|
|
NGỘ
ĐỘC LEVODOPA TRONG BỆNH PARKINSON:
THỰC
TẾ HAY HUYỀN THOẠI
Thực
tế: một thói quen nên thay đổi.
Lisa M. Shulman: Levodopa toxicity in
parkinson disease: reality or myth ? Reality - practice patterns should change..
Arch Neorol/vol 57, Mar 2000, p:406-407. Người
dịch: Bs Nguyễn Minh Tuấn Có rất
nhiều bằng chứng cho thấy cần thay đổi
cách thức điều trị của chúng ta về
liệu tŕnh Levodopa trong bệnh Parkinson ( PD), mặc dù có
những nhầm lẫn đáng kể che mờ những cơ
sở lư luận của thay đổi này. Khái niệm
“ngộ độc Levodopa” khởi đầu được
bắt nguồn từ một số báo cáo của khoa
học cơ bản cho rằng Levodopa có nguy cơ làm tăng
nhanh tổn thương và chết tế bào thần kinh
ở chất đen. Tuy nhiên, theo thời gian, sự phân
biệt giữa số liệu nghiên cứu in vitro và đánh
giá lâm sàng không rơ ràng, và cả các bác sỹ và bệnh
nhân đều sai lầm về những vấn đề
đáng lưu tâm của việc điều trị PD
tiến triển ( ví dụ dao động vận động,
rối loạn vận động) với khái niệm
ngộ độc Levodopa. Sự cần thiết xác định
chính xác ngộ độc Levodopa nằm ở giữa bài
này. Khái nệm
ngộ độc là chỉ tác dụng có hại của
thuốc, trái với tác dụng phụ thường gây
phiền toái cho bệnh nhân mà không có hại. Aûnh hưởng
của độc tố có thể hồi phục
được hoặc là không. Phần lớn nguy cơ
ngộ độc thuốc liên quan tới việc sử
dụng thuốc trên lâm sàng của chúng ta. Tác dụng
phụ thường gặp của Levodopa gồm buồn nôn,
chóng mặt, và ngủ gà. Ngộ độc có thể do
thay đổi bệnh học, tác dụng trực tiếp
lên gene hoặc tác dụng dược lư ngoại ư
của thuốc. Trong khi các giả thuyết về vai tṛ
của Levodopa trong Stress oxy hóa hoặc apoptosis (những ví
dụ về bệnh học hoặc ngộ độc di
truyền) tiếp tục được tranh luận th́
bằng chứng ngộ độc Levodopa là dao động
vận động (vđ) và rối loạn vđ là
thuyết phục và có cơ sở. Dao động vđ và
rối loạn vđ đă không được mô tả
trước kỷ nguyên Levodopa. Khi sử dụng liệu
tŕnh Levodopa, trong năm đầu tiên biến chứng
về vđ là hiếm nhưng gia tăng theo mỗi năm
sau đó. Trái lại, kinh nghiệm gần đây từ
đơn trị liệu với chất chủ vận
Dopamine trong giai đoạn sớm PD đă cho thấy dao
động vđ và rối loạn vđ ở mức
độ rất thấp sau 3 năm điều trị.
Những thử nghiệm lâm sàng với qui mô lớn cũng
đang được tiến hành để xác nhận
kết quả bước đầu này. Những biến
chứng về vđ do điều trị dài ngày có ư nghĩa
ở nhiều bệnh nhân Parkinson tiến triển, chúng gây
tàn phế nhiều hơn những biến chứng vđ
ở các hội chứng Parkinson. Người ta cho rằng
sự kết hợp giữa tiến triển của
bệnh với điều trị Levodopa làm thúc đẩy
dao động vđ và rối loạn vđ như là
kết quả của một quá tŕnh thích nghi kéo dài
của các mạng thần kinh dẫn tới thay đổi
nồng độ Levodopa trong huyết tương và trong năo.
Vai tṛ của Levodopa làm xuất hiện các biến
chứng vđ do điều trị kéo dài liên quan tới
sự kết hợp giữa những thay đổi ở
tiền và hậu synapse ở thể vân. Mất dần các
tế bào thần kinh tiền synapse ở chất đen
thể vân làm giảm khả năng đệm của
hệ thống Dopamine. Do nồng
độ Dopamine ở synapse gia tăng lệ thuộc vào
nồng độ Levodopa trong huyết tương, những
thay đổi kích thích trương lực dẫn tới
kích thích tiếp theo và dao động vđ xuất
hiện. Do đó duy tŕ ổn định nồng độ
Levodopa trong huyết tương bằng cách truyền
thuốc liên tục qua đường tĩnh mạch và
kết quả là dao động vđ được
cải thiện ngay lập tức. Khi truyền
Levodopa tĩnh mạch liên tục trong vài ngày, có sự
cải thiện tăng dần về sự tiến
triển các chức năng vđ với việc thích nghi
của phức bộ hậu synapse (ví dụ số lượng
và độ nhạy cảm của receptor). Truyền
Levodopa liên tục sẽ không có hiệu qua ûtrong biến
chứng vđ, nếu chỉ có sự tiến triển
của bệnh đơn thuần. Theo y văn năm
1990 mô tả đầy đủ về cơ chế
bệnh sinh và ngộ độc di truyền Levodopa, cả
trên in vitro và trên động vật, gồm sự phát
sinh độc tính của quá tŕnh oxy hóatrực tiếp làm
tổn thương tới chuỗi vận chuyển electron
của ti lạp thể và gây hoại tử hoặc
apoptosis (chết tế bào theo chương tŕnh) tế bào
chất đen. Tuy nhiên,
cả những ư kiến ủng hộ và chống đối
với giả thuyết rằng Levodopa làm nhanh thêm quá tŕnh
chết tế bào chất đen đều đồng ư
rằng những bằng chứng về ngộ độc
chất đen ở người c̣n thiếu. Sự so sánh
tỉ lệ tử vong bệnh nhân PD trước và sau
kỷ nguyên Levodopa thấy rơ có giảm một cách ấn
tượng số tử vong sau điều trị Levodopa,
và việc điều trị sớm Levodopa có một
hiệu quả trên tuổi thọ bệnh nhân. Thực ra
nếu Levodopa được chứng minh làm nhanh tổn thương
thần kinh, tác dụng này sẽ không có ư nghĩa khi mà
Levodopa làm giảm mức tàn phế và tử vong do PD. Trong khi
Levodopa vẫn là một tiêu chuẩn vàng trong điều
trị PD, những hiểu biết hiện nay của chúng
tôi về vai tṛ của Levodopa trong biến chứng vđ
đă ủng hộ sự thay đổi trong điều
trị. Mục đích của những thuốc đa kháng
Parkinson bao gồm những chất chủ vận thụ
cảm thể dopamine và chất ức chế
Catecho-o-methyltransferase (COMT) làm tŕ hoăn và làm giảm tác
dụng phụ của Levodopa. Ngay cả khi
những thử nghiệm lâm sàng chứng minh rằng chúng
ta không thể ngăn ngừa những biến chứng vđ
xuất hiện, việc thay đổi trong điều
trị dường như vẫn có hiệu quả làm
giảm độ nặng của những biến chứng
này. Dao động vđ và rối loạn vđ nhẹ có
thể được chấp nhận và có thể thích
ứng với chức năng hàng ngày. Việc
sử dụng cả thuốc chủ vận thụ cảm
thể dopamine và ức chế COMT trên tác dụng ngoại
ư của Levodopa trên bệnh nhân PD qua tiến tŕnh của
bệnh đă không được nhận biết một
cách đầy đủ. Sự so sánh lư thuyết
đơn thuần tác dụng ngoại ư của Levodopa
(sử dụng những phương thức tiếp
cận lâm sàng khác nhau) đă chứng minh rằng lượng
Levodopa có thể giảm khoảng 50% trong 10 năm đầu
tiên của bệnh nếu kết hợp sử dụng
đơn trị liệu chất chủ vận dopamine sau
đó hỗ tợ bằng thuốc ức cế COMT. Kích thích
hệ thống dopamine với điều trị kết
hợp trên càng chứng tỏ có giảm thực sự
những độc tính liên quan tới Levodopa – tàn
phế do dao động vđ và rối loạn vđ.
LEVODOPA
CÓ ĐỘC?
William J, Weiner: Is levodopa toxic. Arch
Neorol/vol 57, Mar 2000, p:408-409. Người
dịch: Bs Nguyễn Minh Tuấn Vài năm
gần đây có sự quan tâm đồng loạt về
việc sử dụng Levodopa trong bệnh Parkinson. Mặc dù
được biết như là một thuốc mạnh
nhất điều trị PD, độc tính của nó
vẫn được quan tâm nổi bật. Đó là
Levodopa gây ra hoặc làm tăng nhanh quá tŕnh chết tế
bào hệ dopaminergic, do vậy bệnh tiến triển nhanh
hơn. Các bác sỹ lâm sàng thần kinh đón nhận
vấn đề này một cách thận trọng v́ Levodopa
đă nổi tiếng là một thuốc điều
trị có hiệu quả nhất, cải thiện các
triệu chứng vđ của bệnh và được
chứng minh là thuốc kéo dài tuổi thọ của bn
Parkinson. Tuy nhiên những giả thuyết ngộ độc
Levodopa liên tục đưa ra làm dao động các ư
kiến trên. Hơn nữa, những “khuyến cáo”
được các tạp chí về bệnh Parkinson
nhắc lại thường xuyên đă làm tăng nỗi
sợ hăi của bệnh nhân và gia đ́nh của họ
về Levodopa. Trong phần này chúng ta đánh giá về
huyền thoại độc tính của Levodopa. Giả
thuyết Levodopa có hại bắt nguồn từ đánh giá
cận lâm sàng, đó là chuyển hóa Levodopa có thể sinh
ra các gốc tự do, hydrogen peroxide và quinone. Những
phản ứng hóa học này được sinh ra liên
tục giải thích sự dị hóa và tự oxy hóa
dopamine có thể dẫn tới các phản ứng tiềm
tàng có hại. Những gốc oxy này được cho là
tấn công các phân tử dưới tế bào và màng
tế bào, làm tăng nhanh hoặc gây ra chết tế bào,
do vậy làm tăng nhanh tến triển của bệnh.
Những báo cáo gần đây về ngộ độc
Levodopa trong tế bào và các mẫu động vật thí
nghiệm chứng minh sự sai lệch các quan điểm
được quan tâm trong bài này. Trong các mẫu thí
nghiệm cận lâm sàng khác nhau, Levodopa có thể hoặc
không gây độc. Thậm chí những bằng chứng
gần đây cho rằng Levodopa có thể có vai tṛ dinh dưỡng.
Hơn nữa các kết quả nghiên cứu cho thấy
điều trị Levodopa liều cao dài ngày trên loài
gặm nhấm đă không gây ra bất kỳ sự thay
đổi bệnh học nào ở chất đen. Trong nghiên
cứu này Levodopa được dùng kéo dài tới 18 tháng.Việc
gây tổn thương từng phần ở đường
thể vân chất đen trên mẫu động vật
gặm nhấm cho kết quả mâu thuẫn với tác
dụng của Levodopa trên sự tồn tại của các
tế bào hệ dopaminergic. Ngày nay vẫn chưa có các
bằng chứng thuyết phục
rằng Levodopa gây ra tác dụng độc tính trên
động vật hoặc trên những động vật
đă bị tổn thương một phần thể vân
chất đen. Có bằng
chứng về phản ứng gây độc của Levodopa
trên người hay không? Đây là điểm quan
trọng trong bài này, nhưng bằng chứng hầu như
không có. Các báo cáo về điều trị bằng
Levodopa kéo dài (vài năm và hàng chục năm) trên
những bn không phải Parkinson với liều trung b́nh –
cao (25/250 ´
6 trong vài năm, Levodopa 2500 mg/ngày trên 20 năm, Levodopa 3000
mg trong vài năm, sau đó kết hợp Carbidopa và Levodopa
{Sinemet} 25/250, 3 lần mỗi ngày dùng trên 15 năm). Ở
những bn này, ngưng điều trị Levodopa th́ không có
thay đổi về vđ và không có triệu chứng
về Parkinson. Trong những trường hợp giải
phẫu tử thi không có giảm số lượng tế
bào ở chất đen, thay đổi về nhiễm
sắc tố hay thể Lewy. Không có bằng chứng
về lâm sàng hoặc giải phẫu bệnh có thể xác
định độc tính do Levodopa gây nên. Năm 1972,
Yahr và cộng sự đă thông báo một loạt bn có
hội chứng Parkinson được giải phẫu
bệnh th́ không có sự khác biệt nào về dấu
hiệu bệnh học giữa nhóm được điều
trị bằng Levodopa và nhóm không được điều
trị bằng Levodopa. Liều trung
b́nh ở nhóm được điều trị Levodopa là
3,7 g/ngày, điều trị từ 8 – 27 tháng. Số lượng
thực sự tế bào ở thể đen đă không
được xác định. Quan sát qua kính hiển vi
điện tử qua 2 bệnh nhân đă không cho thấy
bất kỳ sự thay đổi cấu trúc đặc
biệt nào. Ngày nay không có bằng chứng về việc
sử dụng Levodopa gây phá hủy hoặc có hại các
tế bào hệ dopaminergic của bn Parkinson. Chúng ta có
thể kết luận Levodopa không độc và đây cũng
là những hiểu biết trên lâm sàng của Levodopa trong
suốt 30 năm qua. Nếu
Levodopa không độc th́ việc chỉ định dùng nó
là nguyên nhân gây ra tiến triển các triệu chứng vđ
của bệnh Parkinson hay chỉ là tác dụng phụ do
điều trị? Do việc đưa Levodopa vào liệu
tŕnh điều trị từ năm 1967, những bất
thường về vđ không tự chủ đă
được nhận ra. Năm 1972 Barbeau đă bàn
luận về tác dụng phụ của Levodopa một
hội chứng có thể do điều trị Levodopa dài
ngày bao gồm những bất thường về vđ không
tự chủ, hiện tượng on – off, những thay
đổi trí năo và hành vi. Ông cho rằng hội chứng
này có ư nghĩa lâm sàng nhưng sự tồn tại
của nó không đủ chống lại những tác
dụng có lợi to lớn của Levodopa. Dao động
vđ và rối loạn vđ là quá tŕnh sinh lư bệnh
học khó lư giải. Tuy nhiên, ngay cả khi chúng ta không
hiểu hết bản chất của quá tŕnh th́ vẫn có
thể ngăn ngừa hặc làm tŕ hoăn các biến
chứng này do điều trị Levodopa. Ngày nay những
tranh căi liên quan tới ngộ độc Levodopa giới
hạn trong việc xem xét những phương pháp điều
trị xen kẽ vào giai đoạn sớm của bệnh
có ngăn ngừa hoặc làm tŕ hoăn dao động vđ
hoặc rối loạn vđ hay không. Điều này có nghĩa
là có phải “chiến lược tiết kiệm
Levodopa” làm chậm sự xuất hiện các biến
chứng này không, hay là không nên điều trị sớm
bệnh bằng Carbidopa và Levodopa hoặc chỉ điều
trị bằng thuốc đồng vận thụ cảm
thể dopamine vào giai đoạn sớm của bệnh? Câu hỏi này
chắc chắn phát sinh ra tranh căi. Rất nhiều nghiên
cứu đă xem xét việc sử dụng Bromocriptine và
Levodopa trong giai đoạn sớm của bệnh. Nhiều
sự chỉ trích đă được chỉ ra từ
những nghiên cứu này do mẫu nghiên cứu không thích
hợp và nhiều câu hỏi không thể trả lời
được. Ngày nay khẳng định lại sự
quan tâm việc đơn trị liệu bằng Pergolide,
Pramipexole hoặc Ropinirole có tác dụng làm chậm xuất
hiện xuất hiện dao động vđ và rối
loạn vđ hay không. Có bằng
chứng cho thấy đơn trị liệu bằng
Pramipexole và Ropinirole giảm các triệu chứng về vđ
một cách thuyết phục và có lẽ làm chậm
xuất hiện dao động vđ và rối loạn vđ.
Những nghiên cứu mù đôi kéo dài đang được
tiến hành để xác định việc sử
dụng Ronipirole, Pramipexole hoặc Pergolide và Levodopa vào giai
đoạn đầu của bệnh có làm giảm các
biến chứng có hại như dao động vđ
hoặc rối loạn vđ hay không. Một
vấn đề quan trọng được quan tâm vào
cuối nghiên cứu này là nếu đơn trị
liệu bằng thuốc đồng vận dopamine làm
chậm xuất hiện xuất hiện dao động vđ
và rối loạn vđ, th́ nó có làm giảm tác dụng có
hại của Levodopa và làm tŕ hoăn những vấn đề
này với đời sống của bn hay không, hoặc dùng
Levodopa cho bn sẽ làm tăng nhanh hơn tiến triển
của bệnh do các biến chứng vđ xuất
hiện sớm? Dao động vđ và rối loạn vđ
do Levodopa gây ra có thể liên quan tới độ nặng
của bệnh và không liên quan tới thời gian điều
trị Levodopa. Chase và Peppe và
cộng sự cho rằng không có sự liên quan giữa
thời gian khởi đầu điều trị Levodopa và
sự khởi phát triệu chứng dao động vđ và
rối loạn vđ. Nếu điều này đúng, th́
chiến lược tiết kiệm Levodopa có lẽ không có
ích trong điều trị lâu dài. Câu hỏi
cuối cùng liên quan tới ngộ độc Levodopa là các
triệu chứng vđ ngày càng
nặng được thấy trong bệnh Parkinson
tiến triển có liên quan tới việc điều
trị lâu dài Levodopa hay không. Levodopa tỏ ra vẫn có
hiệu quả trong điều trị cứng cơ, vô
động và run cho dù có điều trị dài ngày hay
thời gian của bệnh. Bệnh Parkinson tiến
triển gồm rối loạn dáng đi, khó khăn
giữ thăng bằng, ngă, và loạn vận ngôn, tất
cả đều không đáp ứng với điều
trị doparminergic. Người
ta cho rằng các triệu chứng không đáp ứng
với điều trị Levodopa trong tời gian dài của
bệnh là do quá tŕnh bệnh học của bệnh lan
tới những tế bào không thuộc hệ dopaminergic.
Levodopa vẫn là phương pháp điều trị có
hiệu quả trên những triệu chứng chủ
yếu do rối loạn chức năng hệ dopaminergic. Theo chúng tôi
không có bằng chứng nào cho thấy rằng điều
trị Levodopa dài ngày góp phần vào gia tăng các biến
chứng vđ, và điều trị Levodopa gây ra tổn thương
không hồi phục hoặc chết các tế bào hệ
dopaminergic hoặc làm tăng thêm tiến triển của
bệnh. Có hay không chiến lược tiết kiệm
Levodopa có thể làm chậm khởi phát các biến
chứng dao động vđ và rối loạn vđ
sẽ được quyết định sớm trong
những thử nghiệm mù đôi được tổ
chức tốt liên quan tới điều trị đơn
độc bằng Pergolide, Pramipexole hoặc Ropinirole là có
thể được. Những thử nghiệm này sẽ
cung cấp những dữ liệu được quan tâm và
có giá trị, nhưng sẽ không trả lời được
câu hỏi các biến chứng vđ này có liên quan tới
sự lựa chọn điều trị ban đầu
hoặc với mức độ nặng của bệnh hay
không. Khi những bn trong những thử nghiệm này
cần phải điều trị bằng Levodopa và chúng ta
có thêm nhiều bằng chứng liên quan tới sự
xuất hiện các biến chứng vđ, lúc đó chúng
ta sẽ có các nh́n thêm về ngộ độc Levodopa có
tồn tại hay không.
NGỘ
ĐỘC LEVODOPA
Vladimir Hachinski: Levodopa toxicity. Arch
Neorol/vol 57, Mar 2000, p:410. Người
dịch: Bs Nguyễn Minh Tuấn Vài thuốc
có được tác dụng đầy ấn tượng
liên quan tới việc giới thiệu sử dụng
Levodopa vào cuối những năm 1960. Những bệnh nhân
bị bất động do các triệu chứng kinh điển
của hội chứng Parkinson trong Awakenings, một cuốn
sách và sau đó là film của Oliver W. Sacks. Shulman và
Weiner đồng ư rằng Levodopa làm giảm mức độ
tàn phế và kéo dài cuộc sống. Họ cũng cho
rằng các dữ liệu thí nghiệm về ngộ độc
Levodopa chưa đủ để kết luận và
bằng chứng tác dụng độc tố trên chất
đen ở người c̣n thiếu. Shulman cho
rằng việc điều trị hiện nay nên thay đổi
do tác dụng độc về dược lư học
của Levodopa, mà được biểu hiện dưới
dạng dao động vđ và rối loạn vđ. Bà
tranh luận rằng dao động vđ và rối loạn
vđ đă không được mô tả trước khi
Levodopa ra đời và sự kết hợp giữa
tiến triển của bệnh và điều trị
Levodopa giải thích những tác dụng có hại này. Weiner chỉ
ra rằng Levodopa vẫn có hiệu quả trong điều
trị cứng cơ, vô động và run cho dù dùng
thuốc dài ngày và thời gian của bệnh. Cả hai tác
giả hướng về kết quả của những
thử nghiệm với những thuốc không phải
Levodopa đang được tiến hành. Shulman
bị thuyết phục bởi những kết quả bước
đầu, cho rằng những biến chứng vđ có
thể giảm thiểu bằng cách thay đổi việc
điều trị Levodopa ngay từ đầu. Tuy nhiên
Weiner th́ không như vậy. Bệnh nhân
nên gắn với những thử nghiệm lâm sàng do không
chỉ đóng góp những câu trả lời mà c̣n
nhận được những chăm sóc tuyệt vời
từ những thử nghiệm lâm sàng này và c̣n có cơ
hội nhận được những phương pháp
điều trị tốt hơn. Trong những trường
hợp này khi những thử nghiệm lâm sàng chưa có
sự lựa chọn nào khác, th́ Levodopa vẫn là
thuốc được lựa chọn với mệnh
lệnh “ bắt đầu liều thấp, tăng
liều chậm”.
ĐIỀU TRỊ BỆNH PARKINSON
BẰNG LEVODOPA
CHO KẾT QUẢ LÂU DÀI TỐT HƠN
DỰ ĐOÁN TRƯỚC ĐÂY
J. Thomas Hutton, Eduardo S. Tolosa, Rudy
Capildeo, Jerry L. Morris: Levodopa-treated parkinson disease has better
long-term outcome than previously predicted. Arch Neorol/vol 57, May 2000,
p:758-759. Người
dịch: Bs Nguyễn Minh Tuấn Bài báo
gần đây của tiến sĩ
Stanley Fahn mô tả chi tiết tầm quan trọng
của một thử nghiệm lâm sàng có chứng để
xác định hiệu quả của Levodopa trong bệnh
Parkinson (PD). Tần xuất các biến chứng vận
động (vđ) có hại (hội chứng tắt
dần, on – off, và rối loạn vận động) không
được xác định chính xác. Fahn cho rằng sau 5
năm điều trị bằng Levodopa, 75% bệnh nhân
(bn) không c̣n đáp ứng dễ dàng, ổn định và
có hiệu quả nữa. Tuy nhiên,
đánh giá của ông dựa trên mẫu gồm nhiều
bệnh nhân được điều trị bằng
Levodopa trên 5 năm (10 – 15 năm có 37%, bn trên 15 năm có
8% bn). Có lẽ
sự đánh giá và hiểu biết tốt nhất về
đáp ứng với điều trị Levodopa dài ngày
được đưa ra bởi Marsden và Parkes năm
1977. Họ cho rằng 85% bn có đáp ứng bước
đầu với Levodopa, rằng chỉ 1/3 số bn duy tŕ
được hiệu quả điều trị sau 5 năm,
1/3 số bn có giảm một số đáp ứng nhưng
vẫn tốt hơn trước điều trị
bằng Levodopa, và 1/3 nặng hơn trước điều
trị. Đặc điểm chung là khoảng một
nửa bn có dao động vđ tiến triển trong ṿng
5 năm điều trị bằng Levodopa. Chúng tôi có
tham gia vào một nghiên cứu placebo có chứng, so sánh
điều trị Carbidopa – Levodopa phóng thích nhanh (Sinemet
25/100 của công ty dược phẩm DuPont Merck) và Carbidopa
– Levodopa phóng thích chậm (Sinemet CR 50/200 của công ty dược
phẩm DuPont Merck) trên 5 năm với 618 bn chỉ điều
trị bằng Levodopa (Controlled–release Five– Year International
Response Fluctuation Study – CR FIRST). Thang điểm đánh giá
tổng hợp về bệnh Parkinson (Unified Parkinson ùs
Disease Rating Scale – UPDRS) đă được dùng trong nghiên
cứu để đánh giá hiệu quả. Để mô
tả đặc điểm kết quả điều
trị Levodopa dài ngày, chúng tôi đánh giá lại UPDRS trong
hoạt động hàng ngày (activities of daily living – ADL) vào
giai đoạn cuối 5 năm điều trị. So sánh
kết quả đều trị Levodopa với kết
quả của Marsden và Parkes, chúng tôi xác định
ổn định là sự cải thiện ADL trên 4 điểm
so với ban đầu, nặng hơn là kém hơn 4 điểm,
và giảm hiệu quả là kém 3 điểm. Một
số ít trong nghiên cứu của chúng tôi (18% ở nhóm phóng
thích chậm và 20% ở nhóm phóng thích nhanh) nặng lên sau
5 năm điều trị (của Marsden và Parkes là 1/3).
Hiệu quả lúc đầu điều trị Levodopa
được duy tŕ (ổn định) suốt 5 năm
điều trị là 33% ở nhóm phóng thích nhanh và 40%
ở nhóm phóng thích chậm. Một số hiệu quả
lúc đầu điều trị bị giảm đi
(giảm hiệu quả) với 47% ở nhóm phóng thích
nhanh và 42% ở nhóm phóng thích chậm. Dựa trên sự
cải thiện điểm ADL, có một tỉ lệ cao hơn
trong nghiên cứu của chúng tôi đáp ứng với
Levodopa (87% bn trong nhóm phóng
thích nhanh và 91% trong nhóm phóng thích chậm so với 85%
của Marsden và Parkes). Khởi phát dao động vđ được xác định bằng nhật kư chức năng vđ của bn và bảng câu hỏi, kết quả này được ghi nhận trước đây. Khi được xác định bằng nhật kư bn, thời điểm khởi phát dao động vđ là thời điểm trước 2 lần thăm khám lâm sàng liên tục mà có hơn 20% thời gian trong ngày là thời gian “ off “ hoặc hơn 10% là “ on “ với rối loạn vđ. Theo nhật kư bn, sau 5 năm điều trị, 20,6% bn ở nhóm phóng thích nhanh và 21,8% ở nhóm phóng thích chậm có dao động vđ. Theo bảng câu hỏi th́ chỉ có 16% bn ở mỗi nhóm có dao động vđ. Không có khác biệt có ư nghĩa về dao động vđ giữa 2 nhóm điều trị qua nhật kư và bảng câu hỏi. Trái với nghiên cứu trước đây của Marsden và Parkes và của Fahn, số liệu của chúng tôi đáng khích lệ hơn. Kết quả này cho thấy hầu hết bn có thể được điều trị tốt bằng liệu pháp Levodopa, mà không có sự hỗ trợ của thuốc đồng vận dopamine suốt 5 năm. Trên 80% bn sau 5 năm điều trị có điểm ADL bằng hoặc trên so với lúc đầu, và chỉ khoảng 20% có dao ñoäng vñ. Kết
quả này cho thấy thực tế có kết quả
tốt hơn những ghi nhận của Fahn hay của
Marsden và Parkes, chứng minh đáp ứng kéo dài và có
hiệu quả với Levodopa. Một số bác sĩ có lư
khi không đồng ư với khái niệm rối loạn
vận động on và off được dùng trong nghiên
cứu CR FIRST là quá chặt chẽ. Những kết
quả chúng tôi thu nhận được dựa trên
nhật kư của bệnh nhân và khám xét lâm sàng để
mô tả kết quả điều trị Levodopa dài ngày
chính xác hơn những đánh giá trong quá khứ mà
chỉ dựa trên ghi nhận của bn.
|
|
|