưa được xác định. Giả
thuyết về các yếu tố nguyên nhân và cơ
chế sinh bệnh đă được đưa ra
gồm có như sau: (1) yếu tố di truyền, dựa trên
sự ghi nhận về xuất độ của bệnh có
cao hơn ở một số quần thể người
cụ thể (anh em của người bị bệnh XCRR,
anh em song sinh một trứng, người có locus DR trên
nhiễm sắc thể số 6, người có HLA-DR2,
HLA-DR3, HLA-B7 và HLA-A3); (2) yếu tố môi trường như
càng đi xa xích đạo th́ xuất độ bệnh càng
cao, vai tṛ của một số tác nhân gây nhiễm
(retrovirus, Chlamydia pneumoniae, Herpesvirus type 6); (3) vai tṛ của các
phản ứng tự miễn sau khi có sự tương
tác giữa yếu tố gây nhiễm với các thành
phần của hệ thống miễn dịch
như limpho bào T (cơ chế bắt chước phân
tử – molecular mimicry).2,3,16 Mặc dù chưa rơ nguyên nhân,
việc điều trị bệnh XCRR dựa theo các
hiểu biết về cơ chế sinh bệnh và sinh lư
bệnh học vẫn ngày càng có nhiều tiến bộ,
có thật sự cải thiện t́nh trạng sức
khoẻ của các bệnh nhân XCRR.4 Các loại điều
trị này gồm có methylprednisolone cho giai đoạn tái phát
cấp tính, và các thuốc ức chế hay điều
chỉnh miễn dịch khác để làm hăm tốc độ
tiến triển của bệnh (ví dụ như interferon
beta). Tỷ
lệ bệnh toàn bộ của bệnh XCRR dao động
nhiều tuỳ theo từng vùng một trên thế giới
và được giải thích như là biểu lộ
của sự tương tác phức tạp giữa
yếu tố địa dư và yếu tố di
truyền.2,3 Nhận định chung về tỷ lệ
bệnh mới của bệnh XCRR cho thấy
tỷ lệ này tăng
dần khi đi càng xa khỏi xích đạo.
Tỷ lệ bệnh toàn bộ của bệnh XCRR
bằng khoảng 100 / 100 000 dân tại các vùng ôn đới
của bắc Âu, bắc Mỹ và bằng khoảng 300 /
100 000 dân tại các đảo Orkney và Shetland. Ơû các các
nước Châu Á và Châu Phi tỷ lệ bệnh toàn
bộ thấp hơn nhiều, bằng khoảng 5 / 100 000 dân.
Các số liệu dịch tễ học về bệnh XCRR
tại Châu Á c̣n ít
với tỷ lệ bệnh toàn bộ tại Hong Kong
bằng 0.9 / 100 000 dân, bằng 0.8 đến 0.9 / 100 000 dân
tại Đài Loan, bằng 2 / 100 000 dân tại tỉnh Vân
NamTrung quốc, bằng 2.1 / 100 000 dân tại Nhật
Bản, và bằng 2 / 100 000 tại Malaysia.2,17 Tại
Việt Nam chưa có khảo sát dịch tễ học
về bệnh XCRR, riêng tại miền Nam một khảo sát
hồi cứu về các trường hợp được
chẩn đoán là bệnh XCRR đă được công
bố vào năm 2001.8 Độ tin cậy của một
khảo sát hồi cứu luôn
luôn là rất giới hạn do đó chúng tôi đă
tiếp tục tiến hành ngay sau đó một khảo sát
tiền cứu về khía cạnh chẩn đoán của
bệnh XCRR tại phía Nam nước ta mà các kết
quả được tŕnh bày trong báo cáo khoa học này. BỆNH
NHÂN VÀ PHƯƠNG PHÁP
Phương
pháp nghiên cứu Chúng
tôi áp dụng phương pháp khảo sát tiền cứu
và mô tả cắt ngang tất cả các trường
hợp bệnh nhân thần kinh có bệnh cảnh lầm sàng
gợi ư của bệnh XCRR cụ thể gồm các điểm
sau như sau: Tiêu
chuẩn chẩn đoán bệnh XCRR của POSER -
Áp dụng nguyên
tắc chung nhất của chẩn đoán bệnh xơ
cứng rải rác là t́m thấy sự hiện
diện của ba đặc điểm sau: (1) tính rải
rác trong thời gian, nghĩa là có ít nhất
hai đợt bùng phát trở lên; (2) tính rải rác
trong không gian, nghĩa là t́m thấy các triệu chứng
chức năng và / hay thực thể chứng tỏ có ít
nhất từ hai vùng khác nhau trở lên của hệ
thần kinh trung ương bị tổn thương; (3)
đă loại trừ được các loại bệnh khác
vốn có thể cho bệnh cảnh tương tự. -
Áp dụng các tiêu
chuẩn chẩn đoán bệnh xơ cứng rải rác
của Poser và cộng sự viên để đối
chiếu các chẩn đoán bệnh xơ cứng rải rác
của bác sĩ chuyên khoa thần kinh Việt Nam và phân
loại các thể chẩn đoán trong lô nghiên cứu
(bảng 1). 1.
Chẩn đoán
chắc chắn trên lâm sàng (CĐCCLS) bệnh xơ
cứng rải rác (Clinically definite MS) đ̣i hỏi
phải có bằng cớ về sự hiện diện
của từ hai tổn thương trở lên được
ghi nhận qua cả khai thác bệnh sử lẫn khám
thực thể thần kinh hoặc qua bệnh sử có
bằng cớ về hai đợt bùng phát triệu
chứng, kèm theo là có dấu hiệu thần kinh lâm sàng
của một tổn thương và bằng cớ công hưởng
từ (MRI) hay điện thế gợi (EP) về sự
hiện diện của những tổn thương khác. 2.
Chẩn đoán
chắc chắn với hỗ trợ cận lâm sàng (CĐCCCLS)
bệnh xơ cứng rải rác (Laboratory – supported definite
MS) đ̣i hỏi phải
có bằng chứng về sự hiện diện của hai
tổn thương khác nhau
qua hỏi bệnh sử hoặc qua khám thực thể
thần kinh. Nếu chỉ có sự hiện diện
của một tổn thương trong hỏi bệnh
sử hay thăm khám thực thể, cần phải có thêm
sự hiện diện của ít nhất một tổn thương
khác phát hiện nhờ cộng hưởng từ (MRI)
hoặc điện thế gợi (EP). Thêm vào đó lượng
và kiểu h́nh IgG dịch năo tủy phải là bất thường. 3.
Chẩn đoán có
thể có trên lâm sàng (CĐCTLS) bệnh xơ cứng
rải rác, đ̣i hỏi hoặc bệnh sử hoặc thăm
khám thực thể cung cấp bằng chứng về
sự hiện diện của từ hai tổn thương
trở lên. Nếu bệnh sử chỉ cung cấp
bằng chứng về một tổn thương và thăm
khám thực thể thần kinh cũng chỉ cung cấp
bằng chứng về một tổn thương khác,
cần phải có thêm bằng chứng cộng hưởng
từ (MRI) hay điện thế gợi (EP) về một
hay nhiều tổn thương khác nữa. 4.
Chẩn đoán có
thể có với hỗ trợ cận lâm sàng (CĐCTCLS)
bệnh xơ cứng rải rác (laboratory – supported probable
MS) đ̣i hỏi bệnh sử phải chứng tỏ
đă có ít nhất là hai đợt bùng phát triệu
chứng thần kinh và có bất thường
dịch năo tuỷ đi kèm (tăng IgG dịch năo tuỷ
hoặc có Oligoclonal band hiện diện). 5.
áp
dụng định nghĩa của Guidelines from the
International Panel on the Diagnosis of Multiple Sclerosis về tiêu
chuẩn xác định đợt tái phát và đợt
thoái lui bệnh:12 đợt
tái phát phải có triệu chứng
chức năng hay thực thể
hiện diện ngắn nhất cũng phải là
trong 24 giờ; khoảng
thời gian lui triệu chứng giữa hai đợt tái
phát ít nhất cũng phải là 30 ngày. Bảng
1. Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh xơ cứng
rải rác (theo Poser và csv)14
Bệnh nhân được khám
và chỉ định xét nghiệm cận lâm sàng một cách
thống nhất ngay lúc nhập viện bởi các thành viên
trong nhóm nghiên cứu (LM, TNT, TTH, NLTH) theo một mẫu
hồ sơ nghiên cứu đă có sẵn. Khảo sát
được tiến hành tại khoa Thần Kinh Học
bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 12 / 2000 đến
hết tháng 01 / 2003. KẾT
QUẢ
Có 13 trường hợp hội
đủ các tiêu chuẩn chẩn đoán XCRR của POSER,
trong đó gồm 12 trường
hợp chẩn đoán chắc chắn trên lâm sàng ( 11 trường
hợp A1, 1 trường hợp A2), và 1 trường
hợp chẩn đoán có thể có trên lâm sàng (C3).
Bảng 2 tŕnh bày tóm tắt các đặc điểm
chung (tuổi, giới tính, địa dư), phân loại
chẩn đoán theo tiêu chuẩn POSER, đặc điểm
lâm sàng, đặc điểm cận lâm sàng và h́nh
ảnh học của 13 trường hợp nói trên.
Bảng 3 giới thiệu các loại triệu chứng lâm
sàng đă được gặp. Đặc
điểm giới tính, tuổi và phân bố địa dư
Tỷ
lệ Nữ / Nam bằng
11 / 2, riêng trong nhóm chẩn đoán chắc chắn (A1 và
A2) th́ bằng 10 / 2. Tuổi khởi phát bệnh
nhỏ nhất là 17 tuổi, lớn nhất là 49; tuổi khởi phát bệnh
trung b́nh bằng 28. Phân bố địa dư: Tp HCM (2), B́nh
Dương (1), Long An (1), Tiền Giang (1), B́nh Phước
(1), Lâm Đồng (3), Daklak (1), B́nh Thuận (1), Khánh Hoà
(1), Quang Nam (1). Triệu chứng thần kinh
xuất hiện lúc khởi phát bệnh xếp theo thứ
tự ưu tiên từ nhiều nhất đến ít
nhất gồm có: liệt dây thần kinh thị giác
(53.84%), thiếu sót vận động (46.15%), thiếu sót
cảm giác (38.46%), triệu chứng tiểu năo (30.76%),
liệt dây III (7.69%), liệt dây VIII (7.69%), liệt dây IX-X
(7.69%) và liệt dây XII (7.69%). Triệu chứng thần kinh trong quá
tŕnh diễn tiến của bệnh xếp theo thứ
tự từ nhiều đến ít gồm có thiếu sót
vận động (84.61%), thiếu sót cảm giác (84.61%),
rối loạn thực vật (84.61%), liệt dây thị giác
(76.92%), triệu chứng tiểu năo (46.15%), co rút gây đau
(15.38%), triệu chứng vỏ năo (7.69%), liệt các dây sọ khác như dây III, dây
V, dây VIII, dây IX-X và dây XII (7.69%). Bệnh cảnh liệt nửa thân
được gặp ở 3/13 các trường hợp,
liệt hai chi dưới ở 4/13 các
trường hợp, liệt tứ chi ở 4/13 các trường
hợp, liệt trung ương một chi dưới ở
1/13 các trường hợp. Các kiểu h́nh rối
loạn cảm giác đă gặp gồm có dị cảm
nửa thân ở 2/13 các trường hợp, giảm
cảm giác nửa thân ở 1/13 các trường hợp,
giảm cảm giác kiểu khoanh tuỷ ở 7/13 các trường
hợp, dấu Lhermitte dương tính ở 1/13 các trường
hợp. Triệu chứng dây thần kinh thị biểu
lộ chủ yếu dưới dạng giảm thị
lực và teo gai nguyên phát của viêm thị thần kinh
hậu nhăn cầu. Triệu chứng tiểu năo gồm
cả thất điều tư thế, thất điều
tứ chi, thất điều giọng nói và rung giật nhăn
cầu. Các đặc điểm lâm sàng khác được
tŕnh bày trong bảng 3. Khoảng cách giữa hai đợt
tái phát được ghi nhận ngắn nhất là 1 tháng
(trường hợp SNV 6371), và dài nhất là 14 năm (các
trường hợp SNV 14510, 14595). Đặc
điểm dịch năo tuỷ Khảo
sát dịch năo tuỷ (DNT) thường qui trên phương
diện sinh hoá và tế bào đă được thực
hiện ở 12/13 các trường hợp; 01 trường
hợp đă không chấp thuận cho làm xét nghiệm này.
Kết quả khảo sát DNT được ghi nhận là
b́nh thường ở 3/12 trường hợp khảo sát
(các SNV 16945, 6353, 30702) và bất thường ở 9/12 các
trường hợp c̣n
lại. Có 3 trường hợp DNT bất thường
cả về mặt tăng tế bào limpho lẫn tăng
albumin (các SNV 3738, 53115,
65018); có 4/12 trường hợp chỉ có tăng albumin
đơn thuần (các SNV 34595, 14510, 14595, 6371); có 2 trường
hợp chỉ biểu lộ bất thường dưới
h́nh thức tăng số lượng tế bào limpho trong
DNT (các SNV 28253 và 3077). Lượng
albumin DNT tăng cao nhất đă được ghi
nhận là 200 mg/dL vàtăng thấp nhất là 55 mg/dL. Lượng
tế bào limphô tăng cao nhất đă được ghi
nhận là 23/mm3 và tăng thấp nhất là 10/mm3. Khảo
sát DNT t́m dải IgG oligoclonal (IgG oligoclonal bands) đă không
được thực hiện v́ không có phương
tiện và trang thiết bị cần thiết. Bảng
2. Đặc điểm tuổi, giới tính, địa dư,
lâm sàng, cận lâm sàng của Của 12 trường
hợp chẩn đoán chắc chắn trên lâm sàng về
bệnh XCRR và 01 trường chẩn đoán có thể có
trên lâm sàng
về bệnh XCRR.
Bảng
2. Đặc điểm tuổi, giới tính, địa dư,
lâm sàng, cận lâm sàng của Của 12 trường
hợp chẩn đoán chắc chắn trên
lâm sàng về bệnh XCRR và 01 trường chẩn đoán
có thể có trên lâm sàng về bệnh XCRR (tiếp theo).
* có
điều trị bằng methylprednisolone tiêm mạch 500 –
1000 mg / ngày x 3 – 7 ngày. &
Tuổi khởi phát bệnh (TPB)
Hc: hội chứng
DNT: dịch năo tuỷ
(P): phải (T): trái
Alb.: albumine Khảo
sát h́nh ảnh cộng hưởng từ (MRI) đă
được thực hiện ở 11/13 các trường
hợp trong đó có 2 trường hợp khảo sát
cả tuỷ gai lẫn năo bộ (các SNV 6353 và 14510), 5 trường
hợp chỉ khảo sát năo bộ (các SNV 34595, 28253, 53115,
30702 và 6371), và 4 trường hợp chỉ khảo sát
tuỷ gai (các SNV 16945, 3077, 14595, và 65018). Việc khảo sát
MRI cả tuỷ gai lẫn năo bộ đă không được
áp dụng thường qui cho tất cả các bệnh nhân
XCRR của lô nghiên cứu này v́ trở ngại tài chánh.
Chụp MRI có gadolinium đă không được thực
hiện cho tất cả 11 trường hợp nói trên, và
chỉ được thực hiện ở 6 trường
hợp (các SNV 28253, 16945, 53115, 14510, 30702, 65018). Tính
chất rải rác trong không gian của các tổn thương
được ghi nhận ở 8 trường hợp (các
SNV 34595, 28253, 3077, 6353, 53115, 14510, 30702, 6371). Về vị trí
của các tổn thương được ghi nhận như
sau: tổn thương quanh năo thất ở 4 trường
hợp (các SNV 34595, 6353, 30702, 6371), tổn thương
thần kinh thị và/hay giao thoa thị ở 3 trường
hợp (các SNV 34595, 28253, 14510), tổn thương thân năo
ở 6 trường hợp (các SNV 28253, 3077, 6353, 53115, 30702,
6371), tổn thương vùng hạ đồi ở 2 trường
hợp (các SNV 34595, 28253), tổn thương tiểu năo và/hay
cuống tiểu năo ở 3 trường hợp (các SNV
6353, 30702, 6371), tổn thương dưới vỏ ở
1 trường hợp (SNV 6353), và (tổn thương
tuỷ gai ở 4 trường hợp (các SNV 16945, 3077,
14595, 65018). Tổn thương viêm mới, nghĩa là
tổn thướng có bắt gadolinium, được ghi
nhận ở 5 trường hợp (các SNV 28253, 16945, 53115,
30702, 65018). Các xét nghiệm khác để
loại trừ các bệnh có thể cho bệnh cảnh tương
tự như bệnh XCRR đă được thực
hiện, và gồm có Elisa HIV, TPHA, LE cell, ANA, định lượng
vitamin B12 huyết thanh. Các xét nghiệm này đều âm tính. Điều trị trong giai đoạn
cấp bằng tiêm mạch methylprednisolone đă được
thực hiện cho 11/13 các bệnh nhân. Bảng
3. Đặc điểm lâm sàng
của 13 trường hợp được chẩn
đoán XCRR chắc chắn hay có thể trên lâm sàng.
BÀN LUẬN
Dựa
theo tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh XCRR của POSER và
cộng sự viên,14 công tŕnh khảo sát tiền cứu
của chúng tôi đă chứng minh là loại bệnh
mất myelin của hệ thần kinh trung ương này
thật sự có mặt tại Việt Nam. Thể loại
chẩn đoán của bệnh được gặp trong
công tŕnh này chủ yếu thuộc loại chẩn đoán
chắc chắn trên lâm sàng (clinically definite MS), chiếm
12/13 các trường hợp (92.30%). Tuy được
xếp loại là chẩn đoán chắc chắn trên lâm
sàng nhưng điểm đáng chú ư trong lô nghiên cứu
này là 10/12 trường
hợp đă có thêm bằng chứng kiểm tra của
MRI. So với khảo sát hồi cứu lần đầu
tiên của chúng tôi về bệnh XCRR, lần khảo sát
tiền cứu này cho thấy tỷ lệ của loại
bệnh XCRR chẩn đoán chắc chắn trên lâm sàng có
tăng lên (trong khảo sát hồi cứu tỷ lệ
của loại chẩn đoán chắc chắn trên lâm sàng
là 63.63%). Dựa theo kiểu cách diễn tiến của 13
trường hợp th́, ngoại trừ trường
hợp được xếp loại C3, tất cả 12 trường
hợp c̣n lại đều thuộc nhóm bệnh XCRR tái
phát – thoái lui (relapsing-remitting MS). Tháng
7 năm 2000, Hội Thảo Quốc Tế về Chẩn
Đoán Bệnh XCRR có đưa ra những
hướng dẫn về tiêu chuẩn chẩn đoán
bệnh XCRR khác với tiêu chuẩn POSER, nhằm giúp cho
việc chẩn đoán bệnh XCRR được
đơn giản nhưng chính xác hơn.12 Theo các hướng
dẫn đó người ta chỉ phân biệt ra là người
bệnh có bị bệnh XCRR hay không, tức là chẩn
đoán chắc chắn bệnh XCRR? Ngoài ra nếu người
bệnh có một số đặc điểm lâm sàng hay
cận lâm sàng của bệnh XCRR nhưng chưa thật
hội đủ các tiêu chuẩn đă ấn định
th́ xếp loại là chẩn đoán có thể là
bệnh XCRR (possible MS). Khuyến cáo
của Hội Thảo Quốc Tế về Chẩn
Đoán Bệnh XCRR nêu lên những nguyên tắc chính
sau đây: (1) có bằng chứng khách quan về sự
hiện diện của các tổn thương điển
h́nh của chất trắng phân bố rải rác trong không
gian và trong thời gian, và sau khi đă loại trừ
được các nguyên nhân khác vốn có thể cho
một bệnh cảnh tương tự; (2) chẩn đoán
chắc chắn bệnh XCRR thuần tuư chỉ trên cơ
sở lâm sàng là khả thi nếu có đủ các
bằng chứng khách quan về sự hiện diện
của các tổn thương phân bố rải rác trong không
gian và trong thời gian; (3) các thăm ḍ h́nh ảnh học
và xét nghiệm như MRI,
khảo sát DNT, và khảo sát điện thế gợi
thị giác (VEPs) có vai tṛ hỗ trợ cho chẩn đoán
lâm sàng, nhất là khi bệnh cảnh lâm sàng chưa đủ
thuyết phục để xác định chẩn đoán
(trong các thăm ḍ cận lâm sàng này, MRI là phương
thức có độ nhạy và độ tin cậy cao
nhất). Trong
khảo sát tiền cứu của chúng tôi, các nguyên
tắc nêu trên đă được thực hiện trong
điều kiện của trang thiết bị hiện có
tại các tỉnh phía Nam: t́m sự hiện diện của tổn thương
chất trắng hệ thần kinh trung ương rải rác
trong không gian và thời gian (bệnh sử, tiền sử,
thăm khám thực thể thần kinh, h́nh ảnh MRI),
loại trừ các bệnh khác vốn có thể gây
nhầm lẫn với bệnh XCRR. Đặc điểm
rải rác trong thời gian đă được ghi
nhận ở 12/13 các trường hợp, tính chất
rải rác trong không gian được ghi nhận ở
tất cả 13 trường hợp (trong đó có 11 trường
hợp có cả bằng chứng h́nh ảnh học).
Việc chẩn đoán phân biệt với các bệnh khác
vốn cho nhiều tổn thương rải rác
với bệnh cảnh có thể mang tính chất tái
phát - thoái lui tương tự bệnh XCRR10 đă
được chúng tôi cố gắng thực hiện trong
điều kiện tŕnh độ mặt bằng
về thăm ḍ cận lâm sàng ở Tp Hồ Chí Minh
hiện nay: test t́m ANA và LE cell đối với bệnh
lupus ban đỏ rải rác, test ELISA HIV để loại
trừ các trường
hợp bệnh tuỷ và năo liên quan AIDS, test TPHA và VDRL
để loại trừ trường hợp bệnh giang
mai thần kinh, và test định lượng vitamin B12
huyết thanh để loại trừ bệnh thoái hoá
kết hợp bán cấp của tuỷ gai. Một số
bệnh khác như hội chứng Sjogren nguyên phát (viêm khô
giác mạc-kết mạc, khô miệng, viêm khớp
dạng thấp), bệnh Behcet (loét niêm mạc miệng và
niêm mạc sinh dục, viêm màng nho, tổn thương da),
tai biến thuyên tắc năo nhiều ổ, các
bệnh loạn dưỡng chất trắng, các bệnh gây
chèn ép tuỷ, dị dạng Chiari, tai biến mạch máu
tuỷ, cũng đă sơ
bộ được loại trừ dựa trên các đặc
điểm lâm sàng phối hợp với h́nh ảnh
cộng hưởng từ của năo và/hoặc tuỷ
gai. Đối với một số bệnh khác, việc
thực hiện chẩn đoán phân biệt để
loại trừ đă không thể thực hiện
được v́ không có phương tiện xét
nghiệm:không định lượng được
angiotensin converting enzyme trong DNT, đối với bệnh
sarcoid; huyết thanh chẩn đoán Borrelia burgdorferi , đối
với bệnh Lyme; huyết thanh chẩn đoán
t́m kháng thể chống HTLV-1 trong máu và DNT, đối
với bệnh liệt cứng hai chi dưới vùng
nhiệt đới. Tuổi
phát bệnh trung b́nh của bệnh XCRR trong lô nghiên
cứu của chúng tôi là 28 tuổi và gần tương
tự như các dữ liệu đă công bố trong y văn:
tuổi trung b́nh 30, tuổi có giá
trị chẩn đoán bệnh XCRR trong thực hành là trong
khoảng từ 10 đến 50, mặc dù có 2% các bệnh
nhân phát bệnh trước
10 tuổi và có cả trường hợp chỉ phát
bệnh lúc 81 tuổi.2,15,19 Nữ giới chiếm đại
đa số trong lô nghiên cứu này (11/13) cũng là
một đặc điểm nổi bật và phù hợp
với nhận định của y văn về tính
dễ mắc bệnh của nữ giới so với nam
giới đối với loại bệnh này: tỷ
lệ nam/nữ dao động trong khoảng từ 1/1.5
đến 1/3.2 Về đặc điểm
lầm sàng, 13 trường hợp của nghiên cứu này
cho thấy các biểu lộ lâm sàng chứng tỏ
tổn thương tập trung ở nhiều cấu trúc
khác nhau như tuỷ gai, hệ thống đường
thị giác, thân năo và tiểu năo, và đại năo, nhưng
nổi bật nhất là
các triệu chứng của tổn thương tuỷ và
kế đó là của tổn thương đường
thị giác. Bryan Matthews có dẫn chứng số liệu
khảo sát trên 301 bệnh nhân XCRR9 với kết quả
như sau về các vị trí tổn thương:
đường thị giác (92%), tuỷ gai (74%), thân năo và
tiểu năo (55%), vỏ năo (40%). Trong bệnh cảnh
khởi phát, xuất độ % của các triệu
chứng đầu tiên của lô nghiên cứu của chúng
tôi so với số liệu của McAlpine (chúng tôi/McAlpine)
như sau: thiếu sót vận động (46.15/40), viêm
thị thần kinh (53.84/22), rối loạn cảm giác
(38.46/21), song thị hay liệt dây vận nhăn (7.69/12),
rối loạn đái (23/5). Trong lô nghiên cứu của chúng
tôi không ghi nhận được dấu hiệu của
liệt liên nhân vốn khá đặc thù của bệnh
XCRR, và dấu Lhermitte cũng
chỉ được ghi nhận ở một trường
hợp. Teo cơ mô út một bàn tay được ghi
nhận ở một trường hợp và là một
triệu chứng của tổn thương nơron
vận động dưới cũng đă được
đề cập trong y văn: teo cơ bàn tay ở 9/150 bênh
nhân của Fisher; teo cơ ngực, cơ delta, cơ mông, cơ
ức đ̣n chủm, cơ cắn và cơ lưỡi cũng
đă được Davison mô tả. Khảo sát MRI đă được
áp dụng và giúp ích rất nhiều cho chẩn đoán 13
trường hợp chẩn đoán là bệnh XCRR của
công tŕnh nghiên cứu này của chúng tôi, điểm này
phù hợp với những khuyến cáo, nhận định
đă nêu trong y văn: MRI là phương thức h́nh
ảnh học thần kinh được chọn lọc
để hỗ trợ chẩn đoán bệnh XCRR v́ giúp
xác định tính chất rải rác trong không gian và trong
thời gian của các tổn thương chất trắng
tại năo bộ và tuỷ gai.7,11,18 Nhược điểm
cần lưu ư qua khảo sát của chúng tôi là qui tŕnh
chẩn đoán h́nh ảnh học chưa được
tiến hành thống nhất theo một hệ thống
với tiêu chuẩn đánh giá nhất quán ngay từ
đầu. Hiện nay có ba hệ thống tiêu chuẩn
chẩn đoán bệnh XCRR trên MRI12,18 đang được
ứng dụng trong chẩn đoán và nghiên cứu về
loại bệnh này nhưng chưa được áp
dụng triệt để trong qui tŕnh chẩn đoán
tại các cơ sở chẩn đoán h́nh ảnh học
tại thành phố Hồ Chí Minh. Tiêu chuẩn PATY
gồm có sự hiện diện của ít nhất là
ba tổn thương tăng tín hiệu trong chất
trắng trở lên với kích thước bằng ít
nhất là 3 mm trở lên, và ít nhất có một tổn
thương tiếp giáp vớinăo thất bên (hệ
thống tiêu chuẩn này có độ nhạy là 87% và
độ đặc hiệu 92%). Tiêu chuẩn FAZEKAS
gồm có sự hiện diện của từ ba tổn thương
tăng tín hiệu trở lên trong chất trắng với
sự hiện diện của ít nhất là hai trong ba đặc
điểm sau đây, (1) kích thước > 5 mm, (2)
tổn thương tiếp giáp một năo thất, và (3) có
tổn thương ở dưới lều (hệ
thống tiêu chuẩn này có độ nhạy bằng 81%,
độ đặc hiệu bắng 96%). Tiêu chuẩn
của Khuyên Cáo Của Hội Thảo Quốc Tế
Về Chẩn Đoán Bệnh XCRR Năm 2000 gồm có
sự hiện diện của ba trong bốn tiêu
chuẩn sau (1) sự hiện diện của một tổn
thương tăng tín hiệu với gadolinium hay của chín
tổn thương tăng tín hiệu trên h́nh T2W không
gadolinium, (2) có ít nhất một tổn thương dưới
lều, (3) có ít nhất một tổn thương sát
cạnh vỏ năo, và (4) có ít nhất ba tổn thương
quanh năo thất. Ngoài ra một số vị trí hiếm
gặp nhưng rất đặc thù của XCRR là
cuống tiểu năo giữa, trung năo, nơi tiếp giáp năo
thất IV cũng được xem như là một
chỉ điểm chẩn đoán có gia trị trên MRI
đối với bệnh XCRR. Thăm ḍ h́nh ảnh
học bằng MRI c̣n
được xem như là một
phương tiện có giá trị để khảo sát
diễn tiến tự nhiên của XCRR, độ
đáp ứng của bệnh đối với điều
trị, và đánh giá các thử nghiệm lâm sàng về
thuốc điều trị bệnh XCRR.18 Khảo sát DNT thường qui
về sinh hoá và tế bào cũng đă được
thực hiện, tuy nhiên cũng chỉ giúp ích một cách
sơ sài khi phát hiện được sự hiện
diện của các phản ứng tế bào và tăng
albumin gặp chung trong mọi trường hợp viêm
của hệ thần kinh trung ương. Đối
với phản ứng tăng tế bào limpho trong DNT, khuyên
cáo quốc tế về chẩn đoán bệnh XCRR ấn
định số lượng tế bào phải dưới
50/mm;11,12 các trường hợp có tăng tế bào limpho
trong DNT của lô nghiên cứu của chúng tôi đều
thoả măn điều kiện nay. Sự tăng lượng
protein DNT gặp ở các bệnh nhân của chúng tôi cũng
nằm trong các ngưỡng đă được thống
kê trong y văn (2/3 các trường hợp là b́nh thường,
1/3 c̣n lại tăng trong khoảng 0.5 – 0.7 g/L; rất
hiếm gặp là các trường hợp tăng đến
1 g/L hay 2.5 g/L).11,12 Xét nghiệm quan trọng nhất về
DNT trong bệnh XCRR là sự t́m thấy dải IgG oligoclonal
trong DNT bằng phương pháp tập trung đẳng
điện – isoelectric focusing, và đo IgG index đă không
thể thực hiện được v́ không có trang
bị kỹ thuật cần thiết.11,12 Các
khảo sát điện thế gợi (EPs) gồm có điện
thế gợi thị giác kiểu h́nh xoay đảo
(pattern-reversal VEPs), điện thế gợi cảm giác thân
thể (SSEPs) và điện thế gợi thính giác thân năo
(BAEPs) là những phương pháp đă được công
nhận là có giá trị hỗ trợ chẩn đoán
bệnh XCRR, giúp phát hiện những tổn thương câm
lặng trong loại bệnh này.13 Bất thường
của pattern-reversal VEPs được gặp nhiều
nhất trong bệnh XCRR (85% các trường hợp
chẩn đoán chắc chắn
của Chiappa; 86% các trường hợp chẩn đoán
chắc chắn của Fisher), kế tiếp theo là bất
thường của SSEPs (77% các trường hợp
chẩn đoán chắc chắn của Chiappa; 69.50% các trường
hợp của Fisher) và cuối cùng là các bất thường
của BAEPs (67% các trường hợp chẩn đoán
chắc chắn của Chiappa; 65% các trường hợp
chẩn đoán chắc chắn của Fisher).13 Theo khuyên cáo
của Hội Thảo Quốc Tế về Chẩn Đoán
Bệnh XCRR năm 2000, VEPs là phương pháp thăm ḍ
đáng tin cậy nhất trong ba phương pháp điện
thế gợi vừa mới nêu nên cần được
đưa vào mục các phương pháp thăm ḍ cận
lâm sàng phải có của qui tŕnh chẩn đoán bệnh
XCRR.12 V́ không có trang thiết bị cần thiết,
tất cả các trường hợp trong lô nghiên cứu
của chúng tôi đễu đă không được thăm
ḍ bằng kỹ thuật điện thế gợi. KẾT LUẬN
Khảo sát tiền cứu của
chúng tôi cho thấy là bệnh XCRR thật sự có
hiện diện ở Việt Nam, và để chẩn
đoán nó trước hết vẫn là dựa trên sự
phát hiện các đặc điểm lâm sàng chứng
tỏ sự hiện diện của các tổn thương
thần kinh thực thể phân tán trong không gian và trong
thời gian, kết hợp với kết quả đặc
thù của tổn thương chất trắng qua khảo
sát h́nh ảnh học cộng hường từ của
cả năo bộ lẫn tuỷ gai. Để tăng cường hơn
nữa chất lượng của chẩn đoán bệnh
XCRR cần cải tiến hơn nữa một số khía
cạnh sau đây của qui tŕnh chẩn đoán bệnh này:
có biện pháp để làm tốt hơn nữa việc
chẩn đoán phân biệt, thực hiện thống
nhất các tiêu chuẩn chẩn đoán MRI đối
với bệnh XCRR, áp dụng thêm một số phương
pháp thăm ḍ cận lâm sàng cần thiết như kỹ
thuật điện thế gợi, phương pháp
khảo sát t́m IgG oligoclonal DNT và
phương pháp đo chỉ số IgG. Một số khía
cạnh khác liên quan đến bệnh XCRR cũng cần
được bắt đầu chuẩn bị nghiên
cứu như dịch tễ học của bệnh XCRR
ở Việt Nam, và điều trị bệnh XCRR trong
điều kiện của nước ta. Tài liệu tham khảo
1.
COMPSTON A. (1999). The story of multiple sclerosis. In: Alastair
Compston et al eds McAlpine’s Multiple Sclerosis, 3rd
edition, Churchill Livingstone, London, p 3 – 42. 2.
COMPSTON A. (1999). Distribution of multiple sclerosis. In: Alastair
Compston et al eds McAlpine’s Multiple Sclerosis, 3rd
edition, Churchill Livingstone, London, p 63 – 100. 3.
COMPSTON A. (1999). Genetic susceptibility to multiple sclerosis. In:
Alastair Compston et al eds McAlpine’s Multiple Sclerosis, 3rd
edition, Churchill Livingstone, London, p 101 – 142. 4.
COMPSTON A. (1999). Treatment and management of multiple sclerosis. In:
Alastair Compston et al eds McAlpine’s Multiple Sclerosis, 3rd
edition, Churchill Livingstone, London, p 437 – 498. 5.
EBERS G. (1999). Natural history of multiple sclerosis. In: Alastair
Compston et al eds McAlpine’s Multiple Sclerosis, 3rd
edition, Churchill Livingstone, London, p 191 – 221. 6.
HOGANCAMP W.E., NOSEWORTHY J.H. (1999). Demyelinating disorders of the
central nervous system. In: Goetz CG, Pappert
EJ eds Textbook of Clinical
Neurology, WB Saunders Company, Philadelphia, p 970 – 989. 7.
LEE B.C. P., MAHESHWARI M., ZEE C. S. (1996). White matter disease. In
Chi Shing Zee ed Neuroradiology: a study guide, McGraw – Hill, p
309 – 322. 8.
LÊ MINH, LÊ VĂN THÀNH, NGUYỄN BÁ THẮNG, NGUYÊN LÊ
TRUNG HIẾU (2001). Hiện trạng của việc chẩn
đoán và điều trị bệnh xơ cứng rải
rác: khảo sát hồi cứu 11 trường hợp
tại một khoa thần kinh. Y Học Thành Phố
Hồ Chí Minh, phụ bản số 4, 5: 95 – 100. 9.
MATHEWS B. (1999). Symptoms and signs of multiple sclerosis. In: Alastair
Compston et al eds McAlpine’s Multiple Sclerosis, 3rd
edition, Churchill Livingstone, London, p 145 – 190. 10.
MATHEWS B. (1999). Differential diagnosis of multiple sclerosis and
related disorders. In: Alastair Compston et al eds McAlpine’s Multiple
Sclerosis, 3rd edition, Churchill Livingstone, London, p 223 –
250. 11.
McDONALD I. (1999). Diagnostic methods and investigation in multiple
sclerosis. In: Alastair Compston et al eds McAlpine’s Multiple Sclerosis,
3rd edition, Churchill Livingstone, London, p 251 – 279. 12.
McDONALD I. COMPSTON A., EDAN G. et al (2001). Recommended diagnostic
criteria for multiple sclerosis: guidelines from the international panel on the
diagnosis of multiple sclerosis. Annal Neurol, 50: 121 – 127. 13.
MAUGUIÈRE F., GARCIA-LARREA, MURRAY N.M.F., ROGERS T. (1995). Evoked
potential diagnostic strategies – Assessment of silent demyelinating lesions
in multiple sclerosis. In: John W. Osselton ed Clinical Neurophysiology –
EMG, Nerve Conduction and Evoked Potentials, Butterworth – Heinemann,
Oxford, p 482 – 492. 14.
POSER C.M., PATY D.W., SCHEINBERG L. et al. (1983). New diagnostic
criteria for multiple sclerosis: guidelines for research protocols. Ann
Neurol, 13: 227 – 231. 15.
POSER C.M. (1994). The epidemiology of multiple sclerosis: a general
overview. Ann Neurol, suppl 2, 36: S 180 – S 193. 16.
SKEG D.C.G. (1991). Multiple sclerosis – nature or nurture. BMJ,
302: 247 – 27-48. 17.
TAN C.T. (1988). Multiple sclerosis in Malaysia. Archives of Neurology,
45: 624 – 627. 18.
WEIGELE J. B., ZIMMERMAN
R.A. (1999). White matter disease. In Lee
S. H., Rao K. C. V. G. and Zimmmerman R.A. eds Cranial
MRI and CT, McGraw – Hill, p 599 – 634. 19.
WEINSHENKER B.G., BASS B. et al. (1989).
The natural history of multiple sclerosis. A geographically based study.
I, Clinical course and disability. Brain, 112: 133 – 146. 20. WEINSHENKER B.G. (1995). The natural history of multiple sclerosis. Neurol Clin, 1: 119 – 146.
| ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|