
THANG
ĐIỂM ĐỘT QUỴ CỦA CÁC VIỆN SỨC
KHOẺ QUỐC GIA HOA KỲ
(National
Institudes of Health (NIH) Stroke Scale - NIHSS)
(Tiếp
theo)
Dịch
và chú giải: TS Nguyễn Hữu Công
GIẢI
THÍCH:
Nhớ
điền điểm số vào ngay sau khi khám từng
mục, đừng khám lại và ghi điểm số
lại. Điểm số phải phản ánh cái mà
bệnh nhân đã thực sự làm được,
chứ không phải cái mà BS cho rằng bệnh nhân có
thể làm được. Nói chung, không nên gợi ý cho
bệnh nhân. Thang điểm này được xây
dựng nhằm đánh giá tác dụng của thuốc kích
hoạt tiêu sợi huyết tổ chức (rTPA) trên đột
quỵ thiếu máu não (ischemic stroke) trong vòng 6 giờ sau
khởi phát.
Ý
thức:
(Level of Consciousness) BS kích thích BN bằng cách gọi hay gõ
nhẹ để xác định mức độ tỉnh
táo.Đôi khi phải kích thích mạnh (cấu véo). Dù
trở ngại như đang đặt nội khí
quản, chấn thương miệng – khí quản
hoặc băng kín miệng hay khác biệt về ngôn
ngữ.
0-
Tỉnh táo hoàn toàn và đáp ứng rõ ràng.
1-
Không tỉnh táo, nhưng thức tỉnh khi có kích thích
nhẹ (khi gọi, hoặc lay lắc), BN trả lời chính
xác, thực hiện y lệnh tốt.
2-
Không tỉnh, thức dậy khó khăn, khi thức
dậy cũng không hoàn toàn tỉnh táo, cần kích thích
lặp đi lặp lại để duy trì chú ý,
hoặc phải dùng kích thích mạnh và đau mới
tạo được cử động.
3- Hôn
mê, không đáp ứng với mọi kích thích và mất
hết các phản xạ, hoặc đáp ứng bằng
các phản xạ vận động hoặc thực
vật.
Hỏi
tháng và tuổi bệnh nhân:
(Level of Consciousness - Questions) BS hỏi về tháng trong năm
và hỏi tuổi BN. Chỉ tính điểm cho câu trả
lời đầu tiên. Nếu mới đầu bệnh nhân
trả lời sai, rồi lại sửa lại đúng, thì
vẫn tính điểm như là trả lời sai. Nếu
có mất ngôn ngữ (Aphasia), thì BS phải đánh giá câu
trả lời với cân nhắc về rối loạn ngôn
ngữ của bệnh nhân. Bệnh nhân mất ngôn ngữ
và sững sờ không hiểu được câu hỏi thì
cho điểm 2. Bệnh nhân không thể nói do nội khí
quản hay loạn vận ngôn (dysarthria) nặng hoặc
bất kỳ rối loạn nào không do mất ngôn ngữ
(aphasia) thì cho điểm 1
0-
Trả lời đúng cả 2 câu.
1-
Trả lời chỉ đúng 1 câu.
2-
Trả lời không đúng cả 2 câu hỏi.
Yêu
cầu mở/nhắm mắt + nắm chặt rồi
thả bàn tay: (Level
of Consciousness - Commands) BS yêu cầu BN mở rồi nhắm
mắt, sau đó nắm chặt rồi xoè bàn tay bên không
bị liệt. Chỉ chấm điểm cho lần làm
đầu tiên, nếu không thực hiện được
thì làm ngay bước tiếp sau, không yêu cầu lặp
lại. Nếu bệnh nhân bị mất ngôn ngữ và không
thể làm theo y lệnh bằng lời, thì BS làm mẫu
cho bệnh nhân bắt chước. Nếu bệnh nhân
bị liệt, có cố gắng cử động làm theo
y lệnh nhưng không thể nắm chặt tay được,
thì vẫn chấm là bình thường.
0-
Thực hiện đúng cả 2 y lệnh.
1-
Thực hiện đúng 1 y lệnh.
2-
Thực hiện cả 2 đều sai.
Nhìn
phối hợp: (Best
Gaze) Quan sát vị trí nhãn cầu khi nghỉ, rồi, khám
vận nhãn chỉ theo chiều ngang. Yêu cầu nhìn chủ
ý sang bên, hoặc làm thao tác mắt đầu, không làm
thử nghiệm caloric. Không chấm điểm cho các
rối loạn vận nhãn theo chiều dọc, rung giật
nhãn cầu. Nếu bệnh nhân có nhìn lệch phối
hợp cả 2 mắt sang bên, nhưng hết khi làm thao tác
mắt đầu hay khi nhìn chủ ý, thì chấm điểm
1. Nếu liệt một dây vận nhãn đơn độc
(dây III, IV hay VI), thì cũng điểm 1. Phải khám
cả ở BN bị mất ngôn ngữ, chấn thương
mắt, mù từ trước hoặc có rối loạn
thị lực hay thị trường (có thể dùng thao tác
mắt đầu). Nếu bệnh nhân có trở ngại
về quay mắt, ví dụ tật lác mắt, nhưng
vẫn rời được khỏi đường
giữa và cố gắng nhìn sang cả phía phải
lẫn trái, thì vẫn coi là bình thường.
0- Bình
thường.
1-
Liệt vận nhãn một phần: vận nhãn bất thường
ở 1 hay 2 mắt, nhưng không có tình trạng nhìn
phối hợp bắt buộc sang 1 bên, hay hiện tượng
liệt vận nhãn hoàn toàn.
2-
Lệch mắt cưỡng bức: Nhìn phối hợp
bắt buộc sang 1 bên, hoặc liệt vận nhãn hoàn
toàn dù làm nghiệm pháp mắt - đầu (oculocephalic
maneuver) cũng không khắc phục được.
Thị
trường: (Best
Visual - Visual Fields) Phải kiểm tra thị trường
cả 2 mắt. Thông thường BS yêu cầu BN dùng
từng mắt để đếm ngón tay ở 4 góc.
Nếu BN không thể trả lời bằng lời nói, thì
xem đáp ứng với kích thích thị giác từng góc
1/4, hay bảo BN ra hiệu chỉ rõ số các ngón tay nhìn
thấy được. Mất 1 góc phần tư thì tính
1 điểm, mất toàn bộ nửa thị trường
(góc trên + góc dưới) tính 2 điểm. Nếu mù do
bản thân bệnh mắt hoặc bị khoét bỏ nhãn
cầu, và thị trường ở mắt bên kia bình thường,
thì phải coi là bình thường (0 điểm), chấm
điểm 1, 2, hay 3 dựa vào thiếu hụt thị trường
của mắt bên kia. Mù không do bệnh mắt tính 3 điểm.
0-
Không có thiếu hụt thị trường.
1- Bán
manh một phần: mất thị trường một
phần ở cả 2 mắt, bao gồm cả mất góc
phần tư hay kiểu hình quạt.
2- Bán
manh hoàn toàn: mất thị trường nhiều ở
cả 2 mắt, bao gồm cả bán manh đồng danh
3- Bán
manh 2 bên: mất thị trường cả 2 bên và ở
cả 2 mắt, bao gồm cả mù vỏ não.
Liệt
mặt: (Facial Palsy)
Quan sát nét mặt và cử động mặt tự nhiên,
sau đó yêu cầu co cơ mặt chủ ý. Nếu BN
bị mất ngôn ngữ và không thể làm theo y lệnh
thì BS phải làm mẫu để BN bắt chước.
Nếu không tỉnh táo hoặc không hợp tác, thì có
thể dùng kích thích đau gây nhăn mặt.
0- Bình
thường: không mất cân đối mặt.
1-
Liệt rất nhẹ: mờ nếp mũi má, mất cân
đối khi cười.
2-
Liệt một phần: liệt hoàn toàn hoặc gần
hoàn toàn phần dưới, nhưng phần trên còn co
được.
3-
Liệt hoàn toàn: liệt (không cử động) cả
phần trên lẫn phần dưới mặt. Liệt hoàn
toàn 1 hoặc cả 2 bên.
Vận
động của tay trái và phải:
(Right/Left Motor Arm). Bảo bệnh nhân duỗi thẳng 2 tay
(sấp bàn tay) 90 độ khi ngồi, hoặc 45 độ
khi nằm ngửa. Cố giữ trong 10 giây, có thể BS
phải đếm to từ 1 tới 10. Nếu có
rối loạn ngôn ngữ thì BS phải làm mẫu cho BN.
BS có thể nâng tay BN tới vị trí khám rồi nhắc
cố giữ. Nếu vận động hạn chế do
bệnh lý xương khớp (không do đột quỵ)
thì cố gắng đánh giá sao cho loại bỏ yếu
tố đó. Nếu BN không tỉnh táo, thì ước lượng
thông qua đáp ứng với kích thích đau. Vận động
chủ ý thực hiện tốt 0 điểm, nếu có
đáp ứng kiểu phản xạ (tư thế duỗi
hay co khi kích thích) điểm 4. Người ta còn chấm
điểm 9 (hoặc điểm X) nếu cụt chi hay
cứng khớp vai. Nhưng nếu chỉ bị cụt chi
một phần, thì vẫn chấm điểm như bình
thường.
0-
Không lệch: BN giữ tay duỗi thẳng được
10 giây.
1-
Lệch: BN giữ tay duỗi thẳng không được
10 giây, tay giao động hoặc hạ thấp xuống,
nhưng không chạm vào giường.
2- Có
gắng sức chống trọng lực nhưng không
giữ được, tay hạ thấp chạm giường
nhưng vẫn còn ít sức chống lại trọng
lực.
3-
Không thể chống được trọng lực: BN không
giơ tay lên rời mặt giường được,
nhưng vẫn có chút ít co cơ. Nếu nâng tay BN lên
rồi thả, thì tay rơi ngay xuống.
4-
Không nhúc nhích: không có bất kỳ sức cơ nào.
9-
Không thể khám: chỉ chấm điểm này khi không có
tay, hoặc tay bị cắt cụt, hoặc cứng
khớp lan tỏa. Còn thay bằng điểm X.
Vận
động của chân phải và trái:
(Right/Left Motor Leg). BN nằm ngửa và chân duỗi
thẳng, nâng tạo góc 30 độ, yêu cầu
giữ vững trong 5 giây. BS nên đếm to từ 1
tới 5 để BN cố giữ chân cho đủ 5 giây.
Nếu BN không hợp tác bằng lời được, thì
ra hiệu hoặc đặt chân ở tư thế
chấm điểm. Nếu BN không tỉnh táo, thì ước
lượng dựa vào đáp ứng với kích thích
đau. Cử động chủ ý tốt chấm điểm
0. Nếu BN có đáp ứng kiểu phản xạ (tư
thế co hay duỗi) thì chấm điểm 4. Chỉ
chấm điểm 9 chỉ khi không có chân hoặc
cứng khớp háng. BN có khớp giả hay cắt cụt
chân một phần cũng vẫn phải khám để
chấm.
0-
Không lệch: BN giữ chân duỗi thẳng được
5 giây.
1-
Lệch: chân hạ thấp xuống lúc sắp hết 5
giây, không chạm giường, hoặc chân giao động.
2- Có
sức cơ phần nào chống lại trọng lực:
chân rơi chạm giường trong vòng 5 giây, nhưng
vẫn có chút ít sức cơ chống trọng lực.
3-
Không thể chống được trọng lực: Không
thể đưa chân lên rời mặt giường
được nhưng vẫn còn chút ít sức cơ
chống trọng lực, nếu nâng chân BN lên đúng tư
thế khám rồi thả, thì chân rơi ngay xuống giường.
4-
Không nhúc nhích: không có bất kỳ sức cơ nào..
9-
Không thể khám: chỉ chấm điểm này khi không có
chân hoặc cứng khớp lan tỏa. Còn thay bằng
điểm X.
Mất
điều hòa vận động:
(ataxia). Mục này nhằm tìm biểu hiện tổn thương
tiểu não một bên, và cũng để phát hiện
bất thường vận động do rối loạn
chức năng vận động hay cảm giác. Bệnh
nhân phải mở mắt nhìn, nếu có khiếm
khuyết thị trường thì phải bảo đảm
dùng được thị trường bên còn lành. Dùng
thao tác ngón trỏ - mũi và gót – gối cả 2 bên.
Cần khám bên bình thường trước. Chỉ
chấm điểm có mất điều hòa vận động
nếu mất điều hòa không liên quan tỷ lệ
với độ liệt. BS có thể ra hiệu cho BN làm.
Nếu có loạn tầm (dysmetria) hay loạn phối
hợp (dyssynergia) ở 1 chi thể thì chấm điểm
1, nếu ở cả tay và chân một bên thì điểm
2, nếu cả 2 bên cũng điểm 2. Khi chấm điểm
không cần đếm xỉa tới bệnh căn
của chứng rối loạn. Nếu hôn mê, hoặc
liệt hoàn toàn cả tay lẫn chân, thì chấm điểm
9, có người chấm là X.
0-
Không có: BN thực hiện tốt cả thao tác trỏ -
mũi lẫn gót - gối, cử động đều
không giật cục và chính xác.
1- Có
ở chỉ 1 chi thể (tay hoặc chân), BN vẫn có
thể thực hiện tốt được 1 thao tác.
2- Có
ở 2 chi thể: một bên cả tay lẫn chân,
hoặc có ở cả 2 bên.
Cảm
giác: (Sensory) dùng kim
để khám ở cánh tay (không ở bàn tay) và đùi
ở cả tứ chi, và mặt, hỏi BN cảm nhận
kích thích ra sao. Không nhất thiết phải nhắm
mắt, hỏi xem cảm thấy nhọn hay tù, và so sánh 2
bên xem cảm giác có đều nhau không. Chỉ tính điểm
cho mất cảm giác do đột quỵ gây nên (thường
đó là mất cảm giác nửa người). Không tính
điểm cho các loại mất cảm giác khác, ví
dụ do viêm đa dây thần kinh. Nếu BN không tỉnh táo,
hoặc không thể giao tiếp bằng lời, hoặc
bị chứng lãng quên nửa người, thì chấm
điểm dựa vào đáp ứng không bằng lời
của BN, kiểu như nhăn mặt, hay rụt chân tay
lại khi kích thích. Nếu BN có đáp ứng với kích
thích, chấm điểm 0. Phải so sánh đáp ứng
với kích thích ở bên phải với bên trái, nếu
không đáp ứng với kích thích đau ở 1 bên, thì
chấm điểm 2. BN đột quỵ thân não gây
mất cảm giác 2 bên chấm điểm 2, hôn mê và không
đáng ứng kích thích chấm điểm 2, liệt
tứ chi và không đáp ứng cũng điểm 2.
0- Bình
thường: không có mất cảm giác khi khám bằng
kim.
1-
Mất cảm giác từ nhẹ tới vừa: cảm
thấy châm kim ít nhọn hơn hoặc không rõ châm kim,
nhưng vẫn biết đụng chạm.
2-
Mất cảm giác nặng hoặc hoàn toàn: BN không
nhận biết được là có vật chạm vào.
BN không đáp ứng với kích thích đau ở 1 bên.
Loạn
vận ngôn: (Dysarthria). Yêu cầu BN đọc và phát âm
một danh sách chuẩn các từ trên tờ giấy.
Nếu Bn không thể đọc do mất thị giác, BS có
thể đọc và yêu cầu nhắc lại. Nếu BN có
mất ngôn ngữ nặng, thì chấm điểm dựa
vào phát âm rõ rệt của BN khi nói chuyện tự nhiên.
Nếu bị chứng câm lặng hoặc hôn mê, hoặc
đặt nội khí quản, thì chấm điểm 9 (không
thể thử).
0-
Phát âm bình thường: phát âm từng từ rõ ràng.
1-
Loạn vận ngôn nhẹ tới trung bình: có rối
loạn phát âm, BN nói nhịu, có thể hiểu lời
BN nói nhưng hơi khó.
2-
Nặng: nói nhịu đến mức không thể
hiểu được trong khi không có rối loạn ngôn
ngữ (dysphasia), hoặc câm lặng hay mất khả năng
nói.
9-
Không thể tính điểm: có nội khí quản
hoặc trở ngại cơ học không nói được.
Còn thay bằng điểm X.
Ngôn
ngữ: (Best Language).
BS yêu cầu BN nhận biết một nhóm chuẩn các
đồ vật, rồi đọc một loạt câu. BS
có thể vừa khám thần kinh vừa tìm hiểu về
khả năng ngôn ngữ của BN. Đưa cho BN một
tờ giấy có liệt kê hình các đồ vật, và
phải cho BN có thời gian nhận biết. Chỉ tính
điểm cho lần trả lời đầu tiên.
Nếu ban đầu BN nói sai, sau lại sửa đúng, thì
vẫn chấm là sai. Sau đó đưa cho BN 1 tờ
giấy có ghi sẵn các câu. Yêu cầu BN đọc ít
nhất là 3 câu. Chấm điểm dựa vào lần
đọc đầu tiên. Nếu BN đọc sai lần
đầu, sau sửa lại đúng, thì vẫn chấm
điểm là sai. Nếu BN có mất thị giác, không
nhận biết đồ vật và đọc bằng
mắt được, thì BS phải: đặt đồ
vật vào tay Bn và yêu cầu xác định, đánh giá
khả năng nói tự nhiên và khả năng nhắc
lại câu nói. Nếu BN bị đặt nội khí
quản, hay không thể nói, phải kiểm tra bằng
viết.
0-
Không mất ngôn ngữ: BN có thể đọc tốt các
câu và nói chính xác tên đồ vật vẽ trên tờ
giấy.
1-
Mất ngôn ngữ (aphasia) nhẹ tới trung bình:
diễn đạt không trôi chảy nhưng vẫn
diễn đạt được cơ bản ý kiến
của mình. Giảm khả năng nói và/hoặc hiểu
lời làm cho việc nói về các đồ vật khó
khăn (có sai sót trong khi nói tên đồ vật, tìm
kiếm từ thích hợp khi nói, bị chứng loạn
dùng từ ngữ - paraphasias), nhưng BS vẫn dễ dàng
đoán được BN ý muốn nói gì..
2-
Mất ngôn ngữ nặng: khó khăn khi đọc cũng
như khi nói tên đồ vật, diễn đạt
bằng những câu ngắn rời rạc. Bao gồm
hoặc mất ngôn ngữ Broca's hoặc Wernicke's. Người
khám phải hỏi đi hỏi lại và khó đoán
được ý của BN.
3- Câm
lặng, mất ngôn ngữ toàn bộ.
Chứng
lãng quên một bên:
(Neglect, extinction & inattention). Tìm hiểu khả năng
nhận biết kích thích cảm giác da và thị giác 2 bên
(phải và trái) cùng một lúc của BN. Đưa 1
bức vẽ cho BN và yêu cầu mô tả. Nhắc BN nhìn
chăm chú vào bức vẽ và nhận biết các nét
đặc điểmcủa cả nửa bên phải và bên
trái của bức tranh. Nhớ nhắc BN cố nhìn bù
lại bất kỳ một khiếm khuyết thị giác
(mất thị trường nếu có). Nếu BN không
nhận biết được các phần của bức
vẽ ở một bên, thì cần coi là bất thường.
Sau đó BS kiểm tra khả năng nhận biết
cảm giác sờ cùng lúc cả 2 bên (BN phải nhắm
mắt). Nếu bệnh nhân không biết đến kích thích
ở một bên cơ thể, thì phải coi là bất thường.
Nếu BN có mất thị lực nặng nề, nhưng kích
thích ngoài da bình thường, thì chấm điểm 0.
Nếu BN bị mất ngôn ngữ và không thể mô
tả bức vẽ, nhưng nhận biết được
cả 2 phía, thì chấm điểm 0.
0-
Không lãng quên một bên: BN có thể nhận biết kích
thích ngoài da ở 2 bên cơ thể (kích thích cùng một
lúc), và có thể nhận biết hình ảnh cả bên
phải và trái của bức tranh.
1-
Lãng quên một phần: BN chỉ nhận biết
được hoặc kích thích da hoặc kích thích
thị giác ở cả 2 bên. 1 trong 2 loại kích thích 2 bên
đó vẫn còn nhận biết được.
2-
Lãng quên hoàn toàn với cả 2 loại kích thích (thị
giác và ngoài da) ở 1 bên (phải hoặc trái), nếu kích
thích cùng lúc cả 2 bên.
NGUỒN
THAM KHẢO:
1.
Harold Adams, Patricia
Davis, Joames Torner, Karla Grimsman and Jeff Vanda Berge: NIH Stroke Scale, In:
Stroke and Brain Attack, Peer Review Status: Government Publication and Internal
Review, University of Iowa. Http://www.vh.org/Providers/ClinGuide/Stroke/
Question.html, display time: May 4, 1999.
2.
David O.Wiebers,
Valery L.Feigin, Robert D.Brown: Handbook of Stroke, Lippincott - Raven Pub.,
Philadelphia - New York, 1997. Pp: 354-357.
3.
Mary A. Kalafut,
Jeffrey L. Saver: The acute stroke patient: the first six hours, In: Management
of ischemic stroke, Ed.: Stanley N. Cohen. McGraw-Hill Co., 2000. Pp: 22-23.
Quay
về đầu trang
