|
|
THƯƠNG
TỔN CỦA HẠNH NỀN VÀ ĐIỀU TRỊ
NGOẠI KHOA Ở BỆNH PARKINSON
Jose
A.Obeso: Lesion of the Basal Ganglia and Surgery for Parkinson Disease. Arch
Neurol / vol 58,July 2001, page1165-1166 Người
dịch: Bs Nguyễn Thanh Việt Chúng
tôi rất thích thú đọc bài tạp chí của Dr. Lang
về những phương pháp điều trị
ngoại khoa ở bệnh Parkinson (PD) và đồng ư
với kết luận tổng quan của ông nêu ra
những giới hạn của những tài liệu
hiện có và những thử nghiệm lâm sàng thiếu
sự kiểm chứng tốt và đă đưa ra
những minh hoạ rơ ràng về hiệu quả điều
trị của phương pháp phẫu thuật đang dùng
hiện nay ở PD. Tuy nhiên chúng tôi muốn bàn luận
về kết luận cuối cùng của ông, đó là
những thương tổn ở vùng hạch nền có
thể làm giảm khả năng đáp ứng với
những liệu pháp phục hồi mà những biện pháp
này sẽ trở nên có giá trị trong thời gian tới.
Đây là mối quan tâm cơ bản đối với
những bệnh nhân trẻ, mà họ là những
ứng cử viên tốt nhất được thử
nghiệm trong những phương pháp điều trị
ngoại khoa. Tuy nhiên chúng tôi nghĩ mối quan tâm mang tính
lư thuyết này không được ủng hộ
bằng những tài liệu sẵn có cùng với
kinh nghiệm của chúng tôi. Trước phẫu
thuật, lợi ích của bệnh nhân từ việc
cấy ghép tế bào dopaminergic hoặc bất kỳ phương
pháp điều trị ngoại khoa nào ở bệnh nhân
PD, đều được tiên đoán chính xác bằng
khả năng đáp ứng của bệnh nhân đối
với levodopa. Thật vậy, test levodopa được
sử dụng rộng răi như là một phần trong chương
tŕnh đánh giá Core đối với việc cấy ghép
trong sọ. Đáp ứng kém hoặc không đáp ứng
với levodopa thường đi
kèm với thất bại trong
việc cải thiện sau khi ghép tế bào dopamine, kỹ
thuật mở cầu nhạt, kích thích nhân dưới đồi. Các đánh giá sau
phẫu thuật, những bệnh nhân đă được
mở cầu nhạt một bên duy tŕ đáp ứng
với levodopa ở cả bên thương tổn và không
thương tổn. Những bệnh nhân được kích
thích nhân dưới đồi hai bên cũng duy tŕ đáp
ứng mạnh với levodopa. Hơn
5 năm qua, chúng tôi đă tiến hành nghiên cứu thí
điểm hiệu quả của việc mở vùng dưới
đồi một bên và gần đây hơn là kỹ
thuật mởcả hai bên ở bệnh PD. Chúng tôi
nhận thấy rằng ở cả hai trường
hợp việc đáp ứng với levolopa đều không
giảm bởi những tổn thương này. Một ví
dụ đáng chú ư là một bệnh nhân 62 tuổi, sau
phẫu thuật 7 ngày đă bị nhồi máu lớn ngay
sát thương tổn và ảnh hưởng tới toàn
bộ vùng dưới đồi và nhân bụng đồi
thị. Tiếp theo là một sự kiện thứ 2,
một bệnh nhân bị rối loạn vận động
nghiêm trọng đă chỉ cải thiên được sau khi mổ cầu nhạt cùng bên một năm
sau. Tại thời điểm báo cáo này, cộng hưởng
từ đă cho thấy một thương tổn rộng
(như là kết quả của hai phương pháp
ngoại khoa cộng với đột quỵ) mà ảnh hưởng
tới vùng chất xám, nhân dưới đồi, vùng
incerta, đồi thị trước và cầu nhạt. Năm
năm sau mở vùng dưới đồi lần đầu
và 4 năm sau mở cầu nhạt, trong t́nh trạng
tắt (“ off”), những
dấu hiệu của hội chứng Parkinson phần
lớn chiếm ưu thế bên tương ứng với
bên bán cầu không bị tổn thương , ngay cả
việc giảm vận động trung b́nh vẫn c̣n dai
dẳng bên tương ứng với thương tổn
(Unified Parkinson Disease Rating Scale motor subscale score, 57 ). Điều
trị tiếp theo sau với levodopa uống (100mg) và
benserazide (25mg) đă cho thấy có sự cải thiện
về vận động( Unified Parkinson Disease Rating Scale motor
subscale score, 29 ), bao gồm giảm vận động bên tương
ứng với thương tổn. Bệnh nhân này v́
vậy tiếp tục biểu lộ nhậy cảm trung b́nh
với levodopa mặc dù có sự phá huỷ lớn vùng
đi ra của hạch nền. Kết quả dự
hậu của trường
hợp kịch tính này đă ủng hộ quan điểm
rằng những phương pháp phẫu thuật mới hơn
ở hạch nền đối với bệnh nhân Parkinson
không chắc làm giảm hiệu quả giả định
từ phương pháp phẫu thuật dự kiến
hồi phục hoạt động tế bào thể
vận động. Nguyên
nhân tại sao những tổn thương nghiêm trọng này
làm giảm đáp ứng với dopaminergic ở
những hiệu ứng chống Parkinson
không được biết rơ ràng, nhưng có thể liên quan đến
bằng chứng mới đây gợi ư ra rằng đáp
ứng này có thể làm liên quan một phần ở
những vị trí ngoài thể vân như cầu nhạt,
chất xám, thể lưới và STN. Mặc dù những
bệnh nhân này có thể thực sự bị loại
trừ ở những phương pháp ngoại
khoa trong những thử nghiệm trong tương lai, như
đề xuất của Dr Lang, chúng tôi nghĩ rằng
mối quan tâm của ông về giới hạn có thể có
của những thương tổn này
trong những phẫu thuật ngoại khoa tiếp theo
là lư thuyết và không được ủng hộ
bằng những bằng chứng
kinh nghiệm có giá trị. Những yếu tố chính
vẫn xác minh thành công của phẫu thuật ngoại
khoa ở hiệu ứng chống Parkinson là việc lựa
chọn bệnh nhân đầy
đủ và kỹ
thuật phẫu thuật thích hợp. Sự giảm
kiểm soát ở những thay đổi có thể
giải thích phần lớn trường hợp ít có
hiệu qủa sau khi phẫu thuật.
THƯ
HỒI ÂM
Tôi
cảm ơn bác sỹ Obeso và các cộng sự của ông
về sự quan tâm đến bài báo của tôi và
lời b́nh luận liên quan đến mối quan tâm
của tôi về thương tổn trước của
GPi có thể gây hiệu quả bất lợi trong việc
đáp ứng với sự phục hồi phân bổ dây
thần kinh tiếp theo sau đó hoặc những phương
pháp phục hồi trong bệnh
Parkinson. Họ chỉ ra rằng đáp ứng với
levodopa trước phẫu thuật có thể tiên
đoán được hiệu quả của phẫu
thuật chức năng. Mặc dù vậy, theo như
họ mô tả bệnh nhân được mở cầu
nhạt một bên duy tŕ đáp ứng với levodopa bên
tổn thương, sự biến đổi trong đáp
ứng này cũng được mô tả. Thú vị hơn
nữa, họ trích dẫn kinh nghiệm mở cầu
nhạt lâu dài của chúng
tôi để ủng hộ luận cứ của họ,
trong khi đó chúng tôi nhận thấy rằng kỹ
thuật mổ cầu nhạt cải thiện dấu
hiệu giai đoạn “ off” của PD và t́nh trạng
giảm vận động có thể đáp ứng kém hơn
với levodopa. Một nghiên cứu tiếp theo ở
những bệnh nhân này cho thấy rằng kỹ thuật
mở cầu nhạt đă không có đáp ứng với
dopaminergic cũng như đánh giá bởi công việc
phối hợp vận động. Điện thế
tiềm trong kích thích năo với cường độ cao
được đặt ở nhân bụng – một
phần lớn của GPi làm tắc nghẽn những
hiệu quả anti-akinetic (Chống bất động )
của levodopa cũng gây ra những mối quan tâm tương
tự.
|
|
|