|
|
NHỮNG
ẢNH HƯỞNG CỦA KÍCH THÍCH VÙNG DƯỚI ĐỒI HAI BÊN LÊN CHỨC NĂNG NHẬN THỨC
Ở BỆNH PARKINSON
Montse Alegert, Carme Junque, Francesc
Valldeoriola, Pere Vendrell, Manuela Pileri, Jordi Rumia, Eduardo Tolosa: Effect
Of Bilateral Subthalamic Stimulation On Cognitive Function In Parkinson Disease.
Archives of Neurology, Vol 58 Aug 2001, p 1223-1227 Người dịch: BS
Nguyễn Thanh Việt Tổng quan:
Kích thích sâu vùng đồi thị hai bên lâu dài
(STN-DBS) được biết là giúp cải thiện
vận động ở bệnh Parkinson (PD). Tuy nhiên
những ảnh hưởng có thể có của phương
pháp này trên chức năng tâm thần kinh c̣n ít được
nghiên cứu. Mục đích:
Điều tra nghiên
cứu những ảnh hưởng của phương pháp
STN-DBS trên những chức năng tâm thần kinh ở PD. Thiết kế: thử nghiệm trước
sau. Bệnh nhân và phương pháp:
15 bệnh nhân được đánh giá trước
và 3 tháng sau cấy ghép thiết bị kích thích trong phương
pháp kích thích sâu vùng dưới đồi ( đánh gía
sau phẫu thuật với
thiết bị kích thích đang được mở).
Việc đánh giá này được thực hiện
ở cả những bệnh nhân đang dùng thuốc và không
dùng thuốc. Việc đánh giá tâm thần kinh
bao gồm những Text đánh giá trí nhớ, không
gian thị giác và chức năng thùy trán. Kết qủa: Việc
so sánh trước và sau phẫu thuật cho thấy có
một sự suy giảm trung b́nh về trí nhớ lời
nói, chức năng thùy trán trước và chức năng
không gian thị giác, và có sự cải thiện trung b́nh
trong nhiệm vụ thùy trán trước (prefrontal task) và
đặc điểm ám ảnh bắt buộc. Chức năng
vận động cải thiện ở tất cả các
bệnh nhân. Kết luận:
Phương pháp STN-DBS cải thiện chức năng
vận động ở PD mà không liên quan đến
bất kỳ biểu hiện lâm sàng suy giảm tâm
thần kinh. Vào
những năm 1990, phương pháp kích thích đă
được giới thiệu để điều
trị ở những bệnh nhân PD
mà điều trị nội khoa thất bại.
Mặc dù có những bằng chứng nhiên về lợi
ích của kích thích sâu vùng đồi thị lâu dài trên
các triệu chứng vận động ở PD, nhưng các
ảnh hưởng của nó lên chức năng tâm
thần kinh chưa được nghiên cứu kỹ lưỡng.
Mặc dù STN-DBS không gây ra các thương tổn toàn
bộ thùy trán, nhưng một ảnh hưởng xấu
trên chức năng chuyên biệt
của thùy trán trước
đă được mô tả. Tuy nhiên, những báo
cáo tiến hành đánh giá thùy trán trước và the
Trail- Marking B test, cho kết qủa trái ngược nhau.
Mặc dù Trepanier và cộng sự thấy ít hiệu
qủa, Adrouin và cộng sự thấy có hiệu qủa
sau STN-DBS, sự không nhất quán này có thể do phương
pháp luận khác nhau. Chẳng hạn, trong nghiên cứu
của Tepanier và cộng sự , việc đánh giá tâm
thần kinh ở những
bệnh nhân đang
được dùng Levodopa, trong khi nghiên cứu của
Ardrouin và cộng sự thực hiện trên một số
bệnh nhân đang dùng Levodopa và không dùng. Trong
nghiên cứu này, chúng tôi nghiên cứu một cách có
hệ thống những hiệu qủa của STN-DBS hai bên
lên chức năng tâm thần kinh
mà đă được báo cáo có thay đổi sau
phương pháp phẫu thuật
ở PD, như là mở vùng cầu nhạt, kích thích
phần trong cầu nhạt (GPi), mở vùng dưới
đồi, và STN-DBS. Để giảm thiểu tối
đa ảnh hưởng của
Levodopa, chúng tôi đă tiến hành thực hiện đánh
giá trước và sau phẫu thuật
ở những bệnh nhân
đă được ngưng thuốc vào đêm trước.
Việc đánh giá tâm thần kinh được thực
hiện tương tự
nhau và nhóm bệnh nhân được so sánh
với những bệnh nhân mở vùng cầu
nhạt mà đă được mô tả trong nghiên
cứu trước ở thực nghiệm của chúng tôi.
BệNH
NHÂN VÀ PHƯƠNG PHÁP
Ngoại
trừ các chỉ định khác, các số liệu dưới
đây được cho theo trung b́nh ±
SD Bệnh
nhân
Chúng
tôi nghiên cứu 15 bệnh nhân liên tiếp (7 nam và 8
nữ ) đang bị PD tiến triển
đă trải qua phương pháp STN- DBS. Các tiêu
chuẩn bao gồm tuổi nhỏ hơn 75 tuổi
và có sự dao động về mất vận động
và loạn vận động do thuốc
mà kháng với trị liệu. Các tiêu chuẩn
loại trừ bao gồm sa
sút trí tuệ, trầm cảm hoặc dấu ấn teo năo
trên các h́nh ảnh học thần kinh. Tuổi
trung b́nh của bệnh nhân là 61.1 ±
8.3 tuổi, tuổi trung b́nh khởi phát bệnh là 45.1 ±
9.1 tuổi và khoảng thời gian mắc bệnh là 16.1 ±
8.3 năm. Thời gian được đi học trung b́nh
7.7 ±
4.0 năm. Tất cả các bệnh nhân đều
thuận tay phải. Tất cả các bệnh nhân đều
dùng Levodopa và 9 người trong số họ dùng cả
đồng vận Dopamine (Pergolide mesylate hoặc ropinirole
hydrochloride). Liều Levodopa trung b́nh là 1349.6 ±
589.2 mg/d tại thời điểm đánh giá trước
phẫu thuật. Sự biến thiên ḍng được
đặt tại một nhịp có bề rộng 60ms,
tần số kích thích là 130 Hz, cường độ
điện thế là 3.1 ±
0.7 V. tất cả các bệnh nhân đều đồng
ư tham gia trong nghiên cứu của chúng tôi. Đánh
giá tâm thần kinh
Bộ
đánh giá tâm thần kinh được chọn dùng
để đánh giá toàn bộ ṿng trán – dưới
vỏ và những test có thang điểm đánh giá mà
được báo là có thay đổi sau phẫu thuật
ở PD (như mở vùng cầu nhạt, kích thích GPi,
mở vùng dưới đồi và STN-DBS) Trí
nhớ tường thuật được đánh giá theo
Rey Auditory Verbal Learning Test (RAVLT). Chúng tôi đáng giá số
lượng từ học được trong 5 thời
khoảng liên tiếp của danh sách 15 từ và số
từ được nhắc lại trong 20 giây bị
chậm trễ tiếp theo (20 minutes delay) với sự
xen vào của các test khác. Phần trăm từ
bị quên sau thời gian chậm trễ được ghi
nhận là trí nhớ lâu dài. Sự ghi nhận được
đánh giá bằng toàn bộ từ chính xác được
nhận ra từ bộ 30 từ (15 từ có sự kích thích,
15 từ mới). Để giảm đến mức
tối thiểu những ảnh hưởng trong khi đánh
giá trí nhớ chúng tôi dùng bản RAVLT bổ sung như
sau. Chúng tôi dùng ngẫu nhiên cả 2 phiên bản (version)
của RAVLT như sau 50% bệnh nhân được đánh
giá theo một phiên bản đầu tiên và 50% bệnh nhân
c̣n lại dùng cùng một phiên bản sau phẫu
thuật. Chúng tôi dùng song song một danh sách 15 từ trong
mỗi lần thăm khám, theo phương pháp đề
xuất của Jones-Gotman (và mô tả theo Lezak) trong lần
thăm khám trước và sau phẫu thuật ở
bệnh nhân động kinh. Chức năng thị giác không
gian được đánh giá theo Line Orientation Test của
Benton và cộng sự. Những bệnh nhân này được
hướng dẫn cách đánh giá độ nghiêng
của 1 cặp ḍng chữ trên giấy, cùng với sự
tham khảo của 11 ḍng chữ trên trang giấy khác,
được đánh số từ 1(11, mỗi ḍng cách
nhau 1 góc 180. Test tổng cộng gồm 30 ḍng, chúng tôi thăm
khám chức năng thùy trán trước
dựa trên Trail- Marking Test và test về độä trôi
chảy của ngữ âm và ngữ nghĩa. Bệnh nhân
được hướng dẫn nối các số từ
1(25 trong Trail- Marking A Test và nối các số và các chữ theo số thứ tự
nối 1A ( 13 trong Trail -Marking B Test. Thời gian để
làm các việc này đều được ghi lại.
Trong các Test đánh giá về độ trôi chảy
của ngữ âm và ngữ điệu, bệnh nhân
phải đưa ra càng nhiều từ khởi đầu
bằng chữ P nếu có thể (ghi nhận ngữ âm) và
tên các thú vật (ghi nhận các ngữ nghĩa) trong
một phút ở mỗi công việc. Test đánh giá màu
sắc Stroop và màu sắc từ cũng được
thực hiện. Ơû lần thứ nhất, bệnh nhân
phải gọi tên về màu sắc của mỗi nhóm
gạch ngang, trong khi ở lần thứ hai họ phải
nêu đúng tên màu sắc mà tên của màu sắc khác
đă được in ra giấy. Ơû cả hai công
việc, bệnh nhân phải trả lời thật
nhiều câu đúng nếu có thể trong 45 giây. Chúng tôi
cũng đánh giá nét ám ảnh bắt buộc bằng
MOCI (Maudsley Obessional Compulsive Inventory),gồm 30 câu đánh giá
nét ám ảnh bắt buộc. Bệnh nhân được
trả lời đúng hay sai. Tất
cả các bệnh nhân được thăm khám trước
và sau phẫu thuật bởi một nhà thần kinh
học (M.A). Việc thăm khám được đánh giá
3 ngày trước khi cấy ghép kích thích & đánh giá
3 tháng sau phẫu thuật (với thiết bị kích thích
mở). Cả hai lần thăm khám được
thực hiện vào 8-9h sáng và bệnh nhân ngưng uống
thuốc tối thiểu 12h (overnight) Đánh giá vận động
Vận
động được đánh giá bằng ngưng
Levodopa và theo chỉ dẫn của chương tŕnh đánh
giá Core trong cấy ghép nội sọ (The Core Assessment Program
for Intracerebral Transplation). Đánh giá lâm sàng theo Unified
Parkinson’s Disease Rating Scale phiên bản 3.0. Bệnh nhân cũng
được đánh giá theo hệ thống của Hoeln và
Yahr, hệ thống xếp loại mức độ
của Schwab và England., Activities of Daily Living Scale. Tất
cả những thang điểm này được thực
hiện 3 ngày trước và 3 tháng sau STN –DBS. Phương
Pháp Ngoại Khoa
Các
trị liệu cho hội chứng Parkinson đă được
loại bo û vào đêm trước phẫu thuật. Khung
Stereotactic model-G Leksell được đặt ở
bệnh nhân gây tê tại chỗ. Những h́nh ảnh xuyên
qua vùng đường nối trong có bề dày slice 1mm
để chụp cắt lớp nội sọ. Sau khi thu
thập các slices ở chỗ nối trước và sau,
mục tiêu anatomie (giải phẫu) lư thuyết được
đặt là 2mm phía sau và 5mm phía bụng tới điểm
mép giữa và 12mm bên tới đường mép trong.
Mục tiêu đạt được với góc trước
sau là 600 với sự lưu
tâm đến đường nối trong và mặt
phẳng dọc một góc 100 . Sự phối hợp
Stereotactic được tính toán bằng chương tŕnh
vi tính kỹ thuật số có atlas năo dựa trên atlas
của Schalten brandt và Wahren. Bằng gây tê tại chỗ,
một lỗ 15mm được thực hiện trên
sọ tính từ đường giữa và khớp trán
đỉnh là 2cm. Ghi nhận hoạt động một
đơn vị thần kinh được thực
hiện bởi thiết bị đồng hồ ghi
thần kinh (Neurorack, TPM Servicios Medicos, Madrid, Spain). Một vi
điện cực Platin, Iridi (vi điện cực có
thể kéo dài, 14- TDSC - CC; FHC Inc, Bowdoingham Me) được
đặt xuyên qua lỗ. Vi điện cực ghi
được bắt đầu 20mm trên lư thuyết và
điều khiển và thiết bị vi dẫn điện
tử. Bằng vi điện cực ghi, sự phóng điện
lên neuron đồi thị, dưới đồi, thể
lưới nhân xám có thể xác định được
vùng cảm giác – vận động dưới đồi
được phân biệt bởi đáp ứng hoạt
động thần kinh thay đổi với cử động
chủ động và thụ động hoặc sự
bắt mạnh và đèn gắn vào phần đối bên
của cơ thể. Vi kích thích ở vùng dưới
đồi (các nhịp lưỡng cực là 40-80 mA,
300Hz và thời gian từ
500-1000ms) được gắn để xác định ngưỡng
cửa lợi ích và tác dụng phụ. Các trach thăm ḍ
tối thiểu là 1 và tối đa là 4 mắc song song theo
mặt phẳng xung quanh mặt phẳng đứng dọc
và ṿng đầu cần thiết để định
vị vùng vận động – cảm giác dưới
đồi và ranh giới giải phẫu của nó. Gây mê
toàn thể bằng propofol tĩnh mạnh 2,5mg/kg trong khi làm
thủ thuật trừ khi làm hợp tác của bệnh nhân. Một
khi vùng vận động cảm giác của dưới
đồi được xác định, điện
cực kích thích dài (DBS 3389 electrode, Medtronic, Minneapolis, Minn)
được đặt vào tại vị trí đó.
Một thiết bị kích thích ngoài được
nối với điện cực kích thích để sau
đó dùng xác định không có tác dụng nào giới
hạn, như nh́n đôi, co trương lực chi, dị
cảm, loạn vận động, triệu chứng
thực vật và đáp ứng vận động đầy
đủ. H́nh ảnh cộng hưởng từ sọ
được thực hiện ở tất cả các
bệnh nhân ngay lập tức trước cấy ghép
để loại trừ biến chứng xuất huyết
và lạc vị trí điện cực. Máy phát nhịp chương
tŕnh (Itrel II, Medtronic) được cấy vào vùng dưới
đ̣n cùng bên với
điện cực 1 tuần sau khi phẫu thuật. Phân tích thống kêPhân
tích thống kê được thực hiện trên
phần mềm (SPSS-PC, Version 9.0; SPSS Inc, Chicago, III). So sánh
theo cặp t test được dùng để so sánh tâm
thần kinh trước và sau STN-DBS. Hơn thế nữa,
để thăm khám việc học đường cong
trong RAVLT trước và sau phẫu thuật, chúng tôi tính
toán lâïp lại phương pháp đo lường phân tích
phương sai (ANOVA), với yếu tố học hành (1-5
learning trials) và yếu tố phẫu thuật (trước
và sau STN-DBS). Mối
liên quan về phần trăm thay đoiå giữa vận
động và tâm thần kinh được nghiên cứu
bằng phân tích tương quan Spearman. Những thay đổi
tâm thần kinh cũng liên quan đến các dữ
liệu lâm sàng trước phẫu thuật và nhân
khẩu học. Tất
cả các phân tích thống kê được thực
hiện bằng xác xuất 2 phía. Bởi v́ nghiên cứu này
có tính cách thăm ḍ, lỗi type II đáng kể có
thể liên quan, v́ vậy chuẩn không hiệu chỉnh ngưỡng
( của P<0.05 được xác định là có ư nghĩa.
Cho yếu tố nguy cơ có thể của type I, kết
qủa có ư nghĩa nên được chú ư chỉ khi ngưỡng
(ranh giới nhỏ hơn P=0.05). KẾT
QUẢ
So
sánh với những đánh giá trước phẫu
thuật, STN-DBS gây ra những suy giảm đáng kể
về mặt thống kê theo RAVLT, the Line Orientation Test, độ
trôi chảy về ngữ âm, ngữ nghĩa của từ
và test màu sắc Stroop. Có sự cải thiện đáng
kể về mặt thống kê trong Trail- Marking B Test và
thang điểm MOCI. (bảng 1) Mặc
dù những thay đổi này, một số ít bệnh nhân
trước phẫu thuật được đánh giá b́nh
thường th́ sau phẫu thuật bị suy giảm kém
theo thang điểm cutoff như 3 bệnh nhân theo Line
Orientation Test, 2 bệnh nhân về độ trôi chảy
lời nói, 3 bệnh nhân trong độ trôi chảy
ngữ âm lời nói và 1 bệnh nhân
trong test màu sắc Stroop. Không ai trong số những
bệnh nhân này trở nên sa sút trí tuệ, theo tiêu
chuẩn đoán và thống kê xuất những rối
loạn tâm thần, xuất bản lần thứ 4. Những
đo lường lập lại ANOVA trong việc học
đường cong RAVLT cho thấy có những ảnh hưởng
đáng kể đối với phẫu thuật (F1,14=6,89
P=0.02) và yếu tố học (F4,56=95.57; P<0.001). mối tương
quan giữa việc học và phẫu thuật cũng có ư
nghĩa (F4,56= 2.97 P=0.03). Kết quả này cho thấy
mặc dầu trong thử nghiệm đầu tiên (trí
nhớ tức thời ) trước và sau phẫu thuật
là tương tự , tốc độ học giảm sau
STN-DBS (ảnh). Đánh
giá vận động sau phẫu thuật cho thấy có
sự cải thiện rơ rệt Unysied Parkinson’sDisease Rating
Scale phần III và Hoehn và Tahr, Schwab và England, thang điểm
hoạt động hàng ngày (Activities of Daily Living) (bảng
2). Liều Levodopa sau phẫu thuật giảm trung b́nh 57,9%
((34,5%) trong 3 bệnh nhân đă không phải dùng Levodopa. Các
thay đổi tâm thần kinh không liên quan đến
những thay đổi về vận động hoặc các
dữ kiện lâm sàng và nhân khẩu học. BÀN
LUẬN
Nghiên
cứu này cho thấy STN-DBS 2 bên đă đem lại
lợi ích về vận động thật ấn tượng
cho bệnh nhân PD khó chữa trị, đem lại cả
lợi ích lẫn sự suy giảm về những thay
đổi tâm thần kinh. Trong đánh giá 3 tháng sau
phẫu thuật chúng tôi nhận thấy có sự suy
giảm về độ trôi chảy ngữ âm và ngừ
nghĩa lời nói, test màu sắc Stroop, RAVL, thực
hiện Test Line Orientation và những cải thiện trong
Test Trail-Marking B và thang điểm MOCI. Sự
suy giảm về sự trôi
chảy lời nói và
tốc độ gọi tên (được đo bằng
test màu sắc Stroop) th́ tương tự kết qủa
đă được báo cáo của 2 nhóm khác thực
hiện đánh giá tâm thần kinh ở những bệnh
nhân trải qua STN-DBS. Bởi v́
sự mất độ
trôi chảy về ngữ âm và ngữ nghĩa của
lời nói cũng được thấy sau mở cùng
cầu nhạt và kích thích GPi, nên việc giảm sự
trôi chảy của lời nói được coi như là
tác dụng phụ của tất cả các phương pháp
điều trị ngoại khoa hiện nay. Phân
tích ANOVA chứng tỏ giảm khả năng học sau
phẫu thuật cũng như đường biểu
diễn trong RAVL. Trái ngược lại, trí nhớ
tức th́ và sự nhận biết không có sự thay
đổi. Sự suy giảm việc học lời nói có
thể do giảm khả năng thâu nhận thông tin. Cũng
dùng test tương tự, Crowe và cộng sự cũng cho
kết qủa tương tự ở nhóm 13 bệnh nhân
sau mở cầu nhạt bên trái, Mc Carter và cộng sự
đă báo cáo rằng những tổn thương nhỏ dưới
nhân dưới thị bên trái cũng có thể gây ra
sự suy giảm việc học lời. Bằng việc dùng
những test khác, sự khiếm
khuyết trong nhớ lời cũng được quan sát
ở bẹnh nhân PD sau mở vùng cầu nhạt bên trái,
kích thích GPi 2 bên và STN- DBS. Tất cả các phương
pháp ngoại khoa ảnh hưởng bên trái hoặc cả
hai bán cầu dường như không ảnh hưởng lên
độ trôi chảy lời nói. V́ phương pháp
mở cầu nhạt, kích thích GPi, mở vùng dưới
đồi và STN-DBS gây ra những thay đổi chức năng
của GPi và đồi thị, và bởi v́ những
bệnh nhân này liên quan đến qúa tŕnh nhớ (như
trí nhớ phối hợp) có thể gây ra những thay
đổi khả năng học. Chúng tôi nhận thấy
sự suy giảm trong thực hiện Test Line Orientation. Các
nghiên cứu trước lại nhận thấy có sự
cải thiện khi thực hiện test này sau khi mở vùng
cầu nhạt. Bởi v́ đây là điều tra đầu
tiên với những kiến thức của chúng tôi về
ảnh hưởng của STN-BDS
lên chức năng không gian thiï giác do đó cần
những nghiên cứu xa hơn về vấn đề này. Các
bệnh nhân của chúng tôi có cải thiện trong
thực hiện Test Trail – Marking B sau phẫu thuật,
gợi ư những ảnh hưởng dương tính chuyên
biệt trên phần lưng bên vùng vỏ trước thùy
trán. Phát hiện này phù hợp với những kết
qủa trong các báo cáo khác ở bệnh nhân PD sau STN-DBS, kích
thích GPi và mở vùng cầu nhạt. Thay đổi dương
tính trong Trail Marking B Test có thể giải thích sự
cải thiện kịch tính của vận động.Tuy
nhiên, cải thiện sau phẫu thuật trong thực hành
Trail Marking B Test đă không liên quan một cách
thống kê với sự cải thiện vận động,
chúng tôi cũng không thấy sự thay đổi nào trong
thực hành Trail-Marking A Test, mà nó tương tự thành
phần vận động. Trong
nghiên cứu hiện nay STN-DBS cải thiện nét ám
ảnh bắt buộc. Những ảnh hưởng lên nét
ám ảnh bắt buộc sau STN-BDS th́ tương tự như
những nghiên cứu trước sau khi mở vùng cầu
nhạt. Một số phương pháp phẫu thuật
ảnh hưởng ṿng hạch nên vùng ŕa trán đă
được báo cáo có hiệu qủa trong rối
loạn ám ảnh bắt buộc tự phát. Những thay
đổi này trong thang điểm ám ảnh bắt
buộc tự phát gợi ư rằng nhân đồi thị
có thể ảnh hưởng ṿng ŕa như gợi ư
của Alexander và cộng sự. Đánh giá tâm thần
kinh th́ tương tự và
nhóm bệnh nhân trong nghiên cứu hiện nay có thể so sánh
với bệnh nhân mở vùng cầu nhạt trong nghiên
cứu trước đă được báo cáo. Do sau
mở vùng cầu nhạt có sự suy giảm trong sự
trôi chảy ngữ âm lời nói và cải thiện trong
thực hành Trail Marking B Test, MOCI và Line Orientation Test, STN-DBS dường
như gây ra nhiều thay đổi liên quan đến
nhận thức hơn mở vùng cầu nhạt. Điều
này có thể do yếu tố ảnh hưởng kích thích
điện vùng dưới đồi là 2 bên trong khi
mở vùng cầu nhạt là 1 bên. So sánh 42 bệnh nhân
trải qua STN-DBS với 9 bệnh nhân mở cầu
nhạt, Tre’panier và cộng sự nhận thấy
nhiều ảnh hưởng bất lợi hơn sau STN-DBS. Trong
các nghiên cứu trước, việc ảnh hưởng
của nhận thức sau mở cầu nhạt và STN-DBS
được thực hiện trên những bệnh nhân
đang dùng thuốc. Trong nghiên cứu này, đánh giá tâm
thần kinh được thực hiện trên những
bệïnh nhân đă ngưng thuốc để giảm
thiểu tối đa ảnh hưởng thay đổi
của Levodopa, bởi v́ sau STN-DBS ĺêu thuốc được
giảm một cách mạnh mẽ hoặc bị loại
bỏ. Trên phương diện này ảnh hưởng
của Levodopa lên nhận thức đă được
loại bỏ tối đa. KẾT
LUẬN
Kết qủa của chúng tôi ủng hộ hơn nữa những nghiên cứu trước ghi nhận rằng STN-DBS không gây những suy giảm quan trọng tâm thần kinh. Tuy nhiên, sự suy giảm trung b́nh trong nhớ lời và chức năng thùy trán trước, không gian thị giác và cải thiện trong nhiện vụ thùy trán trước và nét ám ảnh bắt buộc có thể gây biến chứng lâm sàng ở một vài bệnh nhân mà ở họ sự biến đổi ranh giới trước phẫu thuật ở những vùng nhận thức tồn tại. Những nghiên cứu xa hơn để xác định sự cải thiện vận động tối đa với sự thay đổi tâm thần kinh tối thiểu trong STN-DBS như thế nào là rất cần thiết.
|
|
|