|
|
KHẢO
SÁT HẰNG SỐ
DẪN TRUYỀN DÂY THẦN KINH Ở 116 NGƯỜI
TRƯỞNG THÀNH
Vơ
Đôn, Hứa T Tú Sơn , Nguyễn Mai Hoà , Nguyễn Văn
Trí, Nguyễn
T Lan Hương, Trần Thi Aùnh I.ĐẶT
VẤN ĐỀ : Khảo
sát dẫn truyền dây thần kinh là một trong những
phương pháp được sử dụng thường
quy nhất tại pḥng chẩn đoán điện , cũng
như trong tiếp cận chẩn đoán bệnh thần
kinh ngoại biên , bệnh cơ , hổ trợ rất lớn
trên lâm sàng . Giúp chúng ta xác định sinh lư bệnh như
thoái hoá thần kinh dạng huỷ myêlin hay thoái hoá sơị
trục , tổn thương
hổn hợp , xác định được
vị trí dây thần kinh bị Entrapment (1)(5)(6)… Mà
chủ yếu dựa vào các thông số nghiên cứu
dẫn truyền dây thần kinh để so sánh Trên
thế giới , ở các nước phát triển tại
mỗi pḥng chẩn đoán điện sinh lư đều có
một chỉ số khảo sát riêng ở mỗi dây
thần kinh . Ở
Việt Nam chúng ta , ở
miền bắc chúng tôi chưa được tiếp
cận rơ về chẩn
đoán điện sinh lư , ở miền nam vào năm 1992
, bệnh viện 175 TP
Hồ Chí Minh có trang bị một máy điện cơ
và đă nghiên cứu riêng cho ḿnh một chỉ
số riêng , từ đó đă đặt nền móng
đầu tiên góp phần phát triển nghành thần kinh nói
chung và nghành chẩn đoán điện nói riêng . Từ
đó đến nay nghành chẩn đoán điện phía
nam đă và đang tiếp tục phát triển.( Hiện có
09 pḥng chẩn đoán điện ) Bệnh
viện nhân dân 115 tháng 07
/2002 trang bị một máy chẩn đoán điện
thần kinh NEUROPACK (-MEB-9104K hăng NIHON KOHDEN . Nhưng hơn
02 năm hoạt động
nhưng chúng tôi chưa thực hiện được nghiên
cứu các chỉ số ở người b́nh
thường , phải sử dụng các chỉ
số của đơn vị bạn trong nước và các
chỉ số ở người nước ngoài
đôi lúc thiếu khách quan. Chính
v́ thế chúng tối nghiên cứu đề tài này là
hết sức thiết thực và có giá trị sử
dụng cao trong lâm sàng phục ngay cho chính bệnh viện Mục
đích của nghiên
cứu này , là áp dụng quy tŕnh chẩn đoán điện
chuẩn của thế giới để t́m các chỉ
số cho ngời việt nam b́nh thường , nhằm
phục vụ chẩn đoán lâm sàng thần kinh hiện
tại . II.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN
CƯÚ : Phương
pháp mô tả cắt ngang Đối
tượng nghiên cứu : Người
b́nh thường khoẻ mạnh , nhân viên y tế đang
làm việc , đă được
khám sơ bộ và loại trừ các bệnh
thần kinh , bệnh tiểu đường suy bệnh gan
, bệnh thận và các bệnh nội tiết và
chuyển hoá khác.
Phương
tiện và kỹ thuật : Các thông số chẩn
đoán điện được khảo sát trên máy
NEUROPACK (-MEB-9104K tại pḥng điện cơ của
Bệnh Viện Nhân Dân 115 thành phố Hồ Chí Minh. Dùng
ḍng điện một chiều, thời khoảng (duration)
của mỗi kích thích là khoảng 0.2 ms. Cường
độ kích thích để ghi đáp ứng vận
động của cơ là cường độ trên
tối đa (supramaximal intensity). Thông thường cường
độ này khoảng 15-30
mA, tùy từng người. Khi kích thích để ghi
cảm giác, chỉ cần kích thích với cường
độ thấp (khoảng 10-15mA ). Đôi khi do biên dộ
của điện thế rất thấp và lầm vào
với các nhiễu, chúng tôi phải dùng kỹ thuật
trung b́nh hóa (averaging) đễ
ghi được điện thế
cảm giác rơ ràng và lọai bỏ nhiễu. Phương
pháp kích thích ( ghi thông qua h́nh ảnh ) : Chúng
tôi khảo sát các dây thần kinh ở một bên của
mỗi chi Bảng
1 : Quy tŕnh khảo sát dẫn truyền dây thần
kinh :
Kết
quả:
Chúng
tôi đă thực hiện phép ghi khảo sát dẫn
truyền dây thần kinh ở 116 người b́nh thường
, trong đó 54 namvà 62 nữ, tuổi trung b́nh là 32 (
SD : 6,45 cao nhất là 48 và thấp nhất là 21 ), nhiệt
độ pḥng là 27(C Bảng
2: Các hằng số về vận động
Cảm
giác : Chúng
tôi chọn phương pháp ghi thuận chiều Chúng
tôi dùng hai cách chọn
thời gian tiềm cảm giác như tŕnh bày dưới
đây Bảng
3 a : Các hằng số về cảm giác
Bảng
3b : Hằng số sóng
f chi trên và chi dưới
III. BÀN LUẬN
:
Phương
pháp ghi dẫn truyền dây
thần kinh giúp khảo sát tổn thương dây thần
kinh ở ngoại vi . Giúp các bác sỹ lâm sàng phân
biệt sinh lư bệnh huỷ
myelin , tổn thương sợi trục , sợi lớn
hay sợi nhỏ , vận động hay cảm giác cũng
như các vị trí chèn
ép dây thần kinh . Đây
là báo cáo lần đầu
trong nội bộ hội thần kinh học TP Hồ Chí
Minh. Tuy nhiên Bệnh viên 175 , khoa chẩn đoán chức năng
đă có các chỉ số dẫn truyền dây thần kinh
riêng cho ḿnh , nhưng chúng tôi không t́m được
tài liệu công bố Chúng
tôi so sánh kết quả của ḿnh với các kết
quả của nước ngoài, bao gồm nhiều nghiên
cứu khác nhau qua các
bảng 4 , bảng 5 , bảng 6 , bảng 7 , bảng 8 ,
bảng 9 và bảng 10
được tŕnh bày dưới đây Qua
các số liệu so sánh trên , kết quả của chúng tôi
khá gần với các số liệu khác trên thế
giới Tuy
nhiên nghiên cứu của chúng tôi chỉ là nghiên cứu bước
đầu nên chưa được hoàn chỉnh , chúng tôi
dự kiến sẽ bổ xung các chỉ số trên hoàn
chỉnh hơn Kết
luận Chúng
tôi đă nghiên cứu trên 116 người
Việt nam b́nh thường khoẻ mạnh , và t́m
được các thông số b́nh thường . Các
kết quả của chúng tôi tương đối phù
hợp với các tác khác trên thế giới . Chúng tôi
dự sẽ triển khai tiếp các phương pháp
dẫn truyền đặc biệt khác và tiếp tục
thực hiên phương pháp này
trên máy Medtronic . Chúng tôi mong muốn có các nghiên
cứu của các pḥng điện cơ của các
bệnh viện bạn , nhằm có những số liệu
lớn hơn , cũng như mỗi pḥng điện cơ
nên có bảng chuẩn b́nh thường của riêng
ḿnh . Xin
chân thành Ban giám đốc bệnh viện , khoa
thần kinh bệnh viện nhân dân 115 , các đồng
nghiệp và những người t́nh nguyện khác đă
giúp đỡ chúng tôi hoàn thành nghiên cứu này . TÀI
LIỆU THAM KHẢO:. 1)
Kimura J: Electrodiagnosis in diseases of nerve and muscle: Principles
and practice F. A. Davis ,1983, 494 – 496. 2)
Joel A. Delia : Manual of nerve conduction velocity and clinical
neurophysiollogy. Third Edition , Raven Press - New York
1994 3)
Michael J. Aminoff, M. D., F.R.C.P: Electromyography in Clinical
Practice, third editon, 1998, 399 – 41 4)
Nguyễn Hữu Công: Bệnh hệ thần kinh
ngoại biên. Chẩn đoán điện và bệnh lí
thần kinh cơ, Nhà xuất bản y học chi nhánh thành
phố Hồ Chí Minh,1998,154
156. 5)
Nguyễn Xuân Phách . Thống kê y học , Nhà xuất
bản y học 2000 6)
.Preston
David C ,MD & Barbara E . Shapirio, MD : Electromyography and neuromuscular
disorder ,Butterworw-Heinemann 1998 Bảng
4: Bảng so sánh các hằng số vận động dây
thần kinh giữa | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||