|
|
Tổng
quan
Ư NGHĨA
CỦA PHÂN LOẠI QUỐC TẾ VỀ ĐỘNG KINH
TRONG
THỰC HÀNH THẦN KINH HỌC LÂM SÀNG
Lê Minh BS CKII, Giảng Viên Chính;
Bộ Môn Nội Thần Kinh (Thần Kinh Học), Trường
Đại Học Y Dược Tp HCM; Bộ Môn Nội
Thần Kinh (Thần Kinh Học), Trung Tâm Đào Tạo Và
Bồi Dưỡng Cán Bộ Y Tế Tp HCM.Tạp chí Y
Học TP. Hồ Chí Minh* Chuyên Đề Động Kinh -
Tập 6 -Phụ Bản Số 3 - 2002 Với
một tỷ lệ bệnh mới hàng năm dao động
trong khoảng từ 50 đến 120 cho mỗi 100000 dân,
động kinh đă và đang là một vấn đề
sức khoẻ thường gặp trong thực hành y khoa
thường ngày. Mỗi năm có khoảng 20 trong 100000
người bị một cơn “động kinh” duy
nhất, và suốt cả đời của những người
này chỉ có cơn độc nhất này mà thôi. Nguy cơ
để một cá nhân phát bệnh động kinh trong
cuộc đời của họ – nói cách khác là tỷ
lệ dồn của động kinh ở cá nhân này –
bằng trong khoảng 3 đến 5%. Tỷ lệ
bệnh mới của động kinh được ghi
nhận là cao nhất ở các lứa tuổi sau đây
gồm có lứa tuổi sơ sinh vàtrẻ nhỏ, và
lứa tuổi già. Tỷ lệ bệnh toàn bộ
của động kinh tương đối ổn định
trong các quần thể người sau lứa tuổi
thiếu nhi, tuy nhiên tỷ lệ này lại có xu hướng
tăng lên trong quần thể người lớn
tuổi. So với các nước phát triển, động
kinh được gặp nhiều hơn ở các nước
đang phát triển. ĐỊNH
NGHĨA
Cơn
động kinh Cơn
động kinh (Anh ngữ là epileptic seizure; Pháp ngữ là
épilepsie hay crise épileptique) là biểu lộ của một
phóng lực bất thường, quá mức và đồng
th́ của một nhóm các nơron của năo bộ. Các
biểu lộ lâm sàng của cơn mang tính chất
đột ngột, nhất thời và rất đa
dạng như triệu chứng vận động,
triệu chứng cảm giác, triệu chứng tâm
thần. Trong cơn, bệnh nhân có thể c̣n hay mất
ư thức. Đặc điểm của triệu
chứng trong cơn th́ bị quy định bởi vùng năo
bộ có nơron cho phóng lực bất thường, ví
dụ như co giật cục bộ nửa người
nếu ổ động kinh nằm ở vỏ năo
vận động đối bên. Cần lưu ư
rằng điện năo kư có thể phát hiện những
biểu lộ điện của các phóng lực bất
thường ở những người không hề có
biểu lộ lâm sàng của động kinh; quan điểm
thống nhất hiện nay không xem các trường
hợp đó là có cơn động kinh. Động
kinh Động
kinh (epilepsy; épilepsie) là thuật ngữ dùng để
chỉ một t́nh huống trong đó người
bệnh dễ bị đi bị lại nhiều cơn
động kinh. Trong thực hành thuật ngữ này
được sử dụng đến khi người
bệnh đă bị ít nhất là từ hai cơn động
kinh trở lên. NGUYÊN
LƯ CỦA VIỆC PHÂN LOẠI ĐỘNG KINH
Phân
loại động kinh là một nội dung quan trọng
trong hoạt động của các chuyên viên động
kinh học của nhiều quốc gia, được
bắt đầu thực hiện từ năm 1969, và
đă được xem xét bổ sung hết thảy 4
lần từ lúc đó đến nay. Để thực
hiện được công việc quan trọng này, Liên
Đoàn Quốc Tế Chống Động Kinh (International
League Against Epilepsy: ILAE) đă thành lập một uỷ
ban chuyên về phân loại động kinh. Việc phân
loại động kinh hữu ích ở chỗ cung
cấp những thuật ngữ thống nhất về
vấn đề, giúp nhận dạng các loại cơn
và hội chứng động kinh đặc hiệu trên
lâm sàng mà nhờ vào đó mới có thể đưa
ra được những phương thức điều
trị phù hợp và hữu hiệu, và cuối cùng
ở chỗ là kích thích sự nghiên cứu về nhóm
bệnh này. Trở ngại chính của việc phân
loại động kinh nằm ở chỗ động
kinh suy cho cùng chỉ là
triệu chứng chứ không phải là bệnh. Trong
thực tế nhận định này có khi không đúng
hoàn toàn v́ một số loại cơn như cơn
nhỏ hay cơn vắng ư thức lại được
xem là một hội chứng động kinh chuyên
biệt. Trở ngại khác nữa được
gặp trong việc đặt tên gọi loại
cơn có khi không phù hợp hoàn toàn với vị trí
của ổ động kinh mà ví dụ điển h́nh
ở đây là cơn động kinh thuỳ thái dương
trong đó ổ động kinh có thể nằm ở
thuỳ thái dương nhưng cũng có thể
được gặp ở các vị trí khác, ngoài
thuỳ thái dương; v́ lư do đó mà mà ngày này cơn
động kinh thuỳ thái dương được
goị tên là cơn cục bộ phức tạp. Sự
phân biệt giữa cơn cục bộ (partial seizure;
crise partielle hay épilepsie partielle) và cơn
toàn thể hoá (generalized seizure; crise généralisée hay épilepsie
généralisée) là một khái niệm cơ sở rất
có giá trị của động kinh học trong ứng
dụng lâm sàng mặc dù rằng trong thực tế
đôi khi có những t́nh huống đặc biệt như
cơn động kinh có ổ cục bộ nhưng
triệu chứng lan ra thành toàn thể qua nhanh khiến
việc nhận dạng trên lâm sàng ổ động kinh
này trở thành bất khả thi, hoặc như
những trường hợp cơn động kinh
toàn thể hoá có xuất phát điểm từ nhiều
ổ động kinh khác nhau. Khái
niệm về vị trí của ổ động kinh và
sự lan ra của cơn động kinh là một khía
cạnh quan trọng khác của việc phân loại động
kinh: ổ động kinh ở tại vùng nào của năo
bộ th́ biểu lộ lâm sàng sẽ tương
ứng với rối loạn chức năng của vùng
đó nhưng các phóng lực từ ổ động
kinh lan nhanh sang các vùng khác sẽ khiến các biểu
lộ lâm sàng thay đổi khác đi, có khi sự thay
đổi này xuất hiện qúa nhanh khiến người
ta không thể nhận dạng được triệu
chứng đầu tiên vốn là dấu ấn chính
hiệu của ổ động kinh có liên quan. Cơn
động kinh thuỳ thái dương
là một ví dụ minh hoạ điển h́nh cho khái
niệm này: phóng lực đầu tiên trong cơn động
kinh thuỳ thái dương cho bệnh nhân cảm giác “đă
thấy” (déjà vu) nhưng triệu chứng này bị
biến đổi ngay sau đó bởi sự lan nhanh
của các phóng lực bất thường trong thuỳ
thái dương gây ra những triệu chứng khác như
quên, mất ư thức, kế đó là sự lan nhanh
của phóng lực ra cả hai bán cầu mà biễu
lộ lâm sàng là cơn co cứng-co giật toàn thể
hoá. Trên lâm sàng của động kinh thuỳ thái dương,
có khi người ta chỉ ghi nhận được cơn
co cứng-có giật toàn thể hoá mà không phát hiện
được các triệu chứng khác của cơn
thuỳ thái dương là v́ sự lan ra rất nhanh và
chớp nhoáng của các phóng lực bất thường
đă nêu, và đó cũng chính là lư do giải thích
sự nhầm lẫn chẫn đoán giữa một cơn
co cứng-co giật toàn thể hoá với một cơn
cục bộ phức tạp. Trong phân loại động
kinh c̣n đề cập đến khái niệm động
kinh vô căn (idiopathic epilepsy; épilepsie idiopathique), động
kinh triệu chứng (symptomatic epilepsy; épilepsie symptomatique)
và động kinh nguyên nhân ẩn (cryptogenic epilepsy; épilepsie cryptogénique), vốn là
những khai niệm cũng không kém phần quan
trọng. Động kinh vô căn bao gồm những trường
hợp mà người ta chưa t́m được nguyên
nhân nên được xem là thuộc chung về một
nhóm thống nhất trong đó có vai tṛ của yếu
tố di truyền. Động kinh triệu chứng bao
gồm các trường hợp có nguyên nhân được
biết rơ trong đó có các yếu tố nguyên nhân
cấp tính như rối loạn chuyển hoá cấp, viêm
nhiễm, và các yếu tố nguyên nhân mạn tính như
u năo và các bệnh thoái hoá của hệ thần kinh
trung ương. Động kinh nguyên nhân ẩn là
những trường hợp mà người ta có nghĩ
đến một nguyên nhân giả định có liên
quan nhưng không xác minh được sự hiện
diện thật sự của nó trong hội chứng
động kinh đó. Yếu tố cuối cùng có
ảnh hưởng lên sự phân loại động kinh
là loại thăm ḍ cận lâm sàng cần thiết để
xác định chẩn đoán và phân loại. Trước
kia sự chẩn đoán và phân loại động kinh
dựa chủ yếu trên đặc điểm điện
năo kư (EEG), ngày nay th́ sự phân loại động kinh
dựa trên sự phối hợp EEG, chụp cắt
lớp điện toán (CT) và chụp h́nh cộng hưởng
từ (MRI); với MRI, nhiều bệnh nhân đă
được phân loại lại, từ chẩn đoán
là động kinh vô căn trở thành động kinh
triệu chứng. Mặc
dù chưa thể là hoàn chỉnh, hệ thống phân
loại động kinh của ILAE vẫn là hệ
thống có giá trị nhất và được sử
dụng trong ngành động kinh học quốc tế
hiện nay. Các phiên bản phân loại của ILAE các năm
1969 và 1981 đề cập đến hệ thống phân
loại các cơn động kinh, các phiên bản các năm
1985 và 1989 th́ đề cập đến hệ thống
phân loại các hội chứng động kinh. PHÂN
LOẠI CÁC CƠN ĐỘNG KINH
Hệ
thống phân loại các cơn động kinh của ILAE
dựa cơ sở duy nhất trên các biểu lộ lâm
sàng và EEG của các cơn, và hoàn toàn không căn
cứ trên các nguyên nhân, các cơ sở giải phẫu
bệnh học và sinh lư học của các cơn này. Theo cách
phân loại này, các cơn động kinh được
chia ra thành ba thể loại chính là cơn động
kinh cục bộ (partial seizures), cơn
động kinh toàn thể hoá (generalized seizures) và cơn
động kinh không phân loại (unclassified seizures).
Thể loại cơn động kinh cục bộ
lại được phân ra thành hai thể loại
phụ gồm có cơn động kinh cục bộ
đơn giản (simple partial seizures) và cơn động
kinh cục bộ phức
tạp (complex partial seizures). Thể loại cơn động
kinh toàn thể hoá lại được phân ra thành cơn
co giật (convulsive generalized seizures) và cơn không co
giật (nonconvulsive generalized
seizures). Đặc
điểm nhận dạng của các cơn động
kinh cục bộ đơn giản là không có biến
đổi ư thức trong cơn, trái ngược vớiø
cơn động kinh cục bộ phức tạp
vốn là loại cơn cục bộ có biến đổi
ư thức đi kèm trong đó người bệnh bị
rối loạn khả năng nhận thức và đáp
ứng đối với các kích thích ngoại lai. Các cơn
cục bộ phức tạp có ba thành phần gồm có
aura, rối loạn tri giác ư thức, và hành động
tự động. Cơn cục bộ đơn giản
có thể diễn tiến thành cơn cục bộ
phức tạp, và cả hai loại cơn cục bộ
đơn giản và phức tạp có thể diễn
tiến thành cơn toàn thể hoá thứ phát. Cơn
động kinh toàn thể hoá (nguyên phát) là những cơn
trong đó phóng lực động kinh ảnh hưởng
cùng một lúc những diện rộng của cả hai
bán cầu, và người ta không t́m thấy được
sự hiện diện của một ổ động
kinh nào cả trên cả hai phương diện vị trí
giải phẫu học hay bất thường chức năng.
Trong cơn toàn thể hoá nguyên phát, ư thức luôn luôn
bị rối loạn, vàtriệu chứng vận động
luôn luôn đối xứng cả hai bên. Đặc điểm
EEG của cơn toàn thể hoá nguyên phát là h́nh ảnh
của các phóng lực xuất hiện đồng th́ và
đối xứng ở cả hai bán cầu. Bảng 1 tŕnh bày
hệ thống phân loại cơn động kinh của
ILAE. PHÂN LOẠI CÁC HỘI CHỨNG
ĐỘNG KINH Như đă tŕnh bày
ở trên, ILAE đă đưa ra thêm về sau hệ
thống phân loại các hội chứng động kinh
(epileptic syndromes; sydromes épileptiques) vốn dựa căn
cứ trên các đặc trưng của từng hội
chứng về loại cơn, vị trí giải phẫu
học của tổn thương, đặc điểm
EEG, nguyên nhân và các đặc điểm khác có liên
quan. Với hệä thống phân loại này người
ta muốn phân biệt các loại hội chứng động
kinh (hay kêu gọn hơn là động kinh) dựa trên các
đặc điểm về tuổi tác, nguyên nhân có liên
quan, và thể loại cơn lâm sàng. Bảng
1. Phân Loại Quốc Tế Các Cơn Đông Kinh
Dựa Trên Đặc Điểm Lâm Sàng Và EEG (ILAE).4
Cơn
cục bộ (partial seizures)
Cơn cục bộ đơn giản (simple partial
seizures) Cơn
cục bộ phức tạp (complex partial seizures)
Cơn toàn thể hoá (generalized seizures)
cơn vắng ư thức (absence seizures)
Cơn nhỏ (petit mal)
Cơn giật cơ (myoclonic seizures)
Cơn co giật (clonic seizures)
Cơn co cứng (tonic seizures)
cơn mất trương lực (atonic
seizures) Cơn co cứng- co giật (tonic-clonic
seizures) Phân
loại hội chứng động kinh này có nêu lên
bốn nhóm chính gồm có các động kinh và hội chứng có liên quan vị trí, các
động kinh và hội chứng toàn thể hoá, các
động kinh và hội chứng không xác định
được là cục bộ hay toàn thể hoá, và các
hội chứng đặc biệt. Động kinh có liên
quan vị trí (location-related epilepsies; épilepsies liées à une
localisation) là thuật ngữ đồng nghĩa với
cục bộ và mô tả một cơn động kinh phát
xuất từ một vùng cụ thể của năo
bộ, nhưng vẫn áp dụng được cho các cơn
động kinh toàn thể hoá ngay từ đầu
với điều kiện là các cơn này có một
ổ cục bộ được phát hiện. Các động
kinh có liên quan vị trí c̣n được phân loại
thành ba nhóm phụ gồm có động kinh vô căn có
liên quan vị trí (idiopathíc location-related epilepsies), động
kinh triệu chứng có liên quan vị trí (symptomatic
location-related epilepsies), và động kinh nguyên nhân ẩn
có liên quan vị trí (cryptogenic location-related epilepsies). Trong
ba nhóm phụ vừa nêu của động kinh có liên
quan vị trí, các động kinh vô căn có liên quan
vịtrí tuy hiếm gặp nhưng đáng được
lưu ư trong thực hành lâm sàng v́ một số đáng
kể các động kinh có thể điều trị
được, có thể có diễn tiến lành tính, và
không đ̣i hỏi phải được thăm ḍ và
điều trị quá mức. Đông kinh lành tính
của trẻ nhỏ với gai vùng trung tâm-thái dương
trên EEG là loại động kinh thường gặp
nhất trong các động kinh vô căn có liên quan
vị trí. Trong
hệ thống phân loại mới nhất của ILAE, có
ít nhất chín loại động kinh toàn thể hoá vô
căn đă được nhận dạng. Khái niệm
về động kinh toàn thể hoá vô căn – hay
là động Bảng
2. Phân Loại Quốc Tế Các Động Kinh Và
Hội Chứng Động Kinh (ILAE)5
kinh
toàn thể hoá nguyên phát – đề cập đến
những hội chứng trong đó có vai tṛ di truyền,
có tiên lượng lành tính, có sự hiện diện
của h́nh ảnh EEG đặc thù là phức hợp gai
– sóng 3 Hz, không có liên quan với các bệnh của
cấu trúc năo bộ, và thường gắn liền
với một vài loại cơn như giật cơ,
vắng ư thức, co cứng – co giật toàn thể hoá.
Các cơn động kinh này thường xuất
hiện lúc vừa thức giấc, thường dễ
xảy đến khi thiếu ngủ. Các động kinh
toàn thể hoá vô căn đặc biệt đáp
ứng tốt với các thuốc chống động
kinh đặc hiệu. Các động kinh toàn thể hoá
triệu chứng hoặc có nguyên nhân ẩn luôn luôn
xuất hiện ở lứa tuồi thiếu niên trở
xuống. Ơû những động kinh này thường
có các dấu hiệu của một rối loạn
chức năng năo lan toả mà biểu lộ EEG là
những hoạt động điện bất thường
lan toả và trầm trọng, và biểu lộ lâm sàng là
những cơn động kinh dày đặc có kèm
chậm phát triển tâm thần. Nhóm hội chứng
động kinh này không có nguyên nhân được
biết rơ nhưng thường được giả
định là một bệnh năo tiệm tiến. Một
số trường hợp hội chứng động
kinh này lại là thứ phát sau những bệnh như
bệnh Bourneville, bệnh Tay – Sachs, hội chứng Sturge
– Weber. Các
hội chứng đặc biệt có các cơn động
kinh xuất hiện dưới tác dụng kích gợi
của một số
yếu tố đặc hiệu như rượu,
hạ đường huyết, tăng thân nhiệt.
Bảng 2 tŕnh bày hệ thống phân loại các hội
chứng động kinh của ILAE. TÀI
LIỆU THAM KHẢO
1.
Cockerell O.C., Shorvon S.
(1996). Epilepsy. Current Concepts. Current Medical Literature, London,
p 19 – 37. 2.
Genton P., Roger J. (1996). Eùpilepsies
et syndromes épileptiques: pour une mise à jour de la classification
internationale. Eùpilepsies, 8: 5 – 17. 3.
Shorvon S. (2000).
Definition and classification of epilepsy. In Handbook of Epilepsy Treatment.
Blackwell Science Oxford and Northampton, p 1 – 15. 4.
Wyllie E., Luders H.O.
(1993). Classification of seizures. In
Elaine Wyllie ed The Treatment o Epilepsy: Principles and Practice, Lea
& Febiger, Philadelphia, p 359 – 368. 5.
Wyllie E., Luders H.O.
(1993). Classification of the epilepsies. In
Elaine Wyllie ed The Treatment o Epilepsy: Principles and Practice. Lea
& Febiger, Philadelphia, p 492 – 502.
|
|
|