|
|
|
KIỂM CHỨNG GIÁ TRỊ THANG ĐIỂM
LÂM SÀNG CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT NHỒI MÁU NĂO VÀ
XUẤT HUYẾT NĂO TRÊN LỀU
Nguyễn Bá Thắng:
Kiểm chứng giá trị thang điểm lâm sàng chẩn đoán phân biệt nhồi
máu năo và xuất huyết năo trên lều. Tạp chí
y học
TP Hồ Chí
Minh,
tập 7, phụ bản của số 1, 2003 BS CK1 Nguyễn Bá Thắng, GS TS
Lê Văn Thành, BS Trần Ngọc Tài. Trường ĐH Y
Dược TP HCM TÓM
TẮT:
Trong
tai biến mạch máu năo, việc chẩn đoán thể
tai biến, nhất là phân biệt giữa nhồi máu năo
và xuất huyết năo trên lều, có vai tṛ quan trọng
cho điều trị và tiên lượng bệnh. Năm
1999, chúng tôi đă tiến hành một nghiên cứu và
thiết lập được một thang điểm
dựa trên các yếu tố lâm sàng để chẩn
đoán phân biệt hai thể bệnh này, thang điểm
như sau: Kiểu khởi phát (chậm, bậc thang: 0đ,
tức th́: 2đ, nhanh trong 2 giờ: 4đ) + Tri giác
khởi phát (tỉnh: 0đ, lừ đừ-ngủ gà: 0,5đ,
mê: 3đ) + Nhức đầu khởi phát (có: 1,5đ, không:
0đ) + Oùi (có: 1đ, không:0đ) + 1/20*Huyết áp tâm trương
(mmHg) – Tiền căn thoáng thiếu máu năo, tai biến
thực sự, hoặc tiểu đường (có ít
nhất 1: 1,5đ, không có cả 3: 0đ) – 7,5. Nếu
điểm số < -1, chẩn đoán là nhồi máu
năo; nếu > +1, chẩn đoán xuất huyết năo;
nếu trong khoảng –1 đến +1 th́ chẩn đoán
không rơ, cần chụp cắt lớp điện toán năo. Nghiên
cứu hiện tại được tiến hành từ tháng
3 năm 2001 đến tháng 8 năm 2001 nhằm kiểm
chứng giá trị của thang điểm này. Nghiên
cứu này được thực hiện trên 190 bệnh
nhân (86 nhồi máu năo và 104 xuất huyết năo). Kết
quả cho thấy thang điểm có độ nhạy
chẩn đoán xuất huyết năo và nhồi máu năo
lần lượt là 84,2% và 88%, với độ chính xác
chung là 85,9%. Như
vậy sơ bộ có thể kết luận thang điểm
này đủ tin cậy để áp dụng thực
tế, hứa hẹn giúp các bác sĩ lâm sàng có
được chẩn đoán phân biệt giữa
nhồi máu năo và xuất huyết năo trên lều nhanh chóng
và có cơ sở, nhất là ở những nơi chưa
có điều kiện chụp cắt lớp điện toán. Validation study of the scoring system for the
clinical differential diagnosis between supratentorial intracerebral haemorrhage
and infarction.
Summary
The
diagnosis of stroke type, especially the differential diagnosis between
supratentorial intracerebral haemorrhage and infarction plays an important role
in the treatment and prognosis of the disease. In 1999 we had carried out a
study to develop a scoring system using clinical factors to distinguish these
two types of stroke. The result is as follow: Score = Mode
of onset (gradually or stepwise: 0, immediately: 2, quickly in 2hs: 4) +
Consciousness at onset (alert: 0, drowsy or stupor: 0.5, coma: 3) + Headache at
onset (no: 0, yes:1.5) + Vomiting (no: 0, yes: 1) + 1/20*Diastolic blood
pressure (mmHg) – History of TIAs, stroke, or diabetes (none: 0, at least one
of three: 1.5) – 7.5. The score of –1 or less indicates infarction while
the score of +1 or more indicates haemorrhage. The score from > –1 to
<+1 shows that the clinical diagnosis is in doubt and must be determined by
head CT scan The
current study was to validate this formula, taken place on 190 patients from
March 2001 to August 2001. In this study, the diagnosis using the score was
compared with that determined by head CT scan. The diagnostic sensitivities for
intracerebral haemorrhage and infarction were 84.2% and 88%, respectively. The
overall accuracy was 85.9%. The score is therefore worth using in clinical practice. It may provide a reliable and rapid clinical differential diagnosis between supratentorial haemorrhage and infarction, especially in those places where CT scan is not accessible.
ĐẶT
VẦN ĐỀ:
Tai
biến mạch máu năo (TBMMN) hiện là một vấn
đề đang được quan tâm nhiều trong xă
hội. Nó là một trong bốn nguyên nhân tử vong hàng
đầu ở hầu hết các quốc gia. Bên cạnh
đó, nó c̣n để lại di chứng nặng nề, làm
mất khả năng sinh hoạt độc lập, đồng
thời là một gánh nặng kinh tế cho gia đ́nh và xă
hội trong việc điều trị, phục hồi
chức năng, và chăm sóc về sau. Trong
thực hành lâm sàng, vấn đề chẩn đoán
thể TBMMN là rất quan trọng, là cơ sở cho điều
trị chính xác, an toàn và hiệu quả và cũng là cơ
sở giúp cho việc tiên lượng bệnh. Trong các
thể tai biến mạch máu năo th́ việc phân biệt
giữa nhồi máu năo (NMN) và xuất huyết năo (XHN) trên
lều là đáng quan tâm nhất v́ bệnh cảnh
của hai thể này không tách biệt rạch ṛi nhau trên
lâm sàng. Cho tới nay, chụp cắt lớp điện toán
(CLĐT) sọ năo là phương tiện an toàn và chính xác
nhất giúp chẩn đoán phân biệt hai thể này. Tuy
nhiên, đây là một thiết bị cao cấp, đắt
tiền, và giá thành của một lần chụp khá cao nên
hiện nay không phải lúc nào, nơi nào cũng có
thể có được h́nh ảnh CLĐT phục vụ
cho chẩn đoán và điều trị. Chính
v́ các lư do trên, cần thiết phải có một thang
điểm lâm sàng làm công cụ thay thế giúp chẩn
đoán phân biệt NMN và XHN trên lều. Yêu cầu
của thang điểm này là phải đơn giản,
dễ nhớ, dễ áp dụng, và quan trọng nhất là
phải có một độ nhạy và độ chính xác
hợp lư, đủ tin cậy. Chúng tôi đă tiến hành
nghiên cứu trong năm 1999 và đă lập được
một thang điểm bước đầu đạt các
yêu cầu nêu trên. Và mục tiêu của nghiên cứu
hiện tại là để kiểm chứng giá trị
của thang điểm mới được thiết
lập này. PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU:
Tóm
Lược Phần Nghiên Cứu Thiết Lập Thang Điểm: Mẫu
nghiên cứu bao gồm các bệnh nhân nhập khoa Thần
Kinh và trại 22B bệnh viện Chợ Rẫy trong
thời gian từ 1/5/1999 đến 30/11/1999, thỏa tiêu
chuẩn chẩn đoán TBMMN của Tổ Chức Y Tế
Thế Giới; nhập viện trong ṿng 72 giờ sau
khởi phát và có h́nh ảnh CLĐT sọ năo chụp
trong ṿng 7 ngày từ lúc khởi phát. Nghiên cứu không bao
gồm các bệnh nhân xuất huyết khoang dưới
nhện hoặc xuất huyết năo thất đơn
thuần, hoặc các bệnh nhân có dấu chứng
tổn thương thân năo nguyên phát (không phải do chèn
ép từ trên xuống). Các
dữ liệu thu thập được sẽ qua xử lư
đơn biến và sau đó một số biến
chọn lọc có giá trị sẽ được phân tích
đa biến bằng phương pháp hồi quy logistic
để t́m ra những biến thực sự có giá
trị trong chẩn đoán phân biệt hai thể tai
biến trong mối tương quan với các biến khác.
Kết quả là lập được một hàm số
biểu hiện sự liên quan giữa các biến độc
lập quan trọng với biến phụ thuộc, đó
là hàm logistic, có dạng G(x) = b0 + b1X1 + b2X2 + … + biXi, trong
đó b0 là hằng số; Xi là biến thứ i; bi là
hệ số tương ứng với biến Xi; i là
số thứ tự các biến trong hàm số. Từ hàm
số này sẽ tính được xác suất nhồi máu
năo và xuất huyết năo cho mỗi ca, theo công thức: xác
suất XHN: p(x) = e G(x) / (1 + e G(x) ); xác suất nhồi máu năo
: 1 – p(x) = 1/(1 + e G(x) ). Hàm số này cũng là cơ
sở để lập ra công thức tính điểm
để áp dụng thực tế trên lâm sàng giúp
chẩn đoán phân biệt NMN và XHN. Phần
Nghiên Cứu Kiểm Chứng Thang Điểm: Các
bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu, với tiêu chuẩn
chọn bệnh tương tự như phần nghiên
cứu trên, cũng được khám lâm sàng và áp
dụng thang điểm mới thiết lập để
chẩn đoán thể tai biến mạch máu năo. Kết
quả chẩn đoán này sau đó được so sánh
với kết quả chụp cắt lớp điện toán
sọ năo để thẩm định giá trị của
thang điểm. KẾT QUẢ:
Tóm
Lược Phần Nghiên Cứu Lập Thang Điểm: Nghiên
cứu được thực hiện trên 251 bệnh nhân
tai biến mạch máu năo thỏa các tiêu chuẩn chọn
bệnh và không phạm các tiêu chuẩn loại trừ,
trong đó có 109 ca NMN, chiếm 43%, và 142 ca XHN, chiếm 57%.
Mẫu nghiên cứu có 42% nữ và 58% nam, tuổi trung b́nh
là 61,14 và thời gian nhập viện trung b́nh là 21 giờ
36 phút từ lúc khởi phát bệnh. Các
biến khảo sát gồm có giới, tuổi, tiền căn
hút thuốc lá, tiền căn cao huyết áp, đau thăt
ngực, bệnh tim, tiểu đường, thoáng
thiếu máu năo hoặc tiền căn đột quỵ
thực sự; hoàn cảnh phát bệnh, kiểu khởi phát,
triệu chứng ói sau khởi phát, nhức đầu sau
khởi phát, co giật sau khởi phát, phân bố triệu
chứng thần kinh, dấu cổ gượng, dấu
mất mạch khu trú, tri giác lúc khởi phát, tri giác lúc
khám, và điểm Glasgow lúc khám, huyết áp sau nhập
viện. Phân
tích đơn biến chọn ra được 13 biến
có ư nghĩa thống kê để đưa vào phân tích
đa biến. Kết quả phân tích hồi quy đa
biến logistic: có 6 biến có giá trị nhất được
chọn vào công thức tính điểm chẩn đoán phân
biệt NMN và XHN trên lều. Kết
quả cuối cùng là công thức tính điểm sau:
Bảng 1: Công thức tính điểm phân biệt NMN và XHN trên lều: *Kiểu
KP: Chậm
hoặc bậc thang
0đ
*Tri giác KP:
Tỉnh hoàn toàn 0đ
Tức th́ đạt đỉnh
2đ
Ngủ gà, lẫnlộn
0,5đ
Nhanh đạt đỉnh < 2h
4đ
Mê thực sự
3đ *Nhức
đầu sau khởi phát : Có
1,5 đ
*Nôn ói sau khởi phát :
Có
1đ
Không
0 đ
Không
0 đ *Tiền
căn tai biến - tiểu đường
Không có cả ba
0 đ (
gồm thoáng TMN, TB thực sự, và TĐ)
Có ít nhất một
1,5đ *Huyết
áp tâm trương tính bằng mmHg Mốc
điểm số chẩn đoán là : Nếu Điểm số
= -1 : Chẩn
đoán nhồi máu năo.
Điểm số
= +1 : Chẩn
đoán xuất huyết năo.
Điểm số
> -1 và < +1 :
Không chắc chắn, cần phải chụp CLĐT năo. Với
mốc chẩn đoán này, áp dụng công thức tính
điểm trở lại cho mẫu nghiên cứu ta có
kết quả sau: Bảng
2: Kết quả chẩn đoán bằng thang điểm
mới lập trên mẫu nghiên cứu:
*
Độ nhạy chẩn đoán xuất
huyết năo :
90,6% *
Độ nhạy chẩn đoán nhồi máu năo
:
93,6% *
Giá trị tiên đoán dương của XHN :
94,6% *
Giá trị tiên đoán dương của NMN :
88,9% *
Độ chính xác chung :
91,9% Phần
Nghiên Cứu Kiểm Chứng Thang Điểm: Có
190 bệnh nhân được chọn vào phần nghiên
cứu này, với các tiêu chuẩn chọn bệnh và tiêu
chuẩn loại trừ tương tự như phần
đầu. Trong số này có 86 ca NMN, chiếm 45,3%, và 104 ca
XHN, chiếm 54,7%. Mẫu nghiên cứu có 36,3% nữ và 63,7%
nam, tuổi trung b́nh là 60,7 và thời gian nhập viện
trung b́nh là 24 giờ 56 phút từ lúc khởi phát bệnh. Các
bệnh nhân này được chẩn đoán bằng
thang điểm lâm sàng trên, sau đó so sánh với
kết quả chẩn đoán xác định bằng h́nh
ảnh cắt lớp điện toán năo. Kết quả có
được chẩn đoán ở 170 bệnh nhân (89,5%),
độ nhạy chẩn đoán XHN và NMN lần lượt
là 84,2% và 88%; giá trị tiên đoán dương cho XHN và
NMN lần lượt là 89,9%
và 81,5%; độ chính xác chung là 85,9%. Bảng3:
Kết quả chẩn đoán trên mẫu kiểm chứng
bằng thang điểm mới lập
BÀN
LUẬN
Tỉ lệ XHN và NMN
trong mẫu nghiên cứu lần lượt là 57% và 43%,
trong mẫu kiểm chứng là 54,7% và 45,3%. Như vậy
XHN hơi trội hơn NMN, trong khi theo y văn và theo các
nghiên cứu khác XHN luôn chiếm tỉ lệ nhỏ hơn
NMN. Sự khác nhau về tỉ lệ tai biến trong nghiên
cứu này so với số liệu chung. có thể giải
thích được là do mẫu nghiên cứu được
lấy ở bệnh viện Chợ Rẫy
là một bệnh viện trung ương, tuyến
cuối, nơi tập trung những ca bệnh nặng
nhất. Tai biến thể xuất huyết thường có
bệnh cảnh nặng nề hơn và tiên lượng
nặng hơn nên được nhập hoặc chuyển
đến bệnh viện Chợ Rẫy nhiều hơn.
Trong khi NMN tỉ lệ bệnh nhẹ nhiều hơn
được giữ lại
điều trị ở các tuyến tỉnh, quận
huyện. Kết quả
phân tích hồi quy đa biến logistic đă chọn ra
được 6 yếu tố có liên quan chặt chẽ
nhất với kết quả CT scan năo, có vai tṛ quan
trọng nhất để chẩn đoán phân biệt
nhồi máu năo và xuất huyết năo và được
lập thành công thức như bảng 1. Trong các yếu
tố đó, nhức đầu, ói, trị số
huyết áp tâm trương, tiền căn tiểu
đường, tiền căn cơn thoáng thiếu máu năo
và tiền căn tai biến mạch máu năo là các yếu
tố đă được công nhận từ lâu trong y văn
và cũng được sử dụng trong các công
thức chẩn đoán phân biệt thể tai biến khác.
Kiểu khởi phát tuy chưa được sử
dụng trong công thức tương tự nào trước
đây nhưng cũng không phải là một yếu
tố mới trong y văn. Riêng tri giác, tuy cũng là
một yếu tố quan trọng để phân biệt NMN
và XHN theo y văn cũng như theo các nghiên cứu khác nhưng
công thức của chúng tôi lại sử dụng mức
tri giác trong ṿng 2 giờ sau khởi phát chứ không dùng
tri giác lúc khám. Yếu tố này có bất lợi là ít khách
quan, nhưng nếu biết cách và khai thác kỹ th́
vẫn chính xác và lại hằng định hơn v́ không
phụ thuộc vào thời điểm khám. So sánh
với các thang điểm lâm sàng chẩn đoán thể
tai biến mạch máu năo trong các nghiên cứu trước
đây: Bảng
4: Thang điểm Siriraj của Poungvarin N. (SSS : Siriraj’s
Stroke Score) SSS = (2,5
* mức tri giác) + (2 * nhức đầu) + (2 * ói) +
(0,1 * HATTr) – (3 * dấu chứng XMĐM ) – 12 *
Tri giác
: Tỉnh
=0; Lơ mơ =1; Mê =2. *
Nhức
đầu trong ṿng 2 giờ sau khởi phát: Không =0; Có =1. *
Oí sau
khởi phát: Không =0; Có =1. *
Dấu
chứng XMĐM (tiền căn tiểu đường,
đau thắt ngực, và đau cách hồi): Không có
cả ba =0; Có ít
nhất một trong ba =1.
Nếu SSS > +1 Chẩn đoán xuất huyết năo.
< -1 Chẩn
đoán nhồi máu năo.
từ –1 đến +1 Chẩn
đoán không chắc chắn, cần chụp CT. Bảng 5:
Thang điểm Guy’s Hospital
của Allen CMC (c̣n gọi là thang điểm Allen) *
Mức
tri giác:Tỉnh= 0; Ngủ gà =+7,3; Mê =+14,6. *
Khởi
phát kiểu đột quỵ ( gồm mê lúc khởi phát,
nhức đầu trong ṿng 2h, và cổ gượng): không
có hoặc có một =0; Có ít nhất hai yếu tố
=+21,9. *
Phản
xạ da ḷng bàn chân: Đáp ứng gập 2 bên hoặc
duỗi 1 bên =0; Đáp ứng duỗi 2 bên =+7,1. *
Huyết
áp tâm trương sau 24 giờ:= ( Trị số
HATTr) x 0,17. *
Dấu
chứng XMĐM (Đau thắt ngực, tiểu đường,đi
cách hồi): Không có =0; Có ít nhất một =-3,7. *
Tiền
căn cao huyết áp: không =0; Có = - 4,1.
*
Tiền
căn cơn thoáng thiếu máu năo: Không =0; Có = -6,7. *
Bệnh lư tim
mạch: Không = 0; Aâm thổi van ĐM chủ hoặc 2 lá
=-4,3; Suy tim =-4,3; Bệnh lư cơ tim = -4,3; Rung nhĩ =
-4,3; Tim lớn (chỉ số tim/ngực >0,5) = -4,3; NMCT
trong 6 tháng = -4,3. *
Hằng
số = -12,6. Tổng
cộng nếu Điểm
> +24 Chẩn đoán
xuất huyết năo.
<+4 Chẩn
đoán nhồi máu năo.
từ +4 đến +24 Chẩn
đoán không chắc chắn, cần chụp CT. Khảo sát hai
thang điểm trên có thể dễ dàng nhận thấy
thang điểm Allen quá phức tạp với quá nhiều
yếu tố lâm sàng, mỗi yếu tố lại có
một điểm số riêng rất khó nhớ, không
thực tế, không thể áp dụng trên lâm sàng. Chúng tôi
cũng không có ư định kiểm nghiệm thang điểm
Allen trong nghiên cứu này. Thang điểm Siriraj đơn
giản hơn, có vẻ thực tế hơn. Nếu so sánh
giá trị chẩn đoán của thang điểm mới và
của hai thang điểm trên, cùng với giá trị
chẩn đoán của thang điểm Siriraj áp dụng trên
các bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu thứ nhất
của chúng tôi, ta có bảng kết quả sau: Bảng
6: So sánh giá trị chẩn đoán của các thang điểm:
Với
mẫu nghiên cứu kiểm chứng, kết quả
chẩn đoán bằng thang điểm mới và bằng
thang điểm Siriraj như sau: Bảng 7: So sánh
trên mẫu nghiên cứu kiểm chứng
Như
vậy, thang điểm của chúng tôi và thang điểm
Siriraj có các chỉ số trong tài liệu gốc gần tương
đương nhau, cả hai đều đơn giản,
dễ nhớ, có thể áp dụng trên thực tế lâm
sàng. C̣n thang điểm Allen th́ phức tạp hơn mà
giá trị lại không cao hơn, không áp dụng được.
Thang điểm của chúng tôi được thiết
lập trực tiếp trên bệnh nhân Việt Nam nên
sẽ phù hợp hơn khi áp dụng ở nước ta,
so với thang điểm Siriraj được thiết
lập trên bệnh nhân Thái Lan. Bằng chứng là khi áp
dụng thử thang điểm này cho các bệnh nhân trong
mẫu nghiên cứu và khi kiểm chứng th́ kết
quả của thang điểm này rơ ràng không bằng thang
điểm của chúng tôi (bảng 8, 9). Chúng tôi không có
ư loại bỏ thang điểm Siriraj; thang điểm này
vẫn có thể dùng làm phương tiện thay thế
với điều kiện phải có các nghiên cứu
kiểm chứng thêm nữa để có các điều
chỉnh thích hợp cho bệnh nhân Việt nam, nhất là
về điểm mốc chẩn đoán. KẾT
LUẬN
Tai
biến mạch máu năo là một bệnh lư phổ
biến nhất trong thần kinh học và cũng là
một vấn đề rất quan trọng trong xă
hội. Việc chẩn đoán phân biệt giữa NMN và
XHN có vai tṛ quan trọng quyết định cho điều
trị và tiên lượng bệnh. Cho tới nay, chụp
CLĐT là phương tiện chẩn đoán phân biệt
chính xác nhất; nhưng không phải ở đâu cũng
có thể thực hiện được. Nghiên cứu này
nhằm lập ra một thang điểm làm phương
tiện thay thế ở những nơi không có chụp CLĐT
để chẩn đoán phân biệt NMN và XHN trên
lều, và đă lập ra được một thang điểm
như thế. Thang điểm này qua kiểm chứng có
độ nhạy chẩn đoán xuất huyết năo là
84,2%, độ nhạy chẩn đoán nhồi máu năo là
88% và độ chính xác chung là 85,9%. Các thông số này có
khá hơn thang điểm Siriraj của Thái Lan nếu xét
riêng trên mẫu nghiên cứu này. Thang
điểm này hy vọng sẽ rất hữu ích trong
thực hành lâm sàng, giúp các bác sĩ có được
một chẩn đoán ban đầu về thể tai
biến mạch máu năo với một độ tin cậy
và chính xác khá cao nhờ đó sẽ có thể tự tin
hơn trong đánh giá, điều trị và tiên lượng
bệnh. Nó cũng là cơ sở để quyết định
có cần thiết phải chụp cắt lớp điện
toán sọ năo không, nhất là ở những bệnh nhân
có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Thang điểm này cũng
có thể dùng để lọc bệnh chọn mẫu cho
các nghiên cứu khác. Để
tăng cường xác nhận giá trị của thang điểm,
mong rằng sẽ có các nghiên cứu kiểm chứng
tiếp theo với mẫu lớn và ở nhiều trung tâm
khác nhau, nhiều tác giả khác nhau. Riêng nghiên cứu này
sẽ được tiếp tục tiến hành để
kiểm chứng trên một số lượng bệnh nhân
lớn hơn. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Phạm Hồng Minh và cộng sự. Một số
nhận xét về t́nh h́nh dịch tễ tai biến
mạch máu năo tại huyện Thanh Oai (1989 - 1994). Kỷ
yếu công tŕnh khoa học thần kinh. NXB Y Học 1996 :
128 – 132. 2.
Lê Văn Thành, Lê Thị Lộc và cộng sự .
Nghiên cứu sơ bộ về dịch tễ học
bệnh tai biến mạch máu năo tại ba tỉnh thành phía
Nam : TP. Hồ Chí Minh, Tiền Giang và Kiên Giang. Công tŕnh ngiên
cứu khoa học 1994-1995. Đại học Y Dược
TP. Hồ Chí Minh. 1995 : 163 – 169. 3.
Allen CM. Clinical diagnosis of the acute stroke syndrome. Q J Med 1983 ;
42 : 515 - 523. 4.
Bogousslavsky J, Melle GV, Regli F. The Lausanne Stroke Registry:
Analysis of 1000 consecutive patients with first stroke. Stroke 1988;
19:1083-1092. 5.
Celani MG, Righetti E, et al. Comparability and validity of two clinical
scores in the early differential diagnosis of acute stroke. BMJ. 1994;
308(6945): 1674-1676. 6.
Harrison MJG. Clinical distinction of cerebral haemorrhage and cerebral
infarction. Postgraduate Medical Journal 1980; 56:629-632. 7.
Hawkins GC, Bonita R, et al. Inadequacy of clinical scoring system to
differentiate stroke subtypes in population-based studies. Stroke 1995; 26(8):
1338-1342. 8.
Hosmer DW, Lemeshow S. Applied Logistic Regression. John Wiley & sons
ed.1989. 9.
Poungvarin N, et al. Stroke Epidemiological data of nine Asian countries.
J Med Assoc Thai . 2000; 83: 1-7. 10.
Poungvarin N, Viriyavejakul A, Chulaluk C. Siriraj stroke score and
validation study to distinguish supratentorial intracerebral haemorrhage from
infarction. British Medical Journal 1991(302): 1565-1567. 11.
Sandercock PAG, Allan CMC, et al. Clinical diagnosis of intracranial
haemorrhage using Guy’s Hospital score. BMJ 1985; 291: 1675 - 1677. 12.
Weir CJ, Murray GD, et al. Poor accuracy of stroke scoring system for
differential clinical diagnosis of intracranial haemorrhage and infaction.
Lancet 1994; 344(8928): 999-1002. 13.
Yamamoto H, Bogousslavsky T. Mechanism of second and further strokes. J
Neurol Neurosurg Psychiatry. 1998; 64:771-776.
| ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|