|
|
Thuốc
Bảo vệ thần kinh và thương tổn
do
năo bị chấn thương
Alan
I. Faden, MD. Neuroprotection and Traumatic Người
dịch: BS Nguyễn Thanh Giang Trong
suốt thập kỷ qua, những nghiên cứu thực
nghiệm về thương tổn năo do chấn thương
(TBI) đă cung cấp những hiểu biết mới
về cơ chế sinh lư bệnh dẫn đến
thiệt hại về mô sau chấn thương và liên
quan với loạn chức năng của hệ thần
kinh. Khái niệm về sự chậm trễ (tŕ hoăn)
hoặc những thương tổn về mô thứ phát có
sự ủng hộ mạnh mẽ ở thực nghiệm
và từng đợt (cascade) của những yếu tố
thương tổn thứ phát đă được phác
hoạ. Điều này đă đưa đến sự
ứng dụng nhằm tới điều trị thuốc,
ư định của chúng là ngăn chặn riêng biệt
những con đường sinh bệnh học. Việc nghiên
cứu như thế đă được giúp đỡ
bởi sự phát triển của những mô h́nh loài
gặm nhấm về những thương tổn ở
đầu như là những thành phần nguy cấp tái
tạo của những chấn thương thần kinh
trong lâm sàng cũng tốt như sự phát triển
của những yếu tố bảo vệ thần kinh
mới. Những nghiên cứu thực nghiệm này đă
nhận biết ra những cơ chế của thương
tổn thứ phát về mô và đă chứng minh hiệu
quả của phần lớn những chiến lược
điều trị bằng thuốc. Tuy nhiên, dù triển
vọng thực nghiệm to lớn như thế, những
nghiên cứu lâm sàng đă làm thất vọng. ở đây
chúng tôi khảo sát tỉ mỉ kết quả của
nhận thức và phương pháp luận, điều
đó đă đóng góp sự không thống nhất
giữa những nghiên cứu thuộc về lư thuyết và
lâm sàng. Những
nghiên cứu thuộc về lư thuyết của những thương
tổn thứ yếu và chất bảo vệ thần kinh
Mặc
dù những nghiên cứu mới đây tập trung vào mô h́nh
thương tổn trong năo trong những loài cao cấp hơn
như cừu, mèo và động vật linh trưởng,
hầu hết những nghiên cứu suốt thập kỷ
qua đă sử dụng vật mẫu là loài gặm
nhấm. Những nghiên cứu như thế đă
thiết kế để phản ảnh những thành
phần nào đó (chắc chắn) của những thương
tổn sọ năo ở lâm sàng như là dập năo, ổ
máu tụ hoặc thương tổn sợi trục
thần kinh tràn lan. Tuy nhiên, có những câu hỏi đáng
lưu tâm như là dạng động vật nào th́
thoả đáng tương ứng với những thương
tổn năo người, cái mà bị những rối
loạn hỗn tạp ở mức độ cao. Tuy nhiên
mẫu thuộc bộ gặm nhấm thường có khuynh
hướng lai cùng ḍng cao của một giống trong
sự cố gắng để giảm đến mức
tối thiểu tính biến thiên thường hay xảy
ra. Mặc dù có những hạn chế này, sự đa
dạng của những thay đổi hóa sinh đă
nhận ra một cách kiên định qua những mẫu
thực nghiệm và qua pḥng thí nghiệm, bao gồm
những thay đổi ion vi lượng (canxi, kali, natri,
magne), sự phóng thích của các axit amin dễ bị kích
thích, sự cảm ứng của các gốc tự do,
những sự thay đổi do viêm hoặc ở người
được miễn dịch và những thay đổi
của hệ thống dẫn truyền thần kinh phức
tạp, giữa những cái khác. Nó cũng đă
được chứng minh rằng TBI dẫn đến
apoptotic cũng như việc chết tế bào và cả
hai h́nh thức của việc chết tế bào đó có
lẽ nên được điều chỉnh thuốc.
Những quan sát này đưa đến sự đánh giá
về những chiến lược dùng nhiều thuốc
bao gồm: ức chế kênh canxi, cocticoit và các chất
chống oxy hoá khác, chất đối kháng thụ cảm
thể glutamát, chất đối kháng thụ cảm
thể opioid, hocmôn tương tự thyrotropinreleasing và
sự điều chỉnh magne cũng như những
việc điều trị chống viêm và điều
chỉnh miễn dịch khác nhau. Một vài cách này như
là sử dụng những chất đối kháng thụ
cảm thể N-methyl-D-aspartat đă có sự ủng hộ
đặc biệt mạnh mẽ của thực nghiệm.
Gần đây hơn điều đó cũng đă
được chỉ ra rằng sự điều biến
của chết tế bào apoptotic bởi ức chế
caspases cũng như cải thiện hậu quả sau TBI.
Chiến lược khác thu được sự gia tăng
ủng hộ của thực nghiệm nhưng điều
đó chưa được thể hiện trong những
thử nghiệm lâm sàng được thiết kế
tốt như là điều trị phối hợp cả
hai những thành phần ngăn cản khác nhau của
đợt thương tổn thứ phát hoặc sự
quản lư những yếu tố đơn lẻ (như
hocmôn phóng thích thyrotropin hoặc HU - 211) những thành
phần phức tạp biến chuyển của từng
đợt. Chất
bảo vệ thần kinh và TBI: những nghiên cứu lâm sàng
Suốt
50 năm qua, nhiều thử ngiệm lâm sàng về tác nhân
bảo vệ thần kinh đă được chỉ
đạo. Nói chung nó không chỉ ra được
hiệu quả có ích thực sự. Những thử
nghiệm phủ nhận bao gồm những đánh giá
của việc dùng cocticoit, bacbiturat, ức chế kênh
canxi, chống oxy hóa, làm sạch gốc tự do, chất
đối kháng glutamát và một số những chất khác.
Lẽ nào quá khó khăn để chứng minh hiệu
quả của những điều trị bằng thuốc
với thương tổn sọ năo trong những ư
kiến trái ngược tới những nghiên cứu
gần đây về đột quỵ hoặc những thương
tổn tuỷ sống. Hơn nữa, có nhiều sự khác
nhau trong thực tế giữa những nghiên cứu thương
tổn sọ năo động vật và những nghiên
cứu lâm sàng được kể lại. Có những
lời giải thích về khả năng khác nhau cho
những thất bại như thế. Tính
không đồng nhất về những phân bố dân cư
đă được nghiên cứu
Như
điều kể trên đă được chú ư,
những bệnh nhân bị thương tổn năo nghiêm
trọng kể cả phân bố không đồng nhất
với sự quan tâm về những cơ chế cơ
bản của thương tổn thứ phát với
hậu quả bao gồm những mức độ biến
đổi của giảm oxy huyết, thiếu máu năo
cục bộ, dập năo, thương tổn sợi
trục tràn lan, phù năo và sự có mặt của ổ máu
tụ kết hợp. Bởi vậy, trong những chiến
lược đánh giá tiềm năng điều trị,
những người điều tra nghiên cứu có lẽ
cần tốt hơn tức là bệnh nhân nghiên cứu
được phân thành những bộ phận dân cư
riêng biệt. Ví dụ: mặc dù hai thử nghiệm lâm sàng
mới đây về điều trị nimodipine trong
chấn thươngđầu đă bị phủ
nhận, sự phân tích nhóm phụ gợi ư lợi ích
tiềm tàng trong những bệnh nhân chảy máu dưới
màng nhện. Một nghiên cứu nhỏ tiếp sau tập
trung vào những bệnh nhân với thương tổn
chảy máu đă thông báo hiệu quả điều
trị đầy ư nghĩa. Cái sau sẽ cần được
nhắc lại với số lượng bệnh nhân
lớn hơn nhưng điều đó gợi ư khả năng
mô tả rơ ràng hơn ở những nhóm bệnh nhân
với những chấn thương đầu có thể làm
gia tăng sự thật là hiệu quả của thuốc
bảo vệ thần kinh có lẽ đă được
theo dơi. Tính
trầm trọng của thương tổn
Những
thử nghiệm lâm sàng nói chung bao gồm những
bệnh nhân với những thương tổn sọ năo
nghiêm trọng. Tuy nhiên những nghiên cứu ở động
vật đă chỉ ra rằng thương tổn sọ năo
vừa phải có lẽ cung cấp tín hiệu (mục tiêu)
tốt hơn cho việc đánh giá ở những điều
trị bằng thuốc bảo vệ thần kinh. Những
bệnh nhân với thương tổn nghiêm trọng có
lẽ không thể chứng minh hiệu quả của điều
trị bởi sự trầm trọng của chấn thương
ban đầu hoặc những thương tổn kết
hợp. Mặc khác, việc thu nhận cả những
bệnh nhân chỉ có thương tổn nhẹ nhàng có
lẽ đưa đến hiệu quả cao hơn
thực tế ở hiệu quả điều trị có
thể được quan sát trừ khi một số lượng
dân số rất lớn đă được nghiên
cứu. Sự
thích hợp của những loài động vật nghiên
cứu
Những
loài động vật thường được
thiết kế cho mẫu thương tổn sọ năo lâm
sàng phối hợp như chấn động năo hoặc
dập năo để cải thiện tính vững chắc
ở những chủ thể và giảm thiểu tính
biến thiên tác động. Mặc dù có những khó khăn
vốn có, nó cũng sẽ là đáng ao ước để
phát triển những mẫu động vật phức
tạp hơn mà những mẫu này có lẽ bao gồm
giảm oxy máu, thiếu máu, những phần hợp thành có
liên quan của thương tổn lâm sàng sọ năo
(chảy máu năo và ổ máu tụ). Những
vấn đề cuối cùng
Những
vấn đề cuối cùng trong lâm sàng và trong những
nghiên cứu thực nghiệm thường bất đồng
đáng kể. Những nghiên cứu thực nghiệm ngày
nay thường sử dụng việc đánh giá bằng
máy và những phép đo thể tích của thương
tổn, trong khi những nghiên cứu lâm sàng có thể
khảo sát phối hợp cái chết, sự ốm
yếu hoặc sử dụng những vật để ghi
thay thế như những thay đổi áp lực trong
sọ. Thời
gian cửa sổ điều trị
Trong
những nghiên cứu thực nghiệm, điều trị
thuốc thường thực hiện như điều
trị ban đầu hoặc điều trị rất
sớm (15 - 30 phút). Trong trường hợp trái lại,
những nghiên cứu lâm sàng có thể đôi khi thâm
nhập vào năo bị thương ở bệnh nhân
được nghiên cứu sớm từ 3 - 6 giờ sau
tổn thương, đặc biệt quang cảnh khó khăn
ở sự đồng ư am hiểu đạt được.
Thời gian điều trị thích hợp nhất nên
được khảo sát ở những nghiên cứu
động vật trước khi áp dụng ở thực
hành lâm sàng. Thời gian cho phép điều trị sớm
cũng là một vấn đề quan trọng để
phát triển những con đường chữa trị
trong y khoa. Dược
lư học trong những mẫu thực nghiệm
Trong
những nghiên cứu động vật, hiếm khi
những nghiên cứu về dược lực học
hoặc nghiên cứu về dược động học
được thực hiện. Tuy nhiên những nghiên
cứu khảo sát thâm nhập vào trung tâm của cơ
thể trông nom, quản lư đa hợp hiếm khi
được điều khiển. Nh́n từ một góc
độ nào đó nghiên cứu tác dụng của
thuốc lên cơ thể cặn kẽ hơn cũng
tốt như sự lạc quan của việc điều
trị nên được thực hiện ở động
vật trước khi nghiên cứu như thế trong
những thử nghiệm lâm sàng. Sự
kết hợp hay những chiến lược điều
trị đa tiềm năng
Nghiên
cứu thực nghiệm đă thiết lập nên rằng
cả hai dạng chết tế bào necrotic và apoptotic
xảy ra sau TBI. Hơn nữa nó cũng chỉ ra rằng
những chiến lược điều trị nhằm vào
chết tế bào necrosis có thể làm tăng chết
tế bào apoptotic. Đặc biệt, điều trị
kết hợp với những yếu tố có xu hướng
với mỗi loại chết tế bào đă chỉ ra
những chất cho thêm vào hiệu quả của điều
trị nếu không hiệp lực. Những nghiên cứu
xa hơn cần được khảo sát liệu
những chiến lược điều trị kết
hợp như thế có thể ngăn cản những
hậu quả trong những cơ thể động
vật mẫu phù hợp ở lâm sàng hơn nữa. Những
bất đồng về phương pháp luận gần
đây
Những
bất đồng chủ yếu giữa những nghiên
cứu lâm sàng và tiền lâm sàng là lâm sàng thường
sử dụng phương pháp luận cho mục đích
điều trị nghĩa là các bệnh nhân được
thu nhận vào trong nhóm điều trị ngay cả khi do sơ
suất họ không nhận được liều điều
trị có hiệu qủa. Trái lại với thử
nghiệm ở động vật, các nhà điều tra
loại từ đều dặn những động
vật không nhận được sự điều
trị đầy đủ, trong
nhiều trường hợp, các chủ thể
bị loại trừ dựa trên những tiêu chuẩn khác,
ví dụ như chấn thương chưa thoả đáng. Có
thể ứng dụng nghiên cứu về thương
tổn như thế nào
Nhiều
thương tổn nghiêm trọng đă được
nghiên cứu suốt những năm qua đánh giá
những thử nghiệm lâm sàng thiết kế trong
những nghiên cứu thuốc bảo vệ thần kinh và
những thương tổn sọ năo. Nhiều nghiên
cứu thông báo đă có liên quan với đầy đủ
của quy mô mẫu và một vài nghiên cứu gần
đây gợi ư đến những gia tăng đáng
kể trong quy mô mẫu trù định. Những nghiên
cứu lâm sàng trong tương lai nên nhận biết
nhiều hơn việc phân bốdân cư trong những
mục tiêu đồng nhất, tập trung ư tưởng
một cách đúng mức trong chữa trị những thương
tổn trầm trọng hoặc nhẹ nhàng. Điều
đó sẽ quan trọng khi phân loại tốt hơn
những cộng đồng dân cư này, ví dụ: có hay
không có chảy máu năo đáng kể hoặc những
yếu tố lầm lẫn khác. Những thử nghiệm
trong tương lai cũng nên chờ đợi những thông
tin điều tra nghiên cứu tiền lâm sàng đâỳ
đủ hơn nữa, đặc biệt lưu tâm đến
những vấn đề như cửa sổ điều
trị, nghiên cứu dược lực học và dược
động học tác dụng tới cơ thể và
sự thâm nhập của thuốc tới hệ thống
thần kinh trung ương. Cuối cùng, tầm quan
trọng là ở chỗ đánh giá những hoạt động
tiềm năng của thuốc trong điều trị (thay
đổi nhiều thành phần của đợt thương
tổn thứ phát) hoặc những chiến lược
điều trị phối hợp.
|
|
|