THAM KHẢO THẦN KINH HỌC

Home Up Feedback Contents Search

 

horizontal rule

THƯỜNG THỨC VỀ BỆNH PARKINSON

PGS TS Nguyễn Hữu Công, Trường ĐH Y khoa Phạm Ngọc Thạch, TP Hồ Chí Minh

Trong gia đ́nh hoặc ở bà con lối xóm, đôi khi chúng ta gặp cụ già run tay, dáng lưng c̣ng, người cứng đờ chậm chạp. Được biết là gia đ́nh đă đưa đi khám bác sỹ chuyên khoa thần kinh, và được chẩn đóan là cụ bị bệnh Parkinson (người Việt thường đọc là pac-kinh-sơn). Vậy Parkinson là bệnh như thế nào và làm thế nào để nhận biết ra bệnh.

Khởi đầu, bệnh do một bác sỹ người Anh, tên là James Parkinson, phát hiện và mô tả vào năm 1817, từ đó ngưới ta lấy tên của ông để đặt cho căn bệnh này. V́ quan sát thấy bệnh nhân rất ít cử động, nên bác sỹ Parkinson mô tả nhầm là họ bị liệt. Và v́ vừa có “liệt”, lại vừa có run, nên ông gọi tên bệnh là “chứng liệt rung” (shaking palsy - paralysis agitans). Thực ra, bệnh nhân bị Parkinson không có liệt, sức mạnh của chân tay vẫn rất tốt, nhưng họ ít cử động quá, và chân tay có vẻ cứng đờ, làm cho dễ nhầm tưởng là bị liệt. Ngoài một nhầm lẫn nhỏ như vậy, những mô tả của bác sỹ Parkinson vẫn ḥan ṭan chính xác cho tới nay.

Nói đến Parkinson, là phải nói đến chứng Parkinson (parkinsonism) và bệnh Parkinson (Parkinson’s disease). Chứng Parkinson là một tập hợp các biểu hiện bất thường, bao gồm: run, giảm vận động, cứng đờ, kèm theo tư thế đứng và đi bất thường. Những biểu hiện bất thường như thế có thể thấy sau khi bị viêm năo, tai biến mạch máu năo, do dùng thuốc điều trị tâm thần kéo dài, v.v. Tuy nhiên, dạng thường gặp nhất của chứng Parkinson là bệnh Parkinson, là dạng bệnh tự phát, do thoái hóa bên trong hệ thần kinh, không do căn nguyên nào gây nên.

CÁC DẤU HIỆU CỦA BỆNH PARKINSON

Biểu hiện của chứng Parkinson và bệnh Parkinson đều là run, cứng đờ và giảm vận động.

Run: run là dấu hiệu dễ thấy nhất của Parkinson, ta hay thấy người bệnh run rẩy các ngón tay theo một nhịp đều đặn, run tay rơ hơn nếu người bệnh đặt bàn tay nghỉ ngơi trên đùi, hay để yên tay trên mặt bàn. Nhưng khi họ đưa tay ra để cầm nắm hay làm một việc ǵ đó, th́ run lại giảm đi, thậm chí không c̣n run. Các bác sỹ gọi đó là chứng run khi nghỉ ngơi. Lúc mới mắc bệnh thường chỉ run một tay. Sau vài tháng, vài năm, sẽ bị run ở cả hai tay. Đôi khi động tác run trông rất giống như động tác đang vê điếu thuốc lá cuốn vậy. Cũng có người bị run môi hay run cằm.

Cứng đờ: bệnh nhân khó khăn trong các cử động, v́ các cơ bắp bị thường xuyên căng cứng. Dù người bệnh có cố gắng thư giăn cơ bắp tối đa, nhưng khi thầy thuốc t́m cách gấp duỗi tay hay chân của người bệnh, th́ vẫn thấy có sức cản rơ, giống như đang bẻ một thanh ch́ vậy.

Giảm vận động: người bệnh làm việc ǵ cũng rất chậm chạp, khi đi hai tay không vung vẩy như người b́nh thường mà lại khép sát vào thân ḿnh. Nét mặt trở nên đờ đẫn, ít biểu lộ t́nh cảm khi nói chuyện và rất ít khi chớp mắt.

Ngoài những biểu hiện như trên, ta thấy người bị bệnh Parkinson lưng c̣ng xuống khi đi và đứng. Bước chân của họ ngắn và dáng đi chúi ra trước. Khi đứng, bệnh nhân rất khó giữ vững tư thế và dễ bị té ngă.

Khi trong gia đ́nh của bạn có một người lớn tuổi bị run tay khi nghỉ, cử động chậm chạp và dáng vẻ cứng đờ, đừng nghĩ đó là chuyện tự nhiên của tuổi già. Hăy đưa người thân của bạn tới khám bác sỹ chuyên khoa thần kinh. Với những phương thuốc hợp lư, các bác sỹ có thể giúp cho người thân của bạn đỡ run và cử động nhanh nhẹn dễ dàng hơn.

Bệnh Parkinson nếu không được chẩn đóan và điều trị đúng, sẽ gây tàn phế cho người bệnh. Người ta đă thống kê là nếu không dùng thuốc, th́ 61% người bệnh sẽ bị tàn phế hoặc chết sau 5-9 năm, c̣n sau hơn 10 năm th́ tỷ lệ sẽ là hơn 80%. Nếu được dùng thuốc, ngoài việc chậm bị tàn phế, hầu hết bệnh nhân sẽ kéo dài được tuổi thọ.

ĐIỀU TRỊ BỆNH PARKINSON:

Người bị bệnh Parkinson, do cử động chậm chạp khó khăn, nên thường trở nên ỳ trệ hơn, điều đó lại làm cho bệnh tiến triển nhanh hơn nữa. V́ vậy khi bị bệnh, nên tập thể dục nhiều, càng vận động nhiều th́ bệnh càng đỡ nặng hơn.

Bệnh nhân nên ăn nhiều rau và trái cây để tránh táo bón. Không nên ăn kiêng thịt cá, nhưng đừng ăn quá nhiều một lúc, v́ các chất đạm trong thức ăn có thể làm giảm hấp thu thuốc chữa bệnh.

Các thuốc thông dụng được dùng tại Việt nam là: levodopa (tên thương mại Modopar, Sinemet), trihexyphenidyl (Artane), pramipexol (Sifrol).

Thuốc chủ chốt để điều trị Parkinson hiện nay là Levodopa. Thậm chí một trong những tiêu chuẩn chẩn đóan là bệnh nhân bị bệnh Parkinson, hay không phải là bị bệnh Parkinson, là xem thuốc Levodopa có hiệu quả điều trị đối với các biểu hiện bệnh hay không. Nếu đúng là bị bệnh Parkinson, th́ thuốc sẽ có tác dụng “thần hiệu”. Bệnh nhân sẽ đỡ run, đỡ cứng đờ, cử động nhanh nhẹn hơn. Giai đọan thuốc có tác dụng rất tốt như vậy, người ta gọi là giai đoạn “tuần trăng mật”. Giai đoạn này thường kéo dài vài năm. Về sau, sẽ phải tăng liều lượng thuốc th́ mới duy tŕ được tác dụng. Tuy nhiên nếu dùng liều cao và kéo dài th́ có thể có những tác dụng bất lợi về sau, do vậy thầy thuốc thường khuyên bệnh nhân đừng vội dùng thuốc này, và nếu đă dùng rồi th́ đừng vội vă tăng liều thuốc. Trong giai đọan đầu bị bệnh, nên sử dụng các thuốc không phải là levodopa, kiểu như Pramipexole để điều trị. Về sau, khi bệnh đă rơ hơn, phải dùng tới levodopa, th́ cũng vẫn phối hợp thêm với Pramipexole, để hạn chế bớt tác dụng phụ do levodopa gây ra.

Khi bệnh đă nặng, thuốc levodopa không c̣n công hiệu, và bệnh nhân không quá già và không có suy giảm trí nhớ nặng, cũng như không có các bệnh toàn thân nặng, th́ có thể xem xét điều trị bằng phẫu thuật. Có 2 kiểu phẫu thuật chữa bệnh Parkinson, là kiểu gây phá hủy một vài cấu trúc nhỏ trong năo, và kiểu đặt điện cực kích thích vào sâu bên trong năo. Tuy nhiên phẫu thuật này ở Việt Nam mới có những tiền lệ ban đầu, chưa được phổ biến. Bệnh nhân thường phải sang Mỹ hoặc Pháp, với chi phí 35-50 ngàn đô la. kết quả sau mổ có thể rất ngoạn mục. tuy nhiên, tỷ lệ các biến chứng của mổ là như bảng sau:

                                                STN (%)          GPi (%)

Biến đổi tâm tính và hành vi     18.4                 9.3

Nhiễm trùng                              2                      2.6

Chảy máu năo có triệu chứng     2                      4

Đặt điện cực lệch chỗ               1.7                   2

Rối loạn ngôn ngữ lời nói           1.5                   3.9

Nhồi máu năo                           0.2                   2.2

(STN: phương pháp kích thích nhân dưới đồi thị, GPi phương pháp kích thích cầu nhạt trong)

horizontal rule

HỎI ĐÁP VỀ BỆNH PARKINSON

Bệnh Parkinson là ǵ ?

Bệnh Parkison là một bệnh thần kinh do thoái hóa một nhóm tế bào ở trong năo, bệnh tăng tiến từ từ. Dấu hiệu hay gặp nhất là run tay. Ngoài ra c̣n có những khó khăn trong vận động.

Bệnh do một bác sĩ người Anh, sống ở London mô tả lần đầu tiên vào năm 1817. Ông tên là James Parkinson. Từ đó trở đi, người ta gọi bệnh này mang tên của ông.

Hiện nay trên thế giới có khoảng 6,3 triệu người mắc bệnh này. Bệnh xuất hiện ở mọi nơi trên thế giới. bệnh thường bắt đầu lúc đă trên 60 tuổi, tuy nhiên có khoảng 1/10 số bệnh nhân bị khởi bệnh trước 50 tuổi và rất hiếm khi có người khởi phát ở 30 tuổi.

Bệnh Parkinson gây trở ngại cho sinh hoạt và công việc hàng ngày của chúng ta, nhưng không phải là một bệnh nguy hiểm chết người. Bệnh tăng lên từ từ không ngừng, nhưng bằng cách dùng thuốc, đa số bệnh nhân vẫn duy tŕ được cuộc sống và công việc b́nh thường trong rất nhiều năm.

Bệnh Parkinson biểu hiện như thế nào ?

Những triệu chứng cơ bản của bệnh Parkinson là: run, cứng đờ, chậm vận động, và rối loạn giữ thăng bằng

1)      Run: là triệu chứng rất hay gặp, run có thể cả ở tay lẫn chân. Thường run sẽ rơ hơn khi để nghỉ ngơi. Ví dụ: khi bệnh nhân để 2 tay nghỉ trên đùi của ḿnh, và nói sang chuyện khác một lúc, th́ run các ngón tay sẽ rơ hơn và nhiều hơn. Khi bệnh nhân giơ tay cầm nắm một vật nào đó, th́ run lại giảm đi. V́ vậy, người ta bảo run của Parkinson là run khi nghỉ. Nó trái ngược với chứng run vô căn hoặc run của bệnh tiểu năo, khi đó run sẽ tăng lên rơ rệt nếu bệnh nhân cố gắng dùng tay để làm một việc ǵ đó. Tuy vậy, gần 15% bị bệnh Parkinson, trong suốt quá tŕnh bệnh của ḿnh, không bao giờ bị run cả.

2)      Cứng đờ các cơ bắp: bệnh nhân khó quay cổ, xoay người, đang ngồi trên ghế đứng dậy, trở ḿnh khi nằm trên giường. Khó làm những cử động khéo léo của các ngón tay. Nét mặt đờ đẫn, ít biểu lộ cảm xúc như người b́nh thường. Dáng người hơi c̣ng xuống.

3)      Chậm vận động: bệnh nhân rất khó khởi động các cử động của ḿnh, mọi việc đều làm rất chậm chạp ví dụ như: cài, mở khuy áo, xỏ giầy dép, cắt gọt trái cây. Chữ viết nhỏ dần lại và viết chậm.

4)      Rối loạn giữ thăng bằng: bệnh nhân ngồi vào ghế khó khăn, đứng dậy khỏi ghế khó khăn, xoay trở dễ bị té, khi đi dễ bị té.

5)      Các triệu chứng khác: giọng nói nhỏ và khó nghe, ít biểu lộ cảm xúc, rối loạn giấc ngủ, trầm cảm và lo âu, đau, mệt mỏi. Về sau có khó nuốt và rối loạn trí nhớ.

Làm sao để phát hiện sớm bệnh Parkinson ?

Thông thường biểu hiện sớm là chậm vận động ở một tay, rất hay thấy hiện tượng giảm vung vẩy tay bên đó khi đi bộ nhanh. Triệu chứng này hay kèm với đau ở vùng vai. Một số bệnh nhân lại bị triệu chứng đầu tiên là run khi nghỉ. Nói chung trong giai đoạn sớm của bệnh Parkinson điển h́nh, th́ các triệu chứng xảy ra ở một bên (phải hoặc trái) rất hiếm khi xảy ra cả hai bên cùng một lúc. Hăy cân nhắc xem có bị bệnh Parkinson không khi có một trong những biểu hiện sau đây:

-        Thay đổi biểu cảm của nét mặt (nh́n không chớp mắt, nh́n trừng trừng)

-        Giảm vung vẩy ở một cánh tay khi đi bộ

-        Dáng người hơi gù xuống

-        Cứng và đau vai

-        Đi kéo lết ở một bên chân

-        Cảm giác tê b́, kim châm, đau, hoặc khó chịu mơ hồ ở vùng gáy hoặc ở chân tay

-        Giọng nói trở nên nhỏ hơn

-        Cảm giác run ở bên trong cơ thể

Nếu đă phát hiện bị mắc bệnh Parkinson, th́ nên bắt đầu điều trị bằng thuốc, càng sớm càng tốt     

Nguyên nhân gây ra bệnh Parkinson là ǵ ?

Trong bệnh Parkinson, có một chất ở trong năo, gọi là dopamine, bị thiếu hụt. Đây là một chất dẫn truyền tín hiệu thần kinh từ tế bào này sang tế bào khác ở bên trong của năo, nó giúp cho tế bào năo chỉ huy và kiểm soát được các cử động của bắp thịt ở chân tay và ở mặt. Khi bị bệnh Parkinson, những tế bào sản sinh ra chất dopamine này bị suy thoái và chết dần. Điều này xảy ra ở một phần rất nhỏ của năo gọi là chất đen (substantia nigra). Khi thiếu chất dopamine, năo không chỉ huy vận động cơ bắp được như b́nh thường, gây ra các triệu chứng như nêu ở phần trước

Nhưng nguyên nhân tại sao các tế bào năo sản sinh ra dopamine lại bị thoái hóa và chết đi, th́ cho tới tận bây giờ khoa học vẫn chưa t́m ra được. Người ta nghĩ tới nhiều yếu tố gây bệnh khác nhau, như: do lớn tuổi, do di truyền, do các yếu tố của môi trường, thậm chí do virus. Cho đến nay cũng vẫn không biết được tại sao chỉ có một số người bị mắc bệnh Parkinson, c̣n những người khác th́ lại không bị.

Điều trị bệnh Parkinson như thế nào ?

Cho đến nay, y học hiện đại cũng vẫn chưa có cách nào để pḥng ngừa và chữa khỏi hẳn được bệnh Parkinson. Tuy nhiên, hiện nay có những thứ thuốc có thể làm giảm triệu chứng của bệnh rất tốt. Người ta khuyên nên phối hợp dùng thuốc với các biện pháp khác như: vật lư trị liệu, tập luyện thể dục, chế độ ăn thích hợp, … Một số bệnh nhân bị Parkinson có thể được điều trị bằng phương pháp phẫu thuật, ví dụ như phương pháp “kích thích năo sâu” (deep brain stimulation - DBS).

Các thuốc dùng để chữa Parkinson bao gồm các nhóm chính sau đây:

·  Các thuốc có chứa Levodopa: là những thuốc quan trọng nhất trong điều trị bệnh Parkinson. Thuốc cho hiệu quả rất tuyệt vời, nhưng sau một thời gian dùng thuốc thấy rất tốt (người ta gọi là “tuần trăng mật” của thuốc), th́ bắt đầu có những tác dụng phụ, sẽ tŕnh bày sau trong tài liệu này.

·  Thuốc đồng vận dopamine (dopamine agonists)

·  Thuốc ức chế men chuyển Cate-chol-O-methyl (Cate-chol-O-methyl transferase – COMT – inhibitors)

·  Thuốc ức chế men oxy hóa monoamine (Monoamine oxidase B – MAO-B – inhibitors)

Bệnh Parkinson biểu hiện ở mỗi người một khác nhau, v́ vậy không có một cách dùng thuốc duy nhất chung cho tất cả mọi bệnh nhân. Việc thăm khám theo định kỳ đều đặn ở bác sĩ chuyên khoa, để điều chỉnh liều lượng từng thuốc, cũng như phối hợp các kiểu thuốc với nhau, là rất cần thiết.

Tiến triển của bệnh Parkinson như thế nào ?

Bệnh Parkinson là một bệnh măn tính, tiến triển không ngừng, không chữa khỏi hẳn vĩnh viễn được, cũng giống như bệnh tiểu đường và cao huyết áp vậy. Tuy nhiên, bệnh tiến triển rất chậm chạp, có người từ nhẹ chuyển sang nặng mất vài chục năm, có người tiến triển nhanh hơn một chút.

Lúc mới bị bệnh, thông thường chỉ cần dùng thuốc uống. Sau nhiều năm bị bệnh, tùy theo mức độ nặng và đặc điểm của từng bệnh nhân, các bác sĩ có thể sẽ cho thêm thuốc tiêm chích, truyền thẳng vào dạ dày, hoặc cho đi phẫu thuật năo.

Một số vấn đề trong quá tŕnh điều trị bệnh:

1) Các vận động không chủ ư, c̣n gọi là loạn động (dyskinesias): sau một số năm (thường là từ 5 tới 10 năm) dùng thuốc để điều trị bệnh Parkinson, khoảng một nửa số bệnh nhân sẽ bị loạn động. Biểu hiện bao gồm co thắt cơ, xoắn vặn, những cử động bất chợt, không chủ ư, đôi khi rất mạnh. Các triệu chứng này có thể kéo dài hàng giờ, làm bệnh nhân bị mỏi cơ nhiều. Thông thường đây là biến chứng của việc dùng Levodopa kéo dài và liều cao. Do vậy trong giai đoạn đầu bị bệnh, không nên vội vă tăng liều lượng của các thuốc có chứa Levodopa, mặc dù khi tăng liều thuốc th́ bệnh nhân cảm thấy dễ chịu hơn nhiều. Trong giai đoạn muộn của bệnh, nếu bị chứng loạn động nặng, th́ có thể phẫu thuật kích thích năo sâu. Phẫu thuật này giúp giảm liều lượng thuốc cần dùng, và làm giảm các loạn động.

2) Hiện tượng “bật - tắt” (on – off): một số bệnh nhân bị bệnh Parkinson kéo dài, và dùng thuốc có chứa Levodopa, sẽ bị hiện tượng này. “Bật” có nghĩa là đang rất dễ dàng cử động, “Tắt” nghĩa là đột ngột không cử động được nữa. Hiện tượng “bật - tắt” nghĩa là bất th́nh ĺnh đang cử động được th́ bị cứng đờ không cử động được nữa. Giống như là bị “bật – tắt” công tắc điện vậy. Đây là do hiện tượng giao động đáp ứng đối với thuốc, không thể dự đoán trước được lúc nào xảy ra, và có thể kéo dài vài tiếng đồng hồ.

3) Một số rối loạn khác: bệnh nhân bị bệnh Parkinson có thể bị trầm cảm (khoảng 30 – 40% bệnh nhân), và thường xuyên cảm thấy mệt mỏi, điều này không liên quan ǵ đến thuốc cả. Một số cảm thấy suy nghĩ của ḿnh bị chậm chạp lại. Một số bệnh nhân bị chứng nh́n một hóa hai  hoặc nh́n mờ, triệu chứng này là do bản thân bệnh gây ra. Trong giai đoạn muộn của bệnh, nếu dùng các thuốc quá liều, có thể bị ảo giác thị giác. Khi ấy cần phải điều chỉnh lại thuốc và có thể cho thêm thuốc điều trị ảo giác. Bệnh Parkinson càng tiến triển, th́ chữ viết của bệnh nhân càng nhỏ dần lại. Tiếng nói nhỏ lại, trở nên khàn, lập bập, ngập ngừng, càng ngày càng trở nên khó nghe hơn. V́ nét mặt trở nên đờ đẫn và điệu bộ của cơ thể bị giảm sút và chậm chạp, nên khi giao tiếp trở nên khó khăn, dễ bị hiểu nhầm là vẫn chưa hiểu được chuyện hoặc hiểu nhầm là không có hứng thú với câu chuyện.

4) Rối loạn về t́nh dục: khi bệnh Parkinson phát triển, một số bệnh nhân bị rối loạn t́nh dục. Cả bệnh nhân nam lẫn bệnh nhân nữ đều cảm thấy giảm ham muốn t́nh dục và giảm sút khả năng hoạt động t́nh dục. Bệnh nhân nam th́ bị rối loạn cương, bệnh nhân nữ th́ rất khó đạt được cực khoái. Một số bệnh nhân sau khi dùng thuốc điều trị bệnh Parkinson th́ lại bị ngược lại, tăng hoạt động t́nh dục quá mức. Các bác sĩ khuyên bệnh nhân không nên mắc cỡ, và nên kể rơ với bác sĩ về những rối loạn t́nh dục của ḿnh.

Người trẻ bị bệnh Parkinson:

Nếu bệnh Parkinson khởi phát lúc chưa tới 50 tuổi hoặc thậm chí chưa tới 40 tuổi, th́ gọi là Parkinson khởi phát sớm. Người ta tính rằng có 10% bệnh nhân Parkinson khởi phát bệnh trước 45 tuổi

 Nếu khởi phát bệnh sớm trước 40 tuổi, th́ thường là có yếu tố di truyền. Tuy nhiên, người trẻ tuổi bị Parkinson th́ lại có quá tŕnh bệnh nhẹ hơn và tiến triển chậm hơn so với người già mới bị Parkinson. Người trẻ bị Parkinson th́ cũng ít bị mất trí nhớ, lẫn, rối loạn thăng bằng hơn so với những người già mới bị Parkinson. Ngược lại người trẻ bị Parkinson th́ lại hay bị rối loạn vận động do thuốc Levodopa hơn. V́ vậy, khởi đầu nên điều trị bệnh bằng các thuốc khác, tránh dùng Levodopa quá sớm.

Điều trị bệnh Parkinson trong giai đoạn muộn như thế nào ?

Sau khi bị bệnh và dùng thuốc khoảng độ 5 năm (“tuần trăng mật của thuốc”), khoảng 50% bệnh nhân già và 90% bệnh nhân khởi phát trẻ, sẽ bị hiện tượng bật – tắt và loạn động. Khi đó nên chia nhỏ liều của thuốc Levodopa, dùng thêm thuốc đồng vận Dopamine, thuốc ức chế MAO-B và ức chế COMT. Sau một số năm nữa, việc chỉ dùng thuốc uống sẽ không đáp ứng điều trị được cho khoảng 10 – 20% bệnh nhân bị Parkinson. Đối với những bệnh nhân này, có 4 phương pháp sau đây: tiêm dưới da apomorphine, truyền dưới da apomorphine, truyền hỗn hợp levodopa - carbidopa vào trong tá tràng, và phẫu thuật kích thích năo sâu (thường là vào nhân dưới đồi thị)

Những người nổi tiếng bị bệnh Parkinson ?

1)      Muhammad Ali (sinh năm 1942): là một vơ sĩ đấm bốc nổi tiếng nhất thế giới, người Mỹ.

2)      Giáo hoàng John Paul II (Gioan Phao Lô Đệ nhị, sinh năm 1920, mất năm 2005), triệu chứng đầu tiên được phát hiện là vào đầu năm 1991

Salvador Dali (sinh 1904, mất 1989), là một họa sĩ thuộc trường phái siêu thực, người Tây ban nha, nổi tiếng thế giới.

horizontal rule