|
|
HẠ HUYẾT ÁP TƯ THẾ CẤP TÍNH KHI BẮT ĐẦU DÙNGNHỮNG
ĐỒNG VẬN DOPAMIN Ở BỆNH PARKINSON
Kathy
Kujawa, Sue Leurgans, Rema Raman, Lucy Blasucci, Christopher G. Goetz: Acute
Orthostatic Hypotension When Starting
Dopamine Agonists in Parkinson’ Disease. Archives of Neurology, Vol 57,
October 2000, p. 1461-1463. Người
dịch: BS. Nguyễn Thanh Việt. Mục
đích:
Nghiên cứu tính thường xuyên và sự nghiêm
trọng của hạ huyết áp tư thế cấp tính ở
những bệnh nhân bị bệnh Parkinson khi bắt đầu
liệu pháp dùng những đồng vận Dopamin. Bệnh
nhân và phương pháp:
Trong phạm vi những bệnh nhân điều trị
ngoại trú, 29 bệnh nhân
bệnh Parkinson được đưa vào bệnh
viện để dùng những đồng vận Dopamin
liều đầu tiên. Sau khi được đo
huyết áp ở tư thế nằm và đứng,
bệnh nhân được dùng liều thử nghiệm
hoặc Pergolide mesylate (0.025, 0.05, 0.125 hoặc 0.25 mg),
Pramipexole dihydrochloride (0.125 mg) hoặc Ropinirole hydrochloride
(0.125 hoặc 0.25 mg). Tại 3 thời điểm, huyết
áp đều được đo lại ở cả tư
thế đứng và nằm ngửa. Phương
pháp đánh giá chính:
Hạ huyết áp tư thế được xác định
là hoặc HAtâm thu giảm >25
mmHg hoặc HAtâm trương giảm >10 mmHg. Những
bệnh nhân có triệu chứng hạ huyết áp tư
thế trước khi dùng những đồng vận
Dopamin đều bị loại trừ. Kết
quả:
10 bệnh nhân (34%) co đủù tiêu chuẩn hạ
huyết áp tư thế (OH). Không có bằng chứng
cho rằng hạ huyết áp tư thế liên quan đến
đồng vận Dopamin chuyên biệt nào đó hoặc có
dùng đồng thời Levodopa. Trong số những bệnh
nhân có đủ tiêu chuẩn hạ huyết áp tư
thế, chỉ có 3 (30%) là có triệu chứng của
hạ huyết áp tư thế, ví dụ như chóng váng
hoặc mệt mỏi toàn thân. Kết
luận:
Hạ huyết áp tư thế cấp tính thường xuyên
xảy ra khi bắt đầu liệu pháp dùng những
đồng vận Dopamin ở bệnh Parkinson, nhưng không
chiếm ưu thế thường xuyên ở các bệnh
nhân. Kiến thức về đáp ứng cấp tính
của huyết áp sẽ hữu ích khi quyết định
lịch trình chuẩn độ đồng vận Dopamin
trong thực hành lâm sàng.
Những
thuốc chỉ định thường dùng để
điều trị bệnh Parkinson gồm có Levodopa, có
thể gây hạ huyết áp tư thế (OH). Những
đồng vận Dopamin có thể làm hạ huyết áp và
những thay đổi này có thể xảy ra ngay ở
liều đầu tiên. Cơ chế những đồng
vận Dopamin làm hạ huyết áp là do làm dãn cả động
mạch và tĩnh mạch thông qua việc ức chế
hệ giao cảm của hệ thống thần kinh.
Bởi vì Apomorphine hydrochloride và Bromocriptine mesylate làm
giảm huyết áp ở cả những bệnh nhân có
huyết áp bình thường và những bệnh nhân
bị cao huyết áp nên những đồng vận Dopamin
đã được dùng để điều trị tăng
huyết áp. Ở bệnh Parkinson, hạ huyết áp tư
thế là tác dụng phụ không mong muốn đã
được biết rõ ở tất cả những
đồng vận Dopamin, bao gồm Bromocriptine, Pergolide
mesylate và những tác nhân mới hơn như Pramipexole
dihydrochloride và Ropinirole hydrochloride. Có những nghiên cứu
đã báo cáo rằng hạ huyết áp tư thế là tác
dụng phụ có thể xảy ra ở mọi thời
điểm hơn là khi bắt đầu dùng những
đồng vận Dopamin. Ơû đây chúng tôi nghiên
cứu tính thường xuyên và sự nghiêm trọng
của những thay đổi huyết áp ở tư
thế đứng và nằm ngửa khi dùng những
liều đầu tiên của đồng vận Dopamin.
Thay đổi cấp tính về huyết áp gợi ý
rằng do tác động của đồng vận Dopamin hơn
là bệnh cơ bản sẵn có (sự mất nước
hoặc nhiễm trùng) hoặc dùng thuốc kết hợp
(như thuốc hạ áp hoặc thuốc chống hội
chứng Parkinson) đã được báo cáo ở
những nghiên cứu gần đây. Thông tin này có lẽ
sẽ hữu ích khi quyết định chuẩn độ
tiếp theo và lịch trình liều thuốc để
đảm bảo cho bệnh nhân an toàn và dung nạp
thuốc tốt. Kết
quả:
9
bệnh nhân (31%) dùng Pergolide; 16 bệnh nhân (55%) dùng
Pramipexole. 4 bệnh nhân (14%) dùng Ropinirole. Sau khi dùng đồng
vận Dopamin, 10 bệnh nhân (34%) có đủ tiêu chuẩn
hạ huyết áp tư thế (6 có triệu chứng HAtâm
thu , 7 có triệu chứng HAtâm trương và 3 có cả
triệu chứng HAtâm thu và tâm trương). 3 trong số
những bệnh nhân bị hạ huyết áp tư thế
được dùng liều Pergolide mesylate (0.025, 0.125
hoặc 0.25 mg), trong khi đó 7 bệnh nhân dùng Pramipexole
dihydrochloride (0.125 mg). Không có bằng chứng cho rằng
đồng vận Dopamin chuyên biệt làm gia tăng tỉ
lệ hạ huyết áp tư thế (p= 0.36 test Fisher).
Tất cả những bệnh nhân đều dùng liều
thấp đồng vận (liều trung bình của Pergolide
là 0.11 ( 0.05 mg), mà 1 mg Pergolide tương đương 1
mg Pramipexole tương đương 3 mg Ropinirole. Bởi vì
thiếu sự đa dạng nên sự tương quan
giữa các liều thuốc và sự xuất hiện
hạ huyết áp tư thế không đánh giá được.
Trong số 10 bệnh nhân co đủù tiêu chuẩn hạ
huyết áp tư thế chỉ có 3 (30%) có triệu
chứng của OH (choáng váng hoặc mệt mỏi toàn thân). Hạ
huyết áp tư thế không liên quan đến dùng
thuốc phối hợp hay dùng những thuốc khác như
Levodopa hoặc thuốc hạ áp. Mặc dù phần lớn
bệnh nhân trong nghiên cứu này đều dùng Levodopa,
trong số 6 bệnh nhân không dùng thì 2 bệnh nhân có
triệu chứng OH do đồng vận Dopamin. Chỉ có 1
bệnh nhân OH là có dùng thuốc hạ áp (Nifedipine 30 mg/d). Bàn
luận:
Hạ
áp thế đứng đã được báo cáo thường
xuyên là biểu hiện của sự rối loạn
tự động ở những bệnh nhân bệnh
Parkinson với tỉ lệ trung bình 8,7% tới 58,2%. Hạ
huyết áp tư thế cấp tính thường không
chiếm ưu thế ở những bệnh nhân như
nhức đầu nhẹ. 1 nghiên cứu mới đây
của Senard và CS mô tả rằng 38,5% bệnh nhân bị
hạ huyết áp tư thế đều không có triệu
chứng. Trong số 55 bệnh nhân được nghiên
cứu mù đôi với Pramipexole, Hubble và CS thấy
rằng tất cả những bệnh nhân đều có
biểu hiện hạ huyết áp tư thế không
triệu chứng, dù điều trị bằng placebo hay
với Pramipexole. Trong nghiên cứu của Singer và CS, đã
dùng bảng những câu hỏi để xác định
những triệu chứng tự động ở bệnh
nhân nam có bệnh Parkinson thì 22% bệnh nhân than phiền chóng
mặt ở tư thế đứng. Kết
quả nghiên cứu của chúng tôi tương tự như
những tác giả khác: có triệu chứng hạ
huyết áp khi dùng những đồng vận Dopamin ở
bệnh nhân Parkinson (PD). Senard và CS thấy rằng trong 91
bệnh nhân Parkinson được nghiên cứu thì có 53
bệnh nhân có triệu chứng hạ huyết áp tư
thế và hơn phân nửa bệnh nhân là có dùng
Bromocriptine. Cũng như vậy, Hubble và CS thấy rằng
bệnh nhân có triệu chứng hạ huyết áp thế
đứng khi dùng Pramipexole (25%) hơn là dùng giả dược
(18.5%). Điều trị OH ở bệnh Parkinson bao gồm dùng thuốc và không dùng thuốc. Liệu pháp không dùng thuốc gồm: bỏ hoặc giảm những thuốc có thể gây hạ huyết áp tư thế (lợi tiểu, dãn mạch, thuốc hạ áp, chống trầm cảm 3 vòng và Dopamin), tăng tiêu thụ muối, nước, ăn ít hơn nhưng nhiều bữa hơn, tránh rượu bia và dùng vớ đàn hồi Jobst để tăng lượng máu tĩnh mạch về tim. Do những trị liệu bảo tồn này có lẽ chỉ có hiệu quả ở những bệnh nhân có rối loạn nhẹ nên việc dùng thuốc để cải thiện triệu chứng của bệnh nhân thường là cần thiết. Số lượng các chỉ định thuốc thì lớn và tác dụng ngược nhau, mỗi thuốc đi kèm một loạt tác dụng phụ tiềm ẩn, thường là tăng huyết áp đo ở tư thế nằm ngửa. Thông thường những thuốc dùng để điều trị hạ áp tư thế gồm: mineralocorticoide (fludrocortisone), thuốc cường giao cảm (ephedrine và phenylpropanolamine), thuốc co mạch trực tiếp (midodrine hydrochloride), ức chế tổng hợp prostaglandine (Indomethacine) và thuốc sinh tổng hợp hồng cầu (erythropoietin). Qui luật của hạ huyết áp tư thế có triệu chứng hoặc không có triệu chứng(mà hạ huyết áp là nguyên nhân của việc ngã, cảm giác không vững khi đứng), đã không được nghiên cứu một cách có hệ thống ở những bệnh nhân mắc bệnh Parkinson. Chúng tôi thấy rằng nghiên cứu này không được kiểm chứng với placebo, không ngẫu nhiên và không mù đôi nhưng đã phác thảo 1 thao tác thường qui trong thực hành lâm sàng và có ích cho bệnh nhân. Do hậu quả của việc ngã gồm gãy xương hông, phải dùng những phương tiện đắt tiền để chẩn đoán, phải vào khoa cấp cứu, phải nhập viện nên việc xác định những bệnh nhân có hạ huyết áp tư thế khi dùng thuốc điều trị Parkinson là quan trọng. Mặc dù số lượng bệnh nhân có hạn trong nghiên cứu này nhưng chúng tôi tin rằng những thuốc gây hạ huyết áp tư thế có thể gây những tàn tật đáng kể cho những bệnh nhân này nên đề nghị rằng: liệu pháp dùng đồng vận Dopamin nên được bắt đầu dưới sự kiểm soát của thầy thuốc và y tá. Sự kiểm soát này có thể thực hiện dễ dàng ở những bệnh nhân điều trị ngoại trú trong những lần đến khám. Bởi vì rất nhiều trong số những bệnh nhân của chúng tôi mặc dù huyết áp hạ nhiều nhưng đều không có triệu chứng, hiện nay chúng tôi đang bổ sung lịch trình dùng thuốc ở những bệnh nhân có triệu chứng hạ huyết áp tư thế. Những bệnh nhân này nên được bắt đầu liều thấp và thường dùng cách nhật. Sự kiểm soát huyết áp ở bệnh nhân điều trị ngoại trú là biện pháp đơn giản và an toàn nhưng có thể giúp đỡ những bệnh nhân này.
|
|
|