|
|
PHẪU THUẬT Ở BỆNH
PARKINSON VÀ CÁC RỐI LOẠN VẬN ĐỘNG KHÁC
Những
lợi ích và các giới hạn của phẫu thuật
cắt bỏ, kích thích, bảo tồn và phóng xạ.
Joseph
Jankovic, MD: Surgery For Parkinson Disease And Other Movement Disorder. Arch
Neurol/ vol 58 Dec 2001 p1970-1071. Người
dịch: Bs Nguyễn Thanh Việt Mối quan tâm
trong điều trị ngoại khoa ở bệnh Parkinson
(PD), run vô căn (ET) và các
rối loạn vận động khác lại được
hâm nóng lên do hiểu biết hơn về chức năng
giải phẫu của hạch nền và các thành phần
liên quan đến chúng và do cải tiến về phương pháp và các
kỹ thuật trong phẫu thuật thần kinh, sinh lư
thần kinh, h́nh ảnh học thần kinh và từ các
biến chứng nảy sinh ra ở các phương pháp
điều trị cổ điển. Việc lựa
chọn điều trị ngoại khoa ở bệnh
Parkinson gia tăng và thái độ của các nhà lâm sàng hướng
bệnh nhân về phương pháp điều trị
ngoại cũng đang thay đổi. Trong một cuộc
điều tra, có 94,3% các nhà thần kinh học hướng
bệnh nhân PD điều trị ngoại. Bên cạnh
phẫu thuật cắt bỏ dây thần kinh ngoại biên
được dùng điều
trị chủ yếu ở những bệnh nhân loạn trương
lực cơ (focal dys tonia) khó trị, 4 phương pháp
chủ yếu hiện nay dùng để điều trị
PD, ET, và các rối loạn vận động khác là: (1)
phương pháp công cụ như mở vùng đồi
thị, mở cầu nhạt, mở vùng dưới đồi. (2)
Kích thích năo (DBS) (3)
Cố gắng sửa chữa mô thoái hoá bằng ghép
năo (4)
Xạ trị theo tiêu điểm bằng dao gamma (GK) Hiện nay người ta
rất nhiệt t́nh hăng hái điều trị ngoại
do có nhiều báo cáo về lợi ích của các phương
pháp công cụ stereotatic và DBS với các điện
cực đặt ở các nhân đích khác nhau chủ
yếu ở các nhân bụng giữa của đồi
thị, phần trong cầu nhạt (GPi) và nhân dưới
đồi. Cơ sở hợp lư cho thương tổn
hoặc kích thích GPi và STN với kích thích tần số
cao một phần dựa vào sự quan sát 2 nhân này đă tăng động ở mô h́nh
động vật có hội chứng Parkinson và ở
bệnh nhân PD. Tuy nhiên Levodopa là gây ra loạn vận động,
một giới hạn chủ yếu của liệu pháp
Levodopa,thường đi kèm việc làm giảm hơn là
gia tăng tần suất đốt cháy của các neuron
GPi. Một giải thích cho sự cải thiện rơ các
đặc điểm của hội chứng Parkinson và
loạn vận động do levodopa sau STN và cắt
bỏ GPi hoặc kích thích (các phương pháp này đều
có chung tác động là tổn thương)
là những phương pháp này gây phá vỡ
đường đi của nhân tời phần bụng lưng
đồi thị và phục hồi lại mối liên quan
về chức năng b́nh thường của đường
đi vỏ năo- đồi thị – tuỷ sống.
Một thuận lợi căn bản của mở vùng dưới
so với mở vùng cầu nhạt là mở vùng cầu
nhạt làcó thể có tác dụng bất lợi với các
đáp ứng tiếp theo đối với levodopa,DBS,
hoặc các phương pháp bảo tồn khác bởi v́
chúng phụ thuộc vào chức năng đường
đi ra của nhân b́nh thường. Mặc dầu
cắt bỏ GPi, DBS cho thấy có sự căi thiện các
triệu chứng đi kèm PD như run cơ, giảm
vận động, cứng cơ thậm chí cả dáng
đi và sự cân bằng, nhưng tác động mạnh
mẽ nhất của các phương pháp này là lên levodopa
–gây loạn vận động. Do đó những kỹ
thuật này cũng được dùng để điều
trị tăng động cũng như loạn trương
lực, chứng múa giật, múa vung và tics đi kèm
với hội chứng Tourrette. Mặc dầu chưa có
hiều biết rơ ràng về cơ chế của những
can thiệp ngoại khoa khác nhau và có ít dữ liệu
từ các thử nghiệm có kiểm chứng lâm sàng
đúng đắn để ủng hộ những yêu
cầu về tính an toàn và hiệu quả của những
phương pháp điều
trị ngoại khoa ngày càng tăng ở những bệnh
nhân Parkinson và các rối loạn vận động khác.một
vài nghiên cứu đă so sánh một cách khách quan các
kỹ thuật nhằm xác định những tiêu
chuẩn lựa chọn bệnh nhân tốt nhất, phương
pháp phù hợp nhất và chưa có những nghiên cứu
kiểm chứng ngẫu nhiên so sánh phương pháp điều
trị ngoại với phương
pháp điều trị nội khoa tốt nhất. Có
lẽ lợi thế lớn nhất của DBS so sánh
với phương pháp cắt bỏ là DBS ít hoặc không
gây tổn thương cho năo và các tham số kích thích
điều chỉnh được theo các yêu cầu
của bệnh nhân. Schuurman và cộng sự đă
tiến hành một nghiên cứu tiền cứu ngẫu nhiên
trên 68 bệnh nhân PD,18 bệnh nhân ET và 10 bệnh nhân xơ cột bênđược
chọn ngẫu nhiên điều trị kích thích sâu vùng
đồi thị hay mở vùng đồi thị. Họ
nhận thấy rằng các chức năng cải thiện
nhiều hơn ở nhóm được điều
trị DBS hơn nhóm được điều trị
mở đồi thị: Run khỏi hẳn hoặc gần
như khỏi hẳn ở 30 bệnh nhân ( 90,9%) trong 33
bệnh nhân điều trị DBS và 27 (79,4% ) ở 34
bệnh nhân điều trị mở đồi thị.
Mặc dầu có một bệnh nhân trong nhóm điều
trị DBS đă chết sau một xuất huyết nội
sọ, DBS thường ít có biến chứng hơn sau
mở đồi thị. Trong một
nghiên cứu tiến cứu mù đôi đa trung tâm
thực hiện ở 143 bệnh nhân có PD tiến
triển, được kích thích 2 bên với tần
số cao vùng dưới đồi và GPi, theo thang điểm
UPDRS (Unified Parkinson Disease Rating Scale), điểm số
cải thiện mỗi kỹ thuật là 49% và 37% (P<
0.001) so với không được kích thích. Hơn thế
nữa, 6 tháng sau tại vị trí điện cực kích
thích, tỉ lệ % thời gian bệnh nhân không bị
loạn vận động ở từng kỹ thuật
STN& GPi DBS gia tăng từ 27% đến 74% và 28% đến
64% (P<0.001) được so sánh với trước khi
điều trị. Tác dụng phụ gồm: xuất
huyết nội sọ ở 7 bệnh nhân và lạc
chỗ điện cực ở 2 bệnh nhân. Trong khi
liều levodopa vẫn không thay đổi ở nhóm
GPi,liều levodopa tương đương hàng ngày
giảm xuống 37% ở nhóm STN DBS (P<0.001). Bên cạnh
những thử nghiệm có kiểm chứng này, rất
nhiều những nghiên cứu mở cubg cấp thêm các
bằng chứng rằng DBS là biện pháp điều
trị hiệu quả không chỉ cho PD, ET mà c̣n cho
nhiều loại rối loạn vận động khác.
Freed và cộng sự đă báo cáo những kết quả
thử nghiệm mù đôi đầu tiên có kiểm
chứng ghép mô bào thai ở bệnh nhân PD tiến
triển. 40 bệnh nhân được chia thành nhóm
tuổi <60 và >60 được lựa chọn
ngẫu nhiên điều
trị phẫu thuật: đưa 4 trung năo bào thai vào năo
qua 4 lỗ khoan ở bèo nhạt từ trái sang phải,
hoặc phẫu thuật giả vờ (4 lỗ khoan ở
trán nhưng không xuyên thủng màng cứng). Một năm
sau những bệnh nhân được phẫu thuật
giả vờ được lựa chọn phẫu
thuật cấy ghép và sau đó được tiến hành
1 open-label maner (nói ra sụ thật) có tất cả 33
bệnh nhân được nhận
một mảnh ghép. Nói chung không có sự khác biệt
về kết quả ban đầu giữa các bệnh nhân
đă được ghép và những bệnh nhân phẫu
thuật giả vờø, tỉ lệ chung toàn bộ
bệnh nhân (từ -3PD xấu đi + 3PD cải thiện rơ).
Tuy nhiên có sự cải thiện đáng kể về
giảm vận động và cứng cơ nhưng chỉ
ở nhửng bệnh nhân trẻ < 60 tuổi .Không có
sự cải thiện trong cứng đờ và dao động
vận động và dáng đi th́ thực sự xấu
hơn. Mặc dầu có rất nhiều tác dụng
phụ ở nhóm được cáy ghép mà những tác
dụng phụ này không phải là do phẫu thuật. Có
ảnh hưởng đáng kể của placebo mà thỉnh
thoảng kéo dài cả năm. Trong 20 bệnh nhân được
cấy ghép , 17 bệnh nhân có biểu hiện mọc qúa
nhanh các sợi từ mô ghép được xác định
bằng chụp Scanner
cắt lớp phóng xạ bằng
[18 F]- fluorodopa positron.,nhưng
không có sự tương ứng giữa kết
qủa và thang điểm UPDRS. Quan trọng nhất 5
bệnh nhân cuối trong 33 bệnh nhân được ghép
có biểu hiện loạn vận động ngay cả
trong giai đoạn off và không sử dụng levodopa ( có
lẽ do sự giải phóng dopamine từ mô bào thai
cấy), sau đó 3 bệnh nhân được điều
trị thành công với GPi DBS.
Một vài nhà điều tra đă nhấn mạnh
rằng bên cạnh việc lựa chọn bệnh nhân thích
hợp, những kết qủa tối ưu
phụ thuộc vào việc định vị trí chính
xác những nhân đích
bằng các bản ghi sinh lư cẩn thận. Mặc dù các
nghiên cứu có kiểm chứng so sánh kết qủa
phẫu thuật stereotactic có hoặc không có
những bản ghi sinh lư đă không được
thực hiện, nhưng có một điều lưu tâm
rằng vị trí của thương
tổn hoặc điện cực kích thích không được
định vị bằng vi điện cựu ghi th́ không
chính xác và có thể kết qủa không tối ưu mà c̣n
có nguy cơ cao gây các biến chứng cho cấu trúc
kế cận tổn thương.Những bản ghi sinh lư
cho phép định vị những dấu hiệu
về neuron khác nhau do ghi lại đường đi
của điện cực theo đường dẫn qua
cấu trúc dưới vỏ. Ơû PD những tế bào
phóng điện hàng loạt và có hoạt động
điện tần số thấp thường bị gián
đoạn th́ là những tế bào đặc trưng cho
cầu nhạt phần ngoài, trong khi sự phóng điện
bất thường ở tần số cao 60 – 130 Hz ghi
nhận là GPi. Các neurons trong GPi có thể thay đổi
nhịp phóng điện trong khi cử động các
khớp khác nhau của chi. Các thử nghiệm này hoặc
các thử nghiệm khác được dùng để
vẽ bản đồ GPi. Điều này đặc
biệt quan trọng để xác định ranh giới
phần bụng của GPi và ống thị giác kế
cận, và nó chỉ có thể được định
vị ở khoảng cách 2-3mm so với tế bào đích
được nhắm tới. Kích thích qua vi điện
cực có thể luận ra hiện tượng thị giác
và điều này rất hữu ích giúp nhận ra ống
thị giác. Bản đồ đ̣i hỏi phải có
một vài đường đi trước khi định
vị tổn thương
cuối cùng được xác định. Do sự lưu
tâm này, một bài báo về các biến chứng của
phẫu thuật dùng dao
gamma trong tạp chí Archies đă ra đời thật đúng
lúc. Okun và cộng sự đă mô tả 8 bệnh nhân PD
trong thời gian nghiên cứu 6 tháng , các bệnh nhân đều
được điều trị
phẫu thuật lưỡi dao gamma đă có biến
chứng nghiêm trọng,một bệnh nhân chết
v́ viêm phổi hít thứ phát do chứng
nuốt khó .Các biến chứng khác bao gồn liệt
½ ngưới, bán manh (hemianopsia), yếu chi, khiếm
khuyết về giọng nói và lời nói, giảm cảm
giác, cười không kiểm soát. Những tác giả này
kết luận rằng những biến chứng này liên
quan đến sự nhầm lẫn cơ quan đích
được hướng tới và là hậu qủa của sự ảnh hưởng
các cấu trúc gần kề. Một vài vấn đề
có liên quan đến các ảnh hưởng muộn
của hoại tử phóng xạ mà có thể đă không
được đánh giá đứng đắn đầy
đủ trong những báo cáo trước trong phẫu
thuật dùng lưỡi dao gamma. Bởi v́ nghiên cứu
chỉ trên một số ít bệnh nhân được
điều trị băøng kỹ thuật này nên các
biến chứng thường xuyên liên quan đến GK không
được biết rơ. Tuy nhiên, nghiên cứu đă gây
sự chú ư rằng phương pháp này được coi
là an toàn hơn những điều trị ngoại khoa
truyền thống đ̣i hỏi phải xuyên qua sọ và
nhu mô năo bằng thương tổn hoặc điện
cực kích thích, có thể đi kèm những
biến chứng nghiêm trọng. Những hậu qủa này
cần phải được giải thích một cách
cẩn thận. Đây không phải là nghiên cứu có
kiểm chứng ở những bệnh nhân được
ngẫu nhiên điều trị GK hoặc kỹ thuật
cắt bỏ hoặc DBS. Mặc dầu vậy, báo cáo
của Okun và côïng sự đă đưa ra 2 giới
hạn chủ yếu của phẫu thuật GK trong điều
trị những rối loạn vận động: 1/ Nó không cho phép các vi
điện cực ghi vào để xác định các
vị trí của cơ quan đích 2/ Nó thường đi kèm
biến chứng muộn hoặc ngay lập tức với
tần xuất cao không chấp nhận được.
Mặc dầu 8 trường hợp này và những báo cáo
điều trị với GK không có kết qủa gây lo
sợ. Ơû một vài trung tâm phương pháp này đă
được áp dụng thành công mà không có biến
chứng nghiêm trọng trong điều trị đau dây
thần kinh sinh ba và những hội chứng đau khó
chữa khác,rối loạn bắt buộc ám ảnh , run vô
căn và run cơ khi hoạt động đi kèm với sơ
rải rác , PD và nhũng rối loạt hoạt động
khác. Có lẽ liều 10.000-20.000 rad (100-200 Gy) dùng trong nghiên
cứu của Okun và cộng sự là cao qúa chăng? Có
lẽ biến chứng sẽ giảm trong tương lai
nếu khi ống chuẩn 2mm được phát triển
chăng? Có cách nào để tiên đoán những bệnh
nhân sẽ khởi phát các biến chứng chậm chăng?
Liệu những bệnh nhân đặc biệt ít có
chỉ định điều trị phẫu thuật xâm
lấn như tuổi già hoặc đang dùng liệu pháp
chống đông được hưởng điều
trị phẫu thuật phóng xạ dùng dao gamma. Những câu
hỏi này cần được trả lời trước
khi phẫu thuật lưỡi dao gamma có thể được
đề nghị như là một điều trị
ở PD và các rối loạn vận động liên quan.
|
|
|