THAM KHẢO THẦN KINH HỌC

NhipDQ

Home Up Feedback Contents Search

 

Glucose

H̀NH ẢNH LÂM SÀNG, NHÂN KHẨU HỌC VÀ SỰ THAY ĐỔI THỜI GIAN KHỞI PHÁT ĐỘT QUỊ THIẾU MÁU NĂO THEO NGÀY.

Ilaria Casetta, MD; Enrico Granieri, MD; Elisa Fallica, MD; Olga la Cecilia, MD; Ezio Paolino; Roberto Manfredini, MD. Patient demographic and clinical features and circadian variation in onset of ischemic stroke. Arch Neurol/Vol 59, Jan 2002; P 48-53.

Người dịch: BS Bạch Thanh Thủy  

(Xin tham khảo thêm nghiên cứu tại Việt Nam về đề tài này - BS Vơ Đôn BV ND 115)     

Mở đầu: Các nghiên cứu đă thông báo sự thay đổi về thời gian khởi phát đột quị thiếu máu năo theo ngày, điều này có thể chứa đựng những mối liên hệ sinh lư bệnh quan trọng. Tuy nhiên, không có thông tin chi tiết về thay đổi thời gian xuất hiện đột quị theo ngày trong các phân nhóm đột quị.

Mục đích: xác định có hay không các phân nhóm bệnh nhân đột quị thiếu máu năo với các đặc điểm lâm sàng đặc biệt có thể biểu lộ các kiểu khởi phát theo thời gian trong ngày khác nhau, kiểm tra một cách hệ thống vai tṛ có thể của các yếu tố nhậy cảm hoặc thúc đẩy.

Thiết kế và môi trường: phân tích vai tṛ của các yếu tố sinh lư bệnh, nội khoa, nhân khẩu học đối với kiểu thời gian khởi phát theo ngày của một loạt bệnh nhân bị đột quị thiếu máu máu năo không chọn lọc nhập viện liên tiếp vào bệnh viện của chúng tôi.

Kết quả: nghiên cứu bao gồm 1656 bệnh nhân. Như các kết quả nghiên cứu khác, đỉnh cao khởi phát đột quị đă xuất hiện vào buổi sáng, đỉnh thứ hai xuất hiện vào buổi chiều. Thay đổi thời gian khởi phát đột quị thiếu máu đă tỏ ra phụ thuộc vào các yếu tố đă xem xét.

Kết luận: Nghiên cứu của chúng tôi xác định nhịp theo ngày của đột quị trong các nghiên cứu mới đây đă được thông báo. Có kiểu đột quị thiếu máu theo tŕnh  tự thời gian vào buổi sáng, điều này xuất hiện phụ thuộc vào sự có mặt của các yếu tố nguy cơ và các phân nhóm đột quị theo lâm sàng. Vai tṛ của thời khoảng biến thiên áp lực máu (tồn tại ở những bệnh nhân có hoặc không có tăng huyết áp) và trùng hợp với tăng đông vào buổi sáng được gợi ư như là yếu tố quyết định có thể của dạng này. Những can thiệp về dược lư nhằm pḥng ngừa đă nhằm vào tiêu đích đặc biệt việc tăng các yếu tố nguy cơ vào buổi sáng có thể có lợi trong việc làm giảm toàn bộ nguy cơ đột quị thiếu máu.

            Các số liệu đă chỉ ra rằng khởi phát của nhiều bệnh mạch máu lớn không phân bố ngẫu nhiên theo thời gian. Sự tồn tại kiểu khởi phát bệnh mạch máu năo theo thứ tự thời gian đặc biệt  được xác định  bởi nhịp thời khoảng theo ngày, theo tuần, theo năm đă được khám phá. Tần xuất cao hơn có ư nghĩa vào buổi sáng đă được thông báo và được xác định bởi một phân tích lớn mới đây. Mặc dù kiểu rơ ràng của khởi phát đột quị thiếu máu đă được chứng minh, một vài nghiên cứu đă nhằm vào khả năng là các kiểu khởi phát theo thứ tự thời gian khác nhau có thể thấy trong các phân nhóm khác nhau của các bệnh nhân bị đột quị thiếu máu. Mục đích của nghiên cứu này là điều tra xem có hay không có sự thay đổi khởi phát đột quị thiếu máu trong ngày như vậy, có thể mô tả các phân nhóm bệnh nhân với các đặc điểm về bệnh học hoặc nhân khẩu học khác nhau trong một số lớn bệnh nhân đột quị thiếu máu.

BỆNH NHÂN VÀ PHƯƠNG PHÁP

CHỌN LỰA BỆNH NHÂN VÀ VÙNG NGHIÊN CỨU:

            Ferrara là một thành phố miền đông bắc nước ư với số dân trung b́nh khoảng 170.000 người, chỉ có một bệnh viện duy nhất là St Anna, bệnh viện này là trung tâm học tập duy nhất  của trường đại học y của khu vực . Bệnh viện St Anna cũng phục vụ cho toàn bộ tỉnh Ferrara như là một trung tâm điều trị cho hầu hết các bệnh nhân đột quị cấp. Khám bệnh tại nhà được thực hiện bởi các thầy thuốc gia đ́nh vào ban ngày và do các bác sĩ khoa cấp cứu vào ban đêm và ngày nghỉ và không phải trả tiền. Trong khoa cấp cứu, vai tṛ chính là các bác sỹ nội và ngoại thần kinh có mặt 24 giờ trong ngày suốt năm. Từ ngày 1 tháng 1 năm 1994 đến ngày 31 tháng 12 năm 1997, một lô liên tục 1656 bệnh nhân bị đột quị thiếu máu đă được ghi nhận. Vùng nghiên cứu và phương pháp chọn lọc bệnh nhân được mô tả trước đây.

            Chẩn đoán đột quị do các bác sỹ nội thần kinh làm và được xác định rơ, dựa theo tiêu chuẩn của tổ chức y tế thế giới (WHO), các triệu chứng lâm sàng tiến triển nhanh, dấu hiệu mất chức năng năo toàn thể hoặc khu trú vói các triệu chứng tồn tại trên 24 giờ hoặc dẫn đến chết mà không có  nguyên nhân nào khác hơn là căn nguyên mạch máu. Trong tất cả các bệnh nhân, các xét nghiệm bao gồm: chụp CT và MRI năo, các xét nghiệm máu, điện tim 12 đạo tŕnh, XQ ngực, siêu âm mạch cảnh, siêu âm xuyên sọ, chụp động mạch năo, siêu âm tim (qua ngực hoặc qua thực quản) và đánh giá t́nh trạng đông máu. Cacù xét nghiệm thêm khác được tiến hành đối với các bệnh nhân chọn lọc.

            Thời gian khởi phát đột quị được xác định là thời gian mà bệnh nhân hoặc người làm chứng đă ghi nhận xác định các triệu chứng và dấu hiệu về thần kinh. Điều này được khai thác từ bệnh nhân, người thân của họ hoặc những người xung quanh.

            Xác định chính xác thời gian khởi phát triệu chứng trong 1395 bệnh nhân. Trong 187 bệnh nhân mặc dầu thời gian khởi phát đột quị không xác định chính xác bởi v́ đột quị xảy ra vào lúc họ đang ngủ hoặc họ đă bất tỉnh, mất định hướng hoặc mất ngôn ngữ và không có người làm chứng để có những thông tin đáng tin cậy- khởi phát đột quị có thể được ấn định theo 4 thời kỳ: từ 12:01 tới 6 AM, 6:01 tới trưa, Từ 12:01 tới 6 PM, hoặc từ 6:01 tới nửa đêm, 74 bệnh nhân c̣n lại không xác định rơ thời gian khởi phát.

            Với mỗi bệnh nhân, chúng tôi ghi nhận các dữ kiện về nhân khẩu học; tiền sử bệnh mạch máu của gia đ́nh về tăng huyết áp và bệnh tiểu đường, tiền sử các bệnh nội khoa với mối liên quan đặc biệt với bệnh tăng huyết áp, bệnh động mạch vành, rung nhĩ , bệnh van tim và các bệnh tim khác, các cơn thiếu máu năo thoáng qua mới đây, hẹp động mạch cảnh không triệu chứng, tiếng thổi, tiểu đường, tăng lipide máu, bệnh động mạch ngoại biên, hút thuốc lá, uống rượu, những triệu chứng và dấu hiệu lúc khởi phát và tiến triển của đột quị.

            Tất cả các bệnh nhân đều được khám xét về thần kinh và khám tổng quát. Lúc nhập viện các bệnh nhân được đánh giá định lượng dùng thang điểm Canadian Neurological Scale và xác định t́nh trạng tàn tật theo Rankin scale. Các bệnh nhân nhồi máu năo được phân loại theo 4 phân nhóm có thể xác định theo lâm sàng: nhồi máu toàn bộ tuần hoàn trước, nhồi máu cục bộ tuần hoàn phía trước, nhồi máu tuần hoàn phía sau và nhồi máu lỗ khuyết. Hơn nữa, nguyên nhân của đột quị thiếu máu năo đă được phân loại dựa theo tiêu chuẩn của Trial of Org 10172 in Acute Stroke Treatment như là bệnh động mạch lớn, bệnh động mạch nhỏ, nghẽn mạch do tim, các nguyên nhân ít thông thường khác đă xác định và các nguyên nhân không xác định khác, bao gồm các bệnh nhân với nhiều các nguyên nhân tiềm tàng.

            Chẩn đoán dựa trên h́nh ảnh lâm sàng và kết quả h́nh ảnh học và các xét nghiệm khác theo các phương pháp của các nhà điều tra Trial of Org10172 in Acute Stroke Treatment.

PHÂN TÍCH THỐNG KÊ.

            Đối với các bệnh nhân đă được xác định thời gian chính xác, giờ của mỗi biến cố được xếp thành bảng theo thời gian phù hợp nhằm vào 24 giờ và tần xuất của các biến cố được tính toán cho mỗi giờ trong ngày. Với phần mềm thương mại sẵn có, phân tích nhịp theo ngày được thực hiện sử dụng phương pháp cosinor và chuỗi Fourier từng phần với số lượng tối đa 4 hàm  điều ḥa (các thời kỳ 24, 12, 8 và 6 giờ), trong đó phương pháp b́nh phương tối thiểu được dùng và hàm số cosine làm cho phù hợp với dữ liệu qua phương pháp hồi qui. Trong số tất cả các kết hợp có thể của các thời kỳ đă chọn, chương tŕnh cho phép lựa chọn hàm điều ḥa hoặc kết hợp các hàm điều ḥa để cắt nghĩa tốt nhất sự biến thiên của dữ liệu. Tỷ lệ nhịp (tỷ lệ của toàn bộ khả năng biến thiên của dữ liệu về trung b́nh cộng có thể qui cho hàm số nhịp đă làm phù hợp) và giá trị xác suất được tính theo số thống kê F (sử dụng test giả thiết zero biên độ) được thông báo trong kết quả như là những yếu tố chắt lọc tiêu biểu của việc làm cho phù hợp hàm số đường cong gần đúng và y ùnghĩa về mặt thống kê của hàm số nhịp. Đường cong phù hợp tốt nhất chỉ ra thời kỳ có tỷ lệ khởi phát cao nhất. Song song với đỉnh thời gian của mỗi hàm điều biến đơn độc, chương tŕnh cũng tính toán thời gian đỉnh và đáy (thời gian xuất hiện tuyệt đối cực đại và cực tiểu) của toàn bộ đường cong phù hợp tốt nhất.

            Hơn nữa, test tinh chỉnh (goodness-of-fit) c2 với giả thiết không phân bố đồng đều đột quị đă được áp dụng cho 1582 bệnh nhân mà thời gian khởi phát của họ có thể bao gồm hợp lư một trong 4 thời kỳ mỗi 6 giờ, sử dụng phần mềm có sẵn (Epi-Info, version 6, centers for Disease Control and prevention, Atlanta, Ga, Version 6.04b; WHO, Geneva, Swizeland). Các khác biệt đă được cân nhắc có ư nghĩa với P<0,05.

KẾT QUẢ.

Giờ giấc chính xác của đột quị thiếu máu đă được xem xét ở 1395 bệnh nhân (tuổi trung b́nh (SD 74,6(12 tuổi). 44 % đột quị xuất hiện vào buổi sáng giữa 6:01 AM và buổi trưa và giả thiết về sự phân bố đồng đều của thời gian khởi phát đă bị loại bỏ dựa trên cơ sở test c2 cho tất cả các phân nhóm c23 =311,77. P<0,001). Người ta đă gợi ư rằng đột quị  tăng hơn về buổi sáng được cắt nghĩa bởi việcloại trừ những bệnh nhân bị đột quị xuất hiện vào ban đêm, khi mà thời gian khởi phát không được xác định rơ. Cho rằng đột quị có thể xuất hiện vào bất kỳ thời gian nào trong lúc ngủ, chúng tôi cho những bệnh nhân này vào khoảng 6 giờ giữa thời gian bệnh nhân được biết lần cuối cùng là không triệu chứng và thời gian mà tại lúc đó bệnh nhân hoặc người nhà của họ phát hiện đột quị đầu tiên. Giả thuyết không của việc phân bố đồng đều vẫn bị loại trừ khi 1582 bệnh nhân với thời gian khởi phát của họ được phân loại theo các thời kỳ 6 giờ đă được phân tích c23 =255. P<0,001). Thêm vào đo ùngười ta đă xem xét các trường hợp không mong muốn, trong đó 74 bệnh nhân mà thời gian bị đột quị đă không được xác định đă bị qui tùy tiện vào các thời kỳ đột quị được quan sát ít nhất. Vẫn có sự thay đổi nhịp theo ngày có ư nghĩa trong nguy cơ đột quị (toàn bộ 1656 bệnh nhân, c23 =207, P<0,001).

            Các kết quả phân tích cosinor, chỉ bao gồm những bệnh nhânbị đột quị được xác định thời gian chính xác, được tóm tắt trong bảng 1, trong đó các hàm điều biến có ư nghĩa (24 và 12 giờ) và toàn bộ đường cong điều chỉnh phù hợp tốt nhất được thông báo. Các kết quả test sinusoidal đă cho thấy kiểu nhịp theo ngày có ư nghĩa thống kê, với đỉnh lớn vào 8:28 AM. Phân tích phổ cũng khám phá  một chu tŕnh  12 giờ tại 8:13 AM và 8:13 PM.

Bảng 1: Nhịp khởi phát đột quị theo ngày theo các yếu tố thay đổi về nhân khẩu học và các yếu tố nguy cơ:      

Thời kỳ, giờ

Nhịp, %

Giá trị P

Đỉnh (khoảng tin cậy 95%)

 

24

12

Toàn bộ

 

37,0

28,9

85,6

Toàn bộ nhóm (n=1395)

<0,001

<0,001

<0,001

 

9:48 AM (8:26-11:08 AM)

8:13 AM & PM (7:30-8:56 AM & PM)

Đỉnh, 8:28 AM; Đáy, 11:28 PM

 

24

12

Toàn bộ

 

36,3

25,5

83,9

Đàn ông (n=754)

<0,001

<0,001

<0,001

 

9:26 AM (8:32-11:20 AM)

8:17 AMvàPM (7:30-9:06 AM và PM)

Đỉnh, 8:20 AM, đáy 11:32 PM

 

24

12

Toàn bộ

 

36,2

33,0

85,0

Đàn bà (n=641)

<0,001

<0,001

<0,001

 

9:36 AM (8:16-10:56 AM)

8:06 AM và PM (7:26-8:48 AM và PM)

Đỉnh, 8:24 AM, đáy 11:20 PM

 

24

12

Toàn bộ

 

14,1

29,9

52,9

Tuổi< 45 (n=60)

0,13

0,02

0,08

 

8:01 AM (NS)

8:26 AM và PM (7:30-9:56 AM và PM)

Đỉnh, 8:28 AM, đáy 11:28 PM

 

24

12

Toàn bộ

 

38,3

34,2

89,9

Tuổi 45-70 (n=682)

<0,001

<0,001

<0,001

 

9:4 6 AM (8:40-10:52 AM)

7:58 AM và PM (7:24-8:32 AM và PM)

Đỉnh, 8:2 AM, đáy 11:56 PM

 

24

12

Toàn bộ

 

29,2

23,7

76,6

Tuổi >70 (n=653)

0,002

0,004

< 0,001

 

9:21 AM (7:32-11:12 AM)

8:18 AM và PM (7:18-9:18 AM và PM)

Đỉnh, 8:20 AM, đáy 11:00 PM

 

24

12

Toàn bộ

 

10,5

18,3

56,7

Tuổi >85 (n=63)

0,18

0,6

0,048

 

9:11 AM (NS)

8:59 AM và PM (NS)

Đỉnh, 8:32 AM, đáy 4:40 PM

 

24

12

Toàn bộ

 

32,5

36,5

85,2

Không tăng HA (n=583)

<0,001

<0,001

<0,001

 

10:01 AM (8:36-11:28 AM)

8:22 AM và PM (7:42-9:02 AM và PM)

Đỉnh, 8:36 AM, đáy 11:40 PM

 

24

12

Toàn bộ

 

36,2

23,2

82,4

Có tăng HA (N=812)

<0,001

0,002

<0,001

 

9:42 AM (8:12-11:08 AM)

8:03 AM và PM (7:08-8:58 AM và PM)

Đỉnh, 8:24 AM, đáy 11:24 PM

 

24

12

Toàn bộ

 

35,0

29,1

78,4

Tiểu đường

<0,001

0,001

<0,001

 

9:34 AM (7:56-11:12 AM)

8:18 AM và PM (7:26-9:10 AM và PM)

Đỉnh, 8:16 AM, đáy 11:16M

 

24

12

Toàn bộ

 

28,5

28,4

66,3

TĐ không tăng HA (n=111)

0,01

0,01

 

9:42 AM (7:24-12:00 AM)

9:00 AM và PM (7:52-10:10 AM và PM)

Đỉnh, 8:32 AM, đáy 4:04 PM

 

24

12

Toàn bộ

 

34,1

28,3

77,8

TĐ có tăng HA (n=181)

<0,001

0,002

<0,001

 

9:49 AM (8:04-11:36 AM)

8:36 AM và PM (7:40-9:32 AM và PM)

Đỉnh, 8:28 AM, đáy 11:20 PM

 

24

12

Toàn bộ

 

53,3

16,1

78,1

RL lipide máu (n=336)

<0,001

0,02

<0,001

 

9:02 AM (7:44-10:20 AM)

7:06 AM và PM (6:48-9:12 AM và PM)

Đỉnh, 8:24 AM, đáy 11:20 PM

 

24

12

Toàn bộ

 

31,4

25,4

83,1

Không hút thuốc  (n=907)

0,001

<0,001

<0,001

 

9:48 AM (8:29-11:04 AM)

8:09 AM và PM (7:20-8:58 AM và PM)

Đỉnh, 8:20 AM, đáy 11:06 PM

 

24

12

Toàn bộ

 

34,0

38,3

86,0

Hút thuốc (n=488)

<0,001

<000

<0,001

 

9:18 AM (8:00-10:36 AM)

8:09 AM và PM (7:32-8:46 AM và PM)

Đỉnh, 8:24AM, đáy 11:56 PM

 

24

12

Toàn bộ

 

41,1

32,4

90,4

ĐQ lần đầu (n=978)

<0,001

<,001

<0,001

 

9:49 AM (8:48-10:48 AM)

8:13 AM và PM (7:40-8:46 AM và PM)

Đỉnh, 8:28 AM, đáy 11:28 PM

 

24

12

Toàn bộ

 

20,4

23,6

69,5

Đă từng bị ĐQ (n=417)

0,02

0,011

0,005

 

8:58 AM (6:28-11:28 AM)

8:00 AM và PM (6:50-9:08 AM và PM)

Đỉnh, 8:12 AM, đáy 11:20 PM

 

24

12

Toàn bộ

19,6

25,0

69,1

ĐT ƯC KT TC (n=482)

0,02

0,01

0,008

 

8:59 AM (6:20-11:36 AM)

8:01 AM và PM (6:50-9:10 AM và PM)

Đỉnh, 8:08 AM, đáy 11:20 PM

 

24

12

Toàn bộ

 

18,9

39,9

74,6

ĐT chống đông (n=137)

0,02

<0,001

0,02

 

6:39 AM (4:12-9:04 AM)

7:25 AM và PM (6:34-8:16 AM và PM)

Đỉnh, 7:24 AM, đáy 11:48 PM

*NS: không có ư nghĩa thống kê.

Bức tranh chứng minh toàn bộ đường cong điều chỉnh phù hợp tốt nhất từ 2 thành phần có ư nghĩa của các thời kỳ 24 giờ và 12 giờ, với việc xuất hiện cực đại vào 8:28 AM, và đỉnh thứ hai nhỏ hơn vào 8:13 PM và xuất hiện cực tiểu vào 11:28 PM.

            Các dữ liệu giống nhau với cả hai giới đối với những bệnh nhân tuổi từ 45-70. Những bệnh nhân trẻ hơn (<45) và già hơn (>70) không thấy bất kỳ nhịp thời khoảng theo ngày có ư nghĩa nào.

            Tăng huyết áp, tiểu đường, tăng lipide máu, thói quen hút thuốc lá, các biến cố mạch máu mới đây hoặc dùng thuốc chống đông đă không làm biến đổi kiểu nhịp thời khoảng theo ngày của khởi phát đột quị thiếu máu. Thay đổi thời khoảng theo ngày của khởi phát phụ thuộc vào đặc điểm lâm sàng của đột quị thiếu máu (bảng 2).

Bảng 2: Nhịp khởi phát đột quị theo ngày theo các biến cố lâm sàng.

Thời kỳ, giờ

Nhịp, %

Giá trị P

Đỉnh (khoảng tin cậy 95%)

 

24

12

Toàn bộ

 

34,1

25,7

70,8

HK do vữa xơ (n=471)

<0,001

<0,01

<0,001

 

8:16 AM (86:44-10:48 AM)

8:23 AM & PM (7:12-9:32 AM & PM)

Đỉnh, 8:04 AM; Đáy, 10:44 PM

 

24

12

Toàn bộ

 

21,6

19,9

74,9

NM do tim (n=303)

<0,01

<0,01

<0,002

 

10:13 AM (7:56-12:28 AM)

8:10 AMvàPM (7:00-9:20 AM và PM)

Đỉnh, 8:00 AM, đáy 11:04 PM

 

24