|
|
KIỂM ĐỊNH THANG ĐIỂM TIÊN LƯỢNG
XUẤT HUYẾT NĂO TRÊN LỀU: KẾT QUẢ KHẢO
SÁT HƠN 200 TRƯỜNG HỢP .
Trần Công Thắng: Kiểm định
thang điểm tiên lượng xuất huyết năo trên lều: kết quả khảo
sát hơn 200 trường hợp. Tạp chí
y học
TP Hồ Chí
Minh,
tập 7, phụ bản của số 1, 2003 ThS
Trần Công Thắng, bộ môn nội thần kinh, trường ĐH Y Dược,
TP Hồ Chí Minh. TÓM
TẮT : Nghiên cứu
tiền cứu này được thiết kế để
kiểm định giá trị của hai công thức (CT) tiên
lượng xuất huyết năo (XHN) trên lều
được t́m ra bằng phương pháp thống kê
hồi qui đa biến. CT1 chứa ba yếu tố tiên lượng
: thể tích XHN, loại XHN, đánh giá tri giác theo hôn mê
theo tầng. Công thức 2 khác công thức 1 ở yếu
tố đánh giá tri theo thang điểm Glasgow. Các dữ
liệu lúc nhập viện của 211 bệnh nhân xuất
huyết năo trên lều
được dùng để tính tỉ lệ tử vong
theo CT1 và CT2.Các bênh nhân được theo dơi trong 2
tuần. Kết quả ghi nhận độ nhạy, độ
chuyên biệt và độ chính xác chung của CT1 lần lược
là 96.4%, 66.5%, 74.4% ; và của CT2 là 78.6%, 92.3%, và 88.6%.
Kết luận, CT2 đơn giản nhưng có giá trị
trong tiên lượng xuất huyết năo trên lều. Validation
of models predicting outcome following supratentorial intracerebral hemorrhage :
a 200 plus -patient prospective study. SUMMARY:
The prospective study was designed to valid two previously reported logistic
regression prognostic models. Model 1 contains the lesion level coma scale,
hemorrhage volume, and hemorrhage location. Model 2 contains the initial Glasgow
Coma Scale score instead of the lesion level coma scale. Data recorded on
admission of 211 patients with supratentorial intracerebral hemorrhage were
analyzed in model 1 and model 2 .All patients were observed in 2 weeks. The
sensitivity, the specificity and the overall predictive accuracy of model 1
respectively were 96.4%, 66.5%, 74.4%; and of model 2 respectively were 78.6%,
92.3%, and 88.6%. In conclusion, model 2 provides a valid, easy-to-use means to
predict outcome of supratentorial intracerebral hemorrhage. ĐẶT VẤN ĐỀ
Tiên lượng
xuất huyết năo là một vấn đề đang
được chú ư hiện nay. Nó giúp cho việc chọn
lựa phát đồ điều trị thích hợp, phân
nhóm bệnh nhân cho các thử nghiệm lâm sàng, so sánh
kết quả điều trị cũng như đánh giá
hiệu quả của các ứng dụng mới trong điều
trị XHN, …. Theo các tác giả, tiên lượng XHN
tuỳ thuộc vào các yếu tố như : tuổi1,5,
mức độ tri giác1,5,7,10, thể tích ổ
XHN1,2,3,5,6,7,8,10,… và một số tác giả đă lập
ra thang điểm để tiên lượng tỉ lệ
tử vong XHN. Vào
năm 1999, lần đầu tiên ở nước ta, chúng
tôi đă tiến hành nghiên cứu tiên lượng XHN trên
lều và đă lập ra hai công thức (CT) tiên lượng
có độ chính xác khá cao9. Công thức 1 chứa ba
yếu tố tiên lượng : thể tích XHN, loại XHN,
đánh giá tri giác theo hôn mê theo tầng. Công thức 2 khác
công thức 1 ở yếu tố đánh giá tri theo thang
điểm Glasgow (GCS) . Ở công thức 1, chúng tôi đạt
được độ nhạy 97.5%, độ chuyên
biệt 78.95%, và độ chính xác chung 86.6%. Với công
thức 2, chúng tôi có độ nhạy, độ chuyên
biệt và độ chính xác chung lần lược là
80%, 91.23%, và 86.6%. Tuy nhiên , đây chỉ nghiên cứu bước
đầu về tiên lượng XHN trên lều, cần
phải kiểm định giá trị của thang điểm
đă được lập ra. Và đó là lư do chúng tôi
tiến hành nghiên cứu này. Mục
đích nghiên cứu của chúng tôi là khảo sát độ
nhạy, độ chuyên biệt và độ chính xác
của hai công thức tiên lượng XHN trên lều khi
ứng dụng vào thực tế lâm sàng. ĐỐI
TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên
cứu tiền cứu
Tổng
cộng có 211 bệnh nhân (BN) XHN trên lều lần đầu,
khởi phát bệnh trong ṿng 72 giờ, nhập vào khoa
Nội Thần Kinh BV Chợ Rẫy từ 01/06 đến
31/12/2001 được đưa vào nghiên cứu. Các BN
được chẩn đoán bằng lâm sàng và CTScan năo.
Các XHN do chấn thương, u năo, các bệnh lư về máu,
vỡ dị dạng mạch máu năo, đang dùng thuốc
kháng đông, XHN ở hơn một vị trí, XH vào năo
thất hoặc khoang dưới nhện đơn
thuần, BN có rối loạn nhịp tim hoặc nhồi máu
cơ tim trong thời gian nằm viện, hoặc có
tiền sử tiểu đường , mỗ sọ năo cũ
đều bị loại khỏi nghiên cứu. Các dữ
liệu được thu thập ngay lúc BN nhập
viện, bao gồm: tuổi, giới, tri giác, thể tích
XHN, và loại XHN. T́nh
trạng tri giác của BN được đánh giá
bằng hai cách : theo phân loại hôn mê theo tầng (HMTT)4
(từ mức độ tỉnh, mê vỏ-dưới
vỏ, gian năo, gian trung năo đến trung năo, cầu năo và
hành năo) và theo thang điểm Glasgow (từ 3 đến 15
điểm). Trên
CTScan, thể tích XHN được tính theo công thức V=
a.b.n/2 (với a và b là đường kính lớn nhất
của ổ XHN trên một lát cắt, n là số lát
cắt dày 10mm) ; Loại XHN được chia theo XHN trong
nhu mô đơn thuần, XHN vào năo thất (NT) bên , NT III,
và vào NT IV. Tất
cả BN được theo dỏi điều trị và
đánh giá sau hai tuần dưới hai dạng sống
hoặc tử vong. Tất
cả các công việc nêu trên được tiến hành
bởi một nhóm các bác sĩ riêng biệt (nhóm A). Phương
pháp thống kê
Các
dữ liệu lâm sàng và cận lâm sàng thu thập lúc
nhập viện được chuyển cho một nhóm
độc lập thứ hai (nhóm B) để tính tỉ
lệ dự đoán tử vong trong 2 tuần theo CT1 và CT2. CT1: PI = - 4.03 + 4.21(VXHN )+
4.08(LoạiXHN) + 3.58(HMTT) Với
VXHN (thể tích XHN) dưới 30 cm3= 0 , từ 30 cm3 trở
lên = 1; LoạiXHN vào năo thất IV = 1, XHN khác = 0; HMTT (hôn mê
theo tầng) từ tầng gian năo trở lên = 0 , tầng
gian-trung năo trở xuống = 1. CT2: PI = - 1.73 + 3.33(VXHN )+
3.13(LoạiXHN) – 2.03(GCS) Với
GCS từ 3 đến 8 =
0, và từ 9 đến 15 = 1. Tiên
lượng tử vong = ePI/ 1+ePI . Từ CT1 và CT2, trong nghiên
cứu trước, chúng tôi đă lập ra ‘bảng tám
trường hợp chung tiên lượng tỉ lệ
tử vong XHN trên lều’ rất dễ sử dụng trên
lâm sàng. Bảng
1 :
Tám trường hợp tiên lượng tỉ lệ
tử vong XHN trên lều theo CT 1 và CT2
Phân
tích số liệu được làm trên phần mềm
thống kê SPSS. Phép kiểm (2 được dùng để
đánh giá sự liên quan giữa kết qủa tiên lượng
với kết cuộc của BN sau 2 tuần. Kết
quả thu thập của nhóm A và nhóm B được dùng
để tính độ nhạy, độ chuyên biệt và
độ chính xác tiên lượng của CT1 và CT2 trong
thực tế lâm sàng. KẾT QUẢ
Mẫu
nghiên cứu gồm 211 BN với các đặc điểm
sau: Bảng
2:
Đặc điểm mẫu nghiên cứu
Mối
quan hệ giữa dự
đoán tỉ lệ tử vong theo CT1 và CT2 với kết cuộc thật của BN sau 2 tuần
được tŕnh bày lần lược ở bảng 3
và 4. Bảng
3: Bảng
chéo 2(2 mô tả mối quan hệ giữa dự đoán
tỉ lệ tử vong theo CT1 với
kết cuộc thật của
BN sau 2 tuần .
Với
(2 (1, 211) = 65.063 , p <
0.001. Như
vậy, với CT1 chúng tôi đạt được : ·
Độ nhạy
tiên lượng tử vong = 96.4% (54/56) ·
Độ chuyên
biệt = 66.5% (103/155) ·
Độ chính xác
tiên lượng tử vong = 50.9% (54/106) ·
Độ chính xác
chung = 74.4% (157/211) Bảng
4:
Bảng chéo 2(2 mô tả mối quan hệ giữa dự
đoán tỉ lệ tử vong theo CT2 với
kết cuộc thật của
BN sau 2 tuần .
Với
(2 (1, 211) = 105.85 , p <
0.001. Từ
bảng 4, chúng tôi có được: ·
Độ nhạy
tiên lượng tử vong của CT2 = 78.6% (44/56) ·
Độ chuyên
biệt = 92.3% (143/155) ·
Độ chính xác
tiên lượng tử vong = 78.6% (44/56) ·
Độ chính xác
chung = 88.6% (187/211) BÀN
LUẬN
Khi
so sánh nghiên cứu đầu và nghiên cứu kiểm
định , chúng tôi ghi nhận kết quả của hai
nghiên cứu giống nhau ở
CT2 với độ chuyên biệt tương
đương (91.23% và 92.3%) và độ chính xác chung tương
đương (86.6% và 88.6%). Trong khi đó, kết quả
của CT1 thấp hơn so với nghiên cứu đầu
cả về độ chuyên biệt (66.5% và 78,95%) và độ
chính xác chung (74.4% và 86.6%). Về cấu trúc, CT1 và CT2 khác
nhau ở cách đánh giá tri giác BN. CT1 đánh giá tri giác
theo mức độ HMTT, CT2 đánh gía theo thang điểm
Glasgow. Kết quả tiên lượng khác biệt của
CT1 có lẻ do cách đánh giá tri giác theo HMTT quá chi
tiết, chỉ cần một thay đổi nhỏ
của BN có thể chuyển BN từ nhóm tiên lượng này sang nhóm tiên lượng
khác theo CT1. Do đó, CT1 khó ổn định khi đưa
vào công thức để tính toán. Ngược lại
với đánh giá theo HMTT, thang điểm Glasgow không quá
chi tiết và khá đơn giản nên nó ổn định
hơn khi đưa vào công thức để tính toán. Kết
quả này cũng phù hợp với các tác giả khác
về tiên lượng, họ cũng dựa chủ
yếu vào thể tích XHN, loại XHN và điểm Glasgow
đánh giá tri giác (Bảng 5) Bảng 5 : Các
yếu tố tiên lượng sau XHN tự phát được
thống kê bằng phân tích hồi qui đa
biến của các nghiên cứu trước đây.
Với : GCS (điểm
Glasgow đánh giá hôn mê), GOS (thang điểm kết
cuộc Glasgow), Hatb ( Huyết áp trung b́nh), KThXh (kích thước
ổ xuất huyết), Lệch (lệch đường
giữa), O.H.S (thang điểm khuyết tật Oxford), VàoNT
(XHN vào năo thất), Vxh (thể tich XHN ) Sau
nghiên cứu bước đầu, tác giả Tuhrim và
cộng sự10 cũng đă tiến hành kiểm định
kết quả tiên lượng của hai công thức
của nhóm ông, một công thức đơn giản
(gồm huyết áp trung b́nh, điểm Glasgow, và thể tích
XHN) và một công thức phức tạp hơn (huyết
áp trung b́nh, điểm Glasgow, thể tích XHN, và loại
XHN). Kết quả CT1 đơn giản hơn lại có giá
trị tiên lượng cao hơn CT2 (90.6% so với 87.6%). Trong
các nghiên cứu tiên lượng, yếu tố thể tích
XHN luôn xuất hiện trong công thức tính tỉ lệ
tử vong, do đó nó là một yếu tố tiên lượng
mạnh. Điều này gợi ư việc làm giảm
thể tích XHN (ví dụ bằng phẩu thuật hút máu
tụ) có thể có ích. Hiện nay vấn đề này
đang được các nhà phẩu thuật thần kinh
rất quan tâm. Kết
quả nghiên cứu này sẽ chọn được nhóm
bệnh nhân điều trị nội khoa bảo tồn có
kết quả tốt và điều trị nội khoa cho
kết quả xấu. Do đó, khi phối hợp với
một nghiên cứu tương tự trong phẫu
thuật điều trị XHN trên lều sẽ giúp
đưa ra một chỉ định phẫu thuật cho
XHN trên lều, một vấn đề hiện nay vẫn
c̣n đang được tranh căi. KẾT LUẬN
Tiên lượng
XHN trên lều là một việc làm cần thiết cho quá
tŕnh điều trị. Sau khi kiểm định hai công
thức tiên lượng, chúng tôi nhận thấy công
thức 2 (với ba yếu tố : điểm Glasgow đánh
giá tri giác, thể tích XHN và loại XHN) có giá trị tiên
lượng khá cao, có thể ứng dụng vào thực
tế lâm sàng. Tài liệu tham khảo
1.
Broderick JB, et al (1993). Volume of intracerebral hemorrhage: A
powerful and easy-to-use predictor of 30-day mortality. Stroke; 24: 987-993. 2.
Carlberg B, et al (1993) . The prognostic value of admission blood
pressure in patients with acute stroke. Stroke; 24: 1372-1375. 3.
Daverat P, et al (1991). Death and functional outcome after spontaneous
intracerebral hemorrhage. A prospective study of 166 cases using multivariate
analysis. Stroke.; 22: 1-6. 4.
Lê văn Thành (1992). Những chức năng cao
cấp của năo. Trong : Bệnh học Thần Kinh. NXB Y
Học: 107-122. 5.
Lisk DR, et al (1994). Early presentation of hemispheric intracerebral
hemorrhage: Prediction of outcome and guidelines for treatment allocation.
Neurology; 44: 133-139. 6.
Mayer SA, et al (1994). Neurologic deterioration in noncomatose patients
with supratentorial intracerebral hemorrhage. Neurology; 44: 1379-1384. 7.
Qureshi AI, et al (1995). Predictors of early deterioration and mortality
in black Americans with spontaneous intracerebral hemorrhage. Stroke; 26:
1764-1767. 8.
Suzuki S, et al (1995). Acute leukocyte and temperature response in
hypertensive intracerebral hemorrhage. Stroke; 26: 1020-1023. 9.
Trần Công Thắng, Lê văn Thành (1999). Sử
dụng các dữ liệu lâm sàng và CTScan năo lúc nhập
viện để tiên lượng xuất huyết năo trên
lều. Y Học TP HCM, Chuyên
đề Thần kinh học số 2, 1-6 . 10. Tuhrim S, et al (1995). Validation and comparison of models predicting survival followingintracerebral hemorrhage. Crit Care Med; 23: 950-954.
| ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|