|
|
H̀NH
ẢNH LÂM SÀNG, NHÂN KHẨU HỌC VÀ SỰ THAY ĐỔI
THỜI GIAN KHỞI PHÁT ĐỘT QUỊ THIẾU MÁU NĂO
THEO NGÀY.
Ilaria
Casetta, MD; Enrico Granieri, MD; Elisa Fallica, MD; Olga la Cecilia, MD; Ezio
Paolino; Roberto Manfredini, MD. Patient demographic and clinical features and
circadian variation in onset of ischemic stroke. Arch Neurol/Vol 59, Jan 2002; P
48-53. Người
dịch: BS Bạch Thanh Thủy (Xin
tham khảo thêm nghiên cứu tại Việt Nam về đề
tài này - BS Vơ Đôn BV ND 115) Mở
đầu: Các nghiên cứu đă thông báo sự thay
đổi về thời gian khởi phát đột
quị thiếu máu năo theo ngày, điều này có thể
chứa đựng những mối liên hệ sinh lư
bệnh quan trọng. Tuy nhiên, không có thông tin chi tiết
về thay đổi thời gian xuất hiện đột
quị theo ngày trong các phân nhóm đột quị. Mục
đích: xác định có hay không các phân nhóm bệnh
nhân đột quị thiếu máu năo với các đặc
điểm lâm sàng đặc biệt có thể biểu
lộ các kiểu khởi phát theo thời gian trong ngày khác
nhau, kiểm tra một cách hệ thống vai tṛ có thể
của các yếu tố nhậy cảm hoặc thúc đẩy. Thiết
kế và môi trường: phân tích vai tṛ của các
yếu tố sinh lư bệnh, nội khoa, nhân khẩu
học đối với kiểu thời gian khởi phát
theo ngày của một loạt bệnh nhân bị đột
quị thiếu máu máu năo không chọn lọc nhập
viện liên tiếp vào bệnh viện của chúng tôi. Kết
quả: nghiên cứu bao gồm 1656 bệnh nhân. Như các
kết quả nghiên cứu khác, đỉnh cao khởi phát
đột quị đă xuất hiện vào buổi sáng,
đỉnh thứ hai xuất hiện vào buổi chiều.
Thay đổi thời gian khởi phát đột quị
thiếu máu đă tỏ ra phụ thuộc vào các yếu
tố đă xem xét. Kết
luận: Nghiên cứu của chúng tôi xác định
nhịp theo ngày của đột quị trong các nghiên
cứu mới đây đă được thông báo. Có
kiểu đột quị thiếu máu theo tŕnh
tự thời gian vào buổi sáng, điều này
xuất hiện phụ thuộc vào sự có mặt
của các yếu tố nguy cơ và các phân nhóm đột
quị theo lâm sàng. Vai tṛ của thời khoảng biến
thiên áp lực máu (tồn tại ở những bệnh nhân
có hoặc không có tăng huyết áp) và trùng hợp
với tăng đông vào buổi sáng được
gợi ư như là yếu tố quyết định có
thể của dạng này. Những can thiệp về dược
lư nhằm pḥng ngừa đă nhằm vào tiêu đích
đặc biệt việc tăng các yếu tố nguy cơ
vào buổi sáng có thể có lợi trong việc làm
giảm toàn bộ nguy cơ đột quị thiếu máu.
Các số liệu đă chỉ ra rằng khởi phát
của nhiều bệnh mạch máu lớn không phân bố
ngẫu nhiên theo thời gian. Sự tồn tại kiểu
khởi phát bệnh mạch máu năo theo thứ tự
thời gian đặc biệt được
xác định bởi
nhịp thời khoảng theo ngày, theo tuần, theo năm
đă được khám phá. Tần xuất cao hơn có
ư nghĩa vào buổi sáng đă được thông báo và
được xác định bởi một phân tích
lớn mới đây. Mặc dù kiểu rơ ràng của
khởi phát đột quị thiếu máu đă được
chứng minh, một vài nghiên cứu đă nhằm vào
khả năng là các kiểu khởi phát theo thứ tự
thời gian khác nhau có thể thấy trong các phân nhóm khác
nhau của các bệnh nhân bị đột quị
thiếu máu. Mục đích của nghiên cứu này là
điều tra xem có hay không có sự thay đổi
khởi phát đột quị thiếu máu trong ngày như
vậy, có thể mô tả các phân nhóm bệnh nhân
với các đặc điểm về bệnh học
hoặc nhân khẩu học khác nhau trong một số
lớn bệnh nhân đột quị thiếu máu. BỆNH
NHÂN VÀ PHƯƠNG PHÁP
CHỌN
LỰA BỆNH NHÂN VÀ VÙNG NGHIÊN CỨU:
Ferrara
là một thành phố miền đông bắc nước
ư với số dân trung b́nh khoảng 170.000 người,
chỉ có một bệnh viện duy nhất là St Anna,
bệnh viện này là trung tâm học tập duy nhất
của trường đại học y của khu
vực . Bệnh viện St Anna cũng phục vụ cho toàn
bộ tỉnh Ferrara như là một trung tâm điều
trị cho hầu hết các bệnh nhân đột quị
cấp. Khám bệnh tại nhà được thực
hiện bởi các thầy thuốc gia đ́nh vào ban ngày và
do các bác sĩ khoa cấp cứu vào ban đêm và ngày
nghỉ và không phải trả tiền. Trong khoa cấp
cứu, vai tṛ chính là các bác sỹ nội và ngoại
thần kinh có mặt 24 giờ trong ngày suốt năm.
Từ ngày 1 tháng 1 năm 1994 đến ngày 31 tháng 12 năm
1997, một lô liên tục 1656 bệnh nhân bị đột
quị thiếu máu đă được ghi nhận. Vùng
nghiên cứu và phương pháp chọn lọc bệnh nhân
được mô tả trước đây.
Chẩn
đoán đột quị do các bác sỹ nội thần
kinh làm và được xác định rơ, dựa theo tiêu
chuẩn của tổ chức y tế thế giới (WHO),
các triệu chứng lâm sàng tiến triển nhanh, dấu
hiệu mất chức năng năo toàn thể hoặc khu trú
vói các triệu chứng tồn tại trên 24 giờ
hoặc dẫn đến chết mà không có
nguyên nhân nào khác hơn là căn nguyên mạch máu.
Trong tất cả các bệnh nhân, các xét nghiệm bao
gồm: chụp CT và MRI năo, các xét nghiệm máu, điện
tim 12 đạo tŕnh, XQ ngực, siêu âm mạch cảnh, siêu
âm xuyên sọ, chụp động mạch năo, siêu âm tim
(qua ngực hoặc qua thực quản) và đánh giá t́nh
trạng đông máu. Cacù xét nghiệm thêm khác được
tiến hành đối với các bệnh nhân chọn
lọc.
Thời
gian khởi phát đột quị được xác định
là thời gian mà bệnh nhân hoặc người làm
chứng đă ghi nhận xác định các triệu
chứng và dấu hiệu về thần kinh. Điều này
được khai thác từ bệnh nhân, người thân
của họ hoặc những người xung quanh.
Xác
định chính xác thời gian khởi phát triệu
chứng trong 1395 bệnh nhân. Trong 187 bệnh nhân mặc
dầu thời gian khởi phát đột quị không xác
định chính xác bởi v́ đột quị xảy ra
vào lúc họ đang ngủ hoặc họ đă bất
tỉnh, mất định hướng hoặc mất ngôn
ngữ và không có người làm chứng để có
những thông tin đáng tin cậy- khởi phát đột
quị có thể được ấn định theo 4
thời kỳ: từ 12:01 tới 6 AM, 6:01 tới trưa,
Từ 12:01 tới 6 PM, hoặc từ 6:01 tới nửa
đêm, 74 bệnh nhân c̣n lại không xác định rơ
thời gian khởi phát.
Với
mỗi bệnh nhân, chúng tôi ghi nhận các dữ kiện
về nhân khẩu học; tiền sử bệnh mạch máu
của gia đ́nh về tăng huyết áp và bệnh
tiểu đường, tiền sử các bệnh nội
khoa với mối liên quan đặc biệt với
bệnh tăng huyết áp, bệnh động mạch vành,
rung nhĩ , bệnh van tim và các bệnh tim khác, các cơn
thiếu máu năo thoáng qua mới đây, hẹp động
mạch cảnh không triệu chứng, tiếng thổi,
tiểu đường, tăng lipide máu, bệnh động
mạch ngoại biên, hút thuốc lá, uống rượu,
những triệu chứng và dấu hiệu lúc khởi phát
và tiến triển của đột quị.
Tất
cả các bệnh nhân đều được khám xét
về thần kinh và khám tổng quát. Lúc nhập viện
các bệnh nhân được đánh giá định lượng
dùng thang điểm Canadian Neurological Scale và xác định
t́nh trạng tàn tật theo Rankin scale. Các bệnh nhân
nhồi máu năo được phân loại theo 4 phân nhóm có
thể xác định theo lâm sàng: nhồi máu toàn bộ
tuần hoàn trước, nhồi máu cục bộ tuần
hoàn phía trước, nhồi máu tuần hoàn phía sau và
nhồi máu lỗ khuyết. Hơn nữa, nguyên nhân
của đột quị thiếu máu năo đă được
phân loại dựa theo tiêu chuẩn của Trial of Org 10172
in Acute Stroke Treatment như là bệnh động mạch
lớn, bệnh động mạch nhỏ, nghẽn
mạch do tim, các nguyên nhân ít thông thường khác đă
xác định và các nguyên nhân không xác định khác,
bao gồm các bệnh nhân với nhiều các nguyên nhân
tiềm tàng.
Chẩn
đoán dựa trên h́nh ảnh lâm sàng và kết quả h́nh
ảnh học và các xét nghiệm khác theo các phương
pháp của các nhà điều tra Trial of Org10172 in Acute Stroke
Treatment. PHÂN
TÍCH THỐNG KÊ.
Đối
với các bệnh nhân đă được xác định
thời gian chính xác, giờ của mỗi biến cố
được xếp thành bảng theo thời gian phù
hợp nhằm vào 24 giờ và tần xuất của các
biến cố được tính toán cho mỗi giờ
trong ngày. Với phần mềm thương mại sẵn
có, phân tích nhịp theo ngày được thực
hiện sử dụng phương pháp cosinor và chuỗi
Fourier từng phần với số lượng tối
đa 4 hàm điều ḥa
(các thời kỳ 24, 12, 8 và 6 giờ), trong đó phương
pháp b́nh phương tối thiểu được dùng và
hàm số cosine làm cho phù hợp với dữ liệu qua
phương pháp hồi qui. Trong số tất cả các
kết hợp có thể của các thời kỳ đă
chọn, chương tŕnh cho phép lựa chọn hàm điều
ḥa hoặc kết hợp các hàm điều ḥa để
cắt nghĩa tốt nhất sự biến thiên của
dữ liệu. Tỷ lệ nhịp (tỷ lệ của
toàn bộ khả năng biến thiên của dữ
liệu về trung b́nh cộng có thể qui cho hàm số
nhịp đă làm phù hợp) và giá trị xác suất
được tính theo số thống kê F (sử dụng
test giả thiết zero biên độ) được thông
báo trong kết quả như là những yếu tố
chắt lọc tiêu biểu của việc làm cho phù
hợp hàm số đường cong gần đúng và y ùnghĩa
về mặt thống kê của hàm số nhịp.
Đường cong phù hợp tốt nhất chỉ ra
thời kỳ có tỷ lệ khởi phát cao nhất. Song
song với đỉnh thời gian của mỗi hàm điều
biến đơn độc, chương tŕnh cũng tính
toán thời gian đỉnh và đáy (thời gian xuất
hiện tuyệt đối cực đại và cực
tiểu) của toàn bộ đường cong phù hợp
tốt nhất.
Hơn
nữa, test tinh chỉnh (goodness-of-fit) c2
với giả thiết không phân bố đồng đều
đột quị đă được áp dụng cho 1582
bệnh nhân mà thời gian khởi phát của họ có
thể bao gồm hợp lư một trong 4 thời kỳ
mỗi 6 giờ, sử dụng phần mềm có sẵn
(Epi-Info, version 6, centers for Disease Control and prevention, Atlanta, Ga,
Version 6.04b; WHO, Geneva, Swizeland). Các khác biệt đă
được cân nhắc có ư nghĩa với P<0,05. KẾT
QUẢ.
Giờ
giấc chính xác của đột quị thiếu máu
đă được xem xét ở 1395 bệnh nhân (tuổi
trung b́nh (SD 74,6(12 tuổi). 44 % đột quị xuất
hiện vào buổi sáng giữa 6:01 AM và buổi trưa và
giả thiết về sự phân bố đồng đều
của thời gian khởi phát đă bị loại bỏ
dựa trên cơ sở test c2
cho tất cả các phân nhóm c23
=311,77. P<0,001). Người ta đă gợi ư rằng
đột quị tăng
hơn về buổi sáng được cắt nghĩa
bởi việcloại trừ những bệnh nhân bị
đột quị xuất hiện vào ban đêm, khi mà
thời gian khởi phát không được xác định
rơ. Cho rằng đột quị có thể xuất hiện
vào bất kỳ thời gian nào trong lúc ngủ, chúng tôi
cho những bệnh nhân này vào khoảng 6 giờ giữa
thời gian bệnh nhân được biết lần
cuối cùng là không triệu chứng và thời gian mà
tại lúc đó bệnh nhân hoặc người nhà
của họ phát hiện đột quị đầu tiên.
Giả thuyết không của việc phân bố đồng
đều vẫn bị loại trừ khi 1582 bệnh nhân
với thời gian khởi phát của họ được
phân loại theo các thời kỳ 6 giờ đă được
phân tích c23
=255. P<0,001). Thêm vào đo ùngười ta đă xem xét các
trường hợp không mong muốn, trong đó 74 bệnh
nhân mà thời gian bị đột quị đă không
được xác định đă bị qui tùy tiện
vào các thời kỳ đột quị được quan
sát ít nhất. Vẫn có sự thay đổi nhịp theo
ngày có ư nghĩa trong nguy cơ đột quị (toàn
bộ 1656 bệnh nhân, c23
=207,
P<0,001).
Các
kết quả phân tích cosinor, chỉ bao gồm những
bệnh nhânbị đột quị được xác
định thời gian chính xác, được tóm tắt
trong bảng 1, trong đó các hàm điều biến có ư
nghĩa (24 và 12 giờ) và toàn bộ đường cong
điều chỉnh phù hợp tốt nhất được
thông báo. Các kết quả test sinusoidal đă cho thấy
kiểu nhịp theo ngày có ư nghĩa thống kê, với
đỉnh lớn vào 8:28 AM. Phân tích phổ cũng khám phá
một chu tŕnh 12 giờ tại 8:13 AM và 8:13 PM. Bảng
1: Nhịp khởi phát đột quị theo ngày theo các
yếu tố thay đổi về nhân khẩu học và các
yếu tố nguy cơ:
*NS:
không có ư nghĩa thống kê. Bức
tranh chứng minh toàn bộ đường cong điều
chỉnh phù hợp tốt nhất từ 2 thành phần có
ư nghĩa của các thời kỳ 24 giờ và 12 giờ,
với việc xuất hiện cực đại vào 8:28
AM, và đỉnh thứ hai nhỏ hơn vào 8:13 PM và
xuất hiện cực tiểu vào 11:28 PM.
Các
dữ liệu giống nhau với cả hai giới đối
với những bệnh nhân tuổi từ 45-70. Những
bệnh nhân trẻ hơn (<45) và già hơn (>70) không
thấy bất kỳ nhịp thời khoảng theo ngày có
ư nghĩa nào.
Tăng
huyết áp, tiểu đường, tăng lipide máu, thói
quen hút thuốc lá, các biến cố mạch máu mới
đây hoặc dùng thuốc chống đông đă không làm
biến đổi kiểu nhịp thời khoảng theo ngày
của khởi phát đột quị thiếu máu. Thay
đổi thời khoảng theo ngày của khởi phát
phụ thuộc vào đặc điểm lâm sàng của
đột quị thiếu máu (bảng 2). Bảng
2: Nhịp khởi phát đột quị theo ngày theo các
biến cố lâm sàng.
Việc
tăng vào buổi sáng và đỉnh nhỏ thứ hai vào
buổi chiều đă được phát hiện ở
những bệnh nhân bị đột quị do huyết
khối vữa xơ, đột quị do tắc mạch
từ tim, đột quị dạng lỗ khuyết và
đột quị do các cơ chế khác hoặc chưa
được biết. Kiểu tương tự
được phát hiện ở
những phân nhóm lâm sáng có thể xác định của
đột quị thiếu máu loại trừ đối
với phân nhóm nhồi máu tuần hoàn trước
cục bộ (bảng 2).
Sau
khi xếp những bệnh nhân không xác định rơ
thời gian một cách ngẫu nhiên vào các khoảng
thời gian mà đột quị ít xảy ra nhất, phân
tích các phân nhóm theo nhân khẩu học và lâm sàng dùng test
tinh chỉnh c23
áp dụng cho 1656 bệnh nhân đă mang lại những
kết quả tương tự (toàn bộ, P<0,001,
loại trừ nhóm được điều trị
bằng chất chống đông): tuổi 45-70, c23
=153; lớn hơn 70 tuổi, , c23
=142,5; nhóm huyết áp b́nh
thường, , c23
=116,5; nhóm tiểu đường, c23
= 88,3; nhóm rối loạn lipide máu, c23
=68,5; nhóm không hút thuốc lá, c23
=170,34; nhóm hút thuôc lá, c23
=147,6; nhóm đột quị mới đây, c23
=74,5; nhóm đột quị lần đầu tiên, c23
=169; nhóm điều trị cùng với thuốc chống
kết tập tiểu cầu, c23
=74, nhóm điều trị bằng thuốc chống đông,
c23
=8,4, P<0,005; nhóm đột quị do huyết khối
vữa xơ, c23
=45,71; nhóm đột quị do nghẽn mạch từ tim, c23
=27,79; bệnh mạch máu nhỏ, c23
=80; nhóm đột quị do các nguyên nhân đă xác định
khác c23
=61,5; do các nguyên nhân không xác định, c23
=69,6; nhồi máu tuần hoàn trước toàn bộ, c23=26;
nhồi máu tuần hoàn sau, c23
=27,8; và nhồi máu lỗ khuyết, c23
=63,5. Các
bệnh nhân thuộc phân nhóm nhồi máu tuần hoàn trước
cục bộ đă cho thấy tăng đột quị có
ư nghĩa trong khoảng từ 6:01 AM tới trưa (c23=9,1;
P<0,05). Giả thuyết không về phân bố đồng
đều theo 4 khoảng thời gian đă không bị
loại bỏ đối với những bệnh nhân
trẻ hơn 45 tuối hoặc lớn hơn 85 tuổi.
Cuối
cùng, việc đánh giá thêm đă xem xét các bệnh nhân
bị đột quị khởi phát trong lúc ngủ,
được phân nhóm theo nguyên nhân đột quị.
Đột quị dạng lỗ khuyết thường
xuất trong lúc ngủ (25% tất cả các dạng đột
quị lỗ khuyết) hơn là các dạng đột
quị khác (tinh chỉnh c24
=36; P<0,001). BÀN
LUẬN.
Nghiên
cứu này nghiên cứu một số lượng lớn
bệnh nhân đột quị không chọn lọc đă xác
định những điều
t́m kiếm của các nghiên cứu khác
rằng khởi phát triệu chứng thường
xuất hiện vào buổi sáng
trong suốt vài giờ đầu tiên của hoạt
động ban ngày với đỉnh thứ hai vào
buổi chiều và tần xuất xuất hiện cực
tiểu vào ban đêm. Các dữ liệu này kết hợp
với các dữ liệu của
các phân tích đă được công bố mới đây
củng cố luận điểm là khởi phát đột
quị dao động theo nhịp thời gian trong ngày (c23
tinh chỉnh qua
tất cả các thông báo, bao gồm một thông báo
hiện tại c23=1405,75,
P<0,001)
Kiểu
dao động theo ngày này tương tự như đối
với nhồi máu cơ tim cấp và thiếu máu cơ
tim, chết đột ngột do tim và các biến cố
mạch máu khác. Một số cơ chế sinh lư bệnh
cơ bản có thể là thông thường.
Dường
như, bởi v́ thời gian khác nhau trong ngày có thể
phản ánh các cơ
chế sinh lư bệnh khác nhau của đột quị, các
phân tích phân nhóm th́ quan trọng để đánh giá các
kiểu dao động. Trong việc thăm ḍ sự thay
đổi dao động theo ngày trong các phân nhóm bệnh
nhân khác nhau, chúng tôi đă xác định rằng
mỗi phân nhóm bệnh nhân bị đột quị
thiếu máu đă xếp theo nhóm dựa theo các yếu
tố nguy cơ, các biến số về lâm sàng và nguyên
nhân thường được cho là của đột
quị, đă được xác định đỉnh
khởi phát đột quị vào buổi sáng và buổi
chiều. Chỉ có yếu tố nguy cơ thông thuờng có
ư nghĩa đối với các biến cố này là tăng
huyết áp. Dường như, trong nghiên cứu hiện
tại, các bệnh nhân có và không có tăng huyết áp
đă có kiểu khởi phát đột quị theo thứ
tự thời gian giống nhau. Điều này gợi ư
rằng áp lực máu với khả năng biến động
trong ngày của nó và không phải tăng huyết áp hoàn
toàn, đóng vai tṛ quan trọng
trong kiểu khởi phát đột quị dao động
theo ngày.
Khởi
phát đột quị tăng vào buổi sáng không hoàn toàn
đúng đối với những bệnh nhân nhỏ hơn
45 tuổi và lớn hơn 85 tuổi. Người ta có
thể suy xét xem sự khác biệt hoặc là do tuổi
hoặc do các vấn đề khác giữa các bệnh nhân.
Mặc dầu chúng tôi không thể loại trừ khả
năng là một số khác biệt đă có thể không
được phát hiện bởi v́ cỡ mẫu
nhỏ. Chúng tôi có thể giả thuyết rằng có
thể có các cơ chế sinh lư bệnh khác biệt trong
đột quị giữa người trẻ và những
người già hơn.
Theo
hiểu biết của chúng tôi, đây là nghiên cứu
đầu tiên phân tích kiểu dao động trong ngày
của đột quị theo giới tính, dạng đột
quị, nguyên nhân đột quị, tuổi, việc
hiện hữu của các yếu tố nguy cơ và các
đặc điểm lâm sàng. Nhịp dao động trong ngày của đột quị dường
như phụ thuộc vào các yếu tố đă xem xét khác,
ngoại trừ khả năng tuổi trẻ hơn và già
hơn. Điều này phù hợp với các nghiên cứu
mới đây đối với nhồi máu cơ tim
cấp. Mặc dầu một khác biệt đă được
ghi nhận trên các kiểu Nhồi máu cơ tim vào ban ngày
đă được thông báo ban đầu đối
với phân nhóm gồm nhũng người hút thuốc lá
và những người dùng thuốc ức chế ( và
những bệnh nhân nhồi máu không có sóng Q, tiểu
đường, suy tim xung huyết mới đây và
nhồi máu cơ tim mới đây, kiểm tra kỹ hơn
thấy chỉ có khác biệt nhỏ trong triệu
chứng khởi phát và những phân tích đa biến
đă chỉ ra rằng chỉ có tuổi già hơn 70 và
bệnh sử có nhồi máu cơ tim mới đây đă
làm biến đổi nhịp dao động theo ngày
của việc khởi phát triệu chứng. Dường
như dùng thuốc chông đông như là aspirin có thể
làm biến đổi kiệu khởi phát theo thời gian
của nhồi máu cơ tim bằng việc làm giảm
đỉnh cao nhât về buổi sáng. Ngược lại
theo nghiên cứu của chúng tôi sử dụng thuốc
chống đông và thuốc ức chế kết tập
tiểu cầu đă không ảnh hưởng tới
việc xuất hiện vào buổi sáng của đột
quị thiếu máu.
Để
kết kuận, số liệu của chúng tôi xác định
sự tồn tại của nguy cơ đột quị
theo thời gian, mặc dầu các chi tiết quanh khởi
phát của đột quị chưa được
hiểu biết đầy đủ. Trong tất cả các
nhóm bệnh nhân của chúng tôi thay đổi theo ngày
với hai phương thức có ư nghĩa thống kê
đă tồn tại và đă chứng minh rằng nhịp
dao động theo ngày của bệng mạch máu năo
th́ phụ thuộc vào phân nhóm đột quị, h́nh
ảnh lâm sàng và nhân khẩu học của bệnh nhân và
việc có hoặc không có các yếu tố nguy cơ.
Điều
gợi ư rơ ràng với các điều t́m kiếm của
chúng tôi có thể là pḥng ngừa đột quị. Các
kết quả của chúng tôi xác định rằng
buổi sáng liên quan với nguy cơ khởi phát triệu
chứng đột quị cao bất kể dạng đột
quị nào. Khả năng biến thiên theo ngày của
huyết áp tương tự với kiểu hai pha theo
thời gian của đột quị, cả hai cùng với
t́nh trạng prothrombic xảy ra đồng thời vào
buổi sáng, có thể tạo thành hiệu quả hiệp
lực tiêu cực cuối cùng.
Khuynh
hướng điều trị theo thời gian đă
được gợi ư đối với bệnh tim
mạch. Người ta có thể suy xét rằng các
thuốc chống tăng huyết áp với đích la øtăng
huyết áp vào buổi sáng có thể có lợi trong
kiểm soát yếu tố nguy cơ đột quị. Nghiên
cứu lâu dài sẽ trả lời câu hỏi này. Từ khóa: nhịp sinh học , nhip sinh hoc , Đột quị , dot qui (Xin
tham khảo thêm nghiên cứu tại Việt Nam về đề
tài này - BS Vơ Đôn BV ND 115)
|
|
|