|
|
|
BỆNH
TEO CƠ TỦY TYPE III:
NHẬN
XÉT VỀ HAI TRƯỜNG HỢP VÀ ĐIỂM LẠI Y
VĂN
BS
CK II Lê Minh, Bộ môn Nội Thần kinh, Trường
ĐH Y Dược TP Hồ Chí Minh BS
Huỳnh Văn Phụng, BV Hoàn Mỹ BS
Võ Đôn, BV Nhân dân 115. Le
Minh, Huynh Van Phung, Vo Don: spinal muscular
atrophy type III - report
of two cases and review of the literature.
Y Hoc TP Ho Chi Minh, Special issue of Neurology, Vol. 7, Supplement of
No 4 * 2003: 150 - 155 TÓM TẮT:
Các
tác giả thông báo các đặc điểm lâm sàng,
điện cơ, và cây gia hệ của hai trường
hợp chị em ruột có đủ các tiêu chuẩn
chẩn đoán của bệnh teo cơ tủy type III:
yếu liệt ngoại biên đơn độc của
tứ chi và cơ trục thân diễn tiến nặng
dần, có hình ảnh điện cơ của mất phân
bố thần kinh vận động mạn tính, có cây
gia hệ phù hợp với kiểu hình di truyền
lặn theo ôtôzôm. Cha mẹ và ba anh chị ruột
của hai bệnh nhân cũng được khám thần
kinh và thăm dò điện cơ với kết quả bình
thường. Nhân hai trường hợp này, các tác
giả điểm lại y văn nói về nhóm bệnh
này trên các phương diện chẩn đoán, phân
loại và cơ sở di truyền học. The
authors report the clinical, electromyographic and pedigree of two cases of
spinal muscular atrophy type III: pure progressive peripheral paralysis of the
the trunk and the limbs, electromyographic findings of pure motor neuron
involvement with chronic denervation, and a pedigree showing a pattern of
autosomal recessive inheritance. All the parents and siblings of the two
patients were examined clinically and electromyographically
with normal results. On
the occasion of this report, a short review of the literature relating to this
type of hereditary motor neuronopathy is also carried out. Bệnh
teo cơ tủy (spinal muscular atrophy) là một bệnh di
truyền theo ôtôzôm lặn đã được đề
cập đến lần đầu tiên trong thập niên
90 của thế kỷ thứ 19 (1891) bởi Guido Werdnig
của Đại Học Vienna khi tác giả này công
bố một báo cáo với tựa đề là “ Hai trường
hợp teo cơ tiệm tiến sớm di truyền ở
trẻ con có biểu lộ của loạn dưỡng cơ
nhưng lại có nền tảng thần kinh” (Two early
infantile hereditary cases of progressive muscular atrophy appearing as
dystrophy, but on a neurotic basis). Thuật ngữ Đức văn
để nói về bệnh này là spinale Muskelatrophie đã
được đưa ra sử dụng trong năm 1892
tiếp theo bởi Johann Hoffmann của Đại Học
Heidelberg khi tác giả này công bố bài thông báo khoa
học về bệnh này trong tờ Arch Psychiatr (Berlin) dưới
tựa đề “Ueber chronische spinale Muskelatrophie im
Kindesalter, auf familiare Basis”.1 Thuật ngữ Anh văn tương
ứng đã được sử dụng kể từ
đó là là spinal muscular atrophy. Kể từ thời
điểm đó đến nay đã có nhiều
tiến bộ trong các lĩnh vực chẩn đoán,
giải phẫu bệnh học, phân loại và di
truyền học của nhóm bệnh này mà chúng tôi
sẽ điểm lại nhân dịp thông báo về hai trường
hợp được chẩn đoán ở đây.1,3,4 BỆNH ÁN 1
Nữ
bênh nhân NTN (SHS ngoại
trú A 32810), 19 tuổi (sanh 1984), đến khám thần kinh
tại bệnh viện Hoàn Mỹ vì yếu liệt
tứ chi. Khai thác bệnh sử và tiền sử các nhân
ghi nhận một tiền sử sản khoa bình thường,
nhưng chậm biết đi đứng (3 tuổi
mới biết đi). Kể từ đó đến nay
bệnh nhân ngày càng yếu dần đi và từ 10 năm
nay xuất hiện thêm triệu chứng run tay. Về
tiền sử gia đình, bệnh nhân là con út của
một gia đình có cha mẹ bình thường,
có hai người anh và hai người chị trong
đó người chị kế 21 tuổi cũng đã
phải ngồi xe lăn vì căn bệnh bệnh tương
tự. Thăm
khám thực thể ghi nhận một bệnh cảnh
yếu liệt đơn thuần kiểu ngoại biên không
có rối loạn cảm giác kèm theo. Bệnh nhân có
triệu chứng teo cơ ở tứ chi, còn đi đứng
được nhưng yếu phải vịn, có tư
thế ưỡn thắt lưng quá mức, hai đầu
gối lồi ra sau (genu recurvatum) lúc ở tư thế
đứng, để ngồi dậy từ tư thế
nằm ngửa thì phải xoay nghiêng thân mình rồi
chống hai tay, và ngóc cổ khó khăn trong tư thế
nằm ngửa. Cơ lực được khảo sát
ở tứ chi nằm trong khoảng từ 3/5 đến
4/5 theo phân độ MCR ( gấp bụng và gấp lưng
bàn chân: 4/5; gấp gối: 4/5; duỗi gối: 3/5;
gấp các ngón tay: 4/5; duỗi các ngón tay: 4/5; gấp
khuỷu: 4/5; duỗi khuỷu: 3/5; dạng cánh tay: 4/5; áp
cánh tay: 3/5). Các phản xạ gân cơ tứ chi bị
mất toàn bộ, phản xạ riêng của cơ còn nhưng
yếu, và không có sự hiện diện của dấu
hiệu tháp như dấu Babinski và dấu Hoffmann. Khảo
sát điện cơ cho thấy hình ảnh của
mất phân bố thần kinh vận động
đơn thuần và mạn tính ở cả chi trên
lẫn chi dưới với dẫn truyền vận
động và cảm giác bình thường, tăng điện
thế đâm kim, điện thế tự phát, các điện
thế đơn vị vận động (MUP) cao
rộng đa pha và giảm kết tập (bảng 1). Các
thăm dò cận lâm sàng thường qui khác gồm có công
thức máu, đường huyết, creatinin huyết,
bilan lipid máu, SGOT, SGPT, ion
đồ máu, ECG, X quang tim phổi thẳng đều
trong giới hạn bình thường. Tốc độ
lắng máu được ghi nhận có tăng cao
nhẹ (35 – 65 mm), định lượng men CPK trong máu
cho kết quả 369 U/L, tăng cao so với giá trị bình
thường (24 – 180 U/L). BỆNH
ÁN 2 Nữ
bệnh nhân NTND (SHS ngoại trú A 86670), 21 tuổi (sanh năm
1982), là chị ruột của trường hợp
bệnh nhân của bệnh án 1, cũng có những
biểu lộ về chậm biết đi đứng
(biết đi lúc khoảng 3 tuổi) và liệt hẳn
hai chân khiến phải ngồi xe lăn kể từ lúc
được 8 tuổi. Khám thực thể ghi nhận
một thiếu nữ có teo cơ tứ chi rõ nhất
ở cơ tứ đầu đùi và cơ cẳng chân,
phải ngồi xe lăn, không thực hiện được
cử động ngóc cổ khi nằm ngửa, có
liệt tứ chi với gốc nặng hơn ngọn
với cơ lực trong khoảng từ 3/5 đến 5/5
theo phân độ MCR (gấp mặt lưng và gấp
mặt lòng bàn chân; 4/5; gấp gối: 3/5; duỗi
gối: 2/5; gấp duỗi các ngón tay: 4/5; gấp
khuỷu: 4/5; duỗi khuỷu: 3/5; áp cánh tay: 3/5; dạng
cánh tay: 4/5; duỗi và gấp các ngón tay 5/5). Các phản
xạ gân cơ bị mất toàn bộ nhưng không có
sự hiện diện của các dấu hiệu tổn
thương bó tháp. Thăm khám cảm giác không ghi
nhận nhận bất thường. Khảo
sát điện cơ cho thấy hình ảnh của
mất phân bố thần kinh vận động
đơn thuần và mạn tính ở cả chi trên
lẫn chi dưới với dẫn truyền vận
động và cảm giác bình thường, tăng điện
thế đâm kim, điện thế tự phát, các MUP
cao rộng đa pha và giảm kết tập (bảng 1).
Các thăm dò cận lâm sàng thường qui khác gồm
có công thức máu, đường huyết, creatinin
huyết, bilan lipid máu, SGOT, SGPT, ion đồ máu, ECG, X
quang tim phổi thẳng đều trong giới hạn bình
thường. Tốc độ lắng máu được
ghi nhận có tăng cao nhẹ (20 – 40 mm), định lượng
men CPK trong máu cho kết quả bình thường là 94 U/L.
Bảng
1. Đặc
điểm khảo sát điện cơ của hai
trường hợp teo cơ tủy type 3
KHẢO
SÁT CÁC THÀNH VIÊN GIA ĐÌNH VÀ CÂY GIA HỆ Cha
(54 tuổi), mẹ (52 tuổi), hai anh (34 và 32 tuổi),
một chị ruột (27 tuổi) cùng với một cháu
trai của hai bệnh nhân đã được khám
thần kinh với kết quả bình thường.
Khảo sát điện cơ ký, gồm có khảo sát
dẫn truyền thần kinh và điện cơ kim, đã
được thực hiện cho năm thành viên này (không
thực hiện cho người cháu trai) và cũng cho
kết quả bình thường. Cây
gia hệ của hai chị em bệnh nhân cũng đã
được thiết lập
cho thấy trong bốn thế hệ kế tiếp
nhau (thế hệ ông bà, thế hệ cha mẹ, thế
hệ của các bệnh nhân, và thế hệ con cháu
của cac bệnh nhân) không có ai bị loại bệnh tương
tự. Đặc điểm này của cây gia hệ
gợi ý nhiều đến kiểu hình di truyền
liệt theo ôtôsôm, mặc dù không (hoặc chưa) khai thác
được yếu tố đồng huyết
thống vốn có thể rất hay gặp trong kiểu hình
di truyền này.
BÀN
LUẬN
Về
chẩn đoán Hai
trường hợp chị em ruột ở đây có
những đặc điểm nổi bật sau đây:
(1) bệnh cảnh của một bệnh liệt
ngoại biên đơn độc đối xứng
của tứ chi, xuất hiện từ bé lúc 3 tuổi
trở lên và ngày càng nặng dần; (2) đặc điểm
điện cơ nổi bật bao gồm kết quả
bình thường của khảo sát dẫn truyền
vận động và cảm giác, sự hiện diện
của hiện tượng mất phân bố thần kinh
ở cơ chi dưới trong khảo sát điện cơ
kim dưới hình thức của điện thế
tự phát và giảm kết tập, và sự hiện
diện của những bằng chứng về tính
chất mạn tính và nặng dần của bệnh dưói
hình ảnh của những điện thế đơn
vị vận động (MUP) cao rộng và đa pha; (3)
men creatinine kinase của cơ được ghi nhận
chỉ tăng nhẹ
ở một bênh nhân; (4) cây gia hệ phù hợp với
kiểu hình di truyền ẩn theo ôtôsôm. Những
đặc điểm này phù hợp nhất với
chẩn đoán của bệnh teo cơ tủy type III, còn
gọi là teo cơ tủy thiếu niên (juvenile spinal
muscular atrophy) hay hội
chứng Kugelberg-Welander.1,2 Các chẩn đoán phân biệt
ở đây gồm có bệnh loạn dưỡng cơ
gốc chi và bệnh viêm đa cơ. Điểm
lại y văn Lịch
sử của bệnh teo cơ tủy 1,2 Như
đã giới thiệu trong phần nhập đề,
bệnh teo cơ tủy đã được mô tả
lần đầu vào năm 1891 của cuối thế
kỷ 19 nhưng phải đến năm 1961 thì Byers và
Banker mới tiến hành lần đầu tiên việc phân
loại nhóm bệnh này, và đến năm 1964 thì
Dubowitz có công bố những nhận xét về mối tương
quan giữa tuôỉ phát bệnh với mức độ
nặng nhẹ của bệnh.1 Cách phân loại quốc
tế hiện hành thành ba thể bệnh gồm SMA I, SMA
II và SMA III là hệ quả của những nghiên cứu
và cộng tác quốc tế đã được công
bố trong các năm 1991 và 1995.1,2,4 Đây là một nhóm
bệnh di truyền nặng nề, có tiên lượng
xấu của trẻ em. Nghiên cứu của Mayo clinic trên
108 trường SMA trong khoảng từ 1955 đến 1975
đã cho thấy tỷ lệ tử vong là 32%, với
tuổi trung bình lúc chết là 65 tháng tuổi, và chỉ
35% bệnh nhân có thể đi đứng được
mà không cần trợ giúp.2 Phân
loại các bệnh teo cơ tủy 1,2 Bệnh
teo cơ tủy di truyền của thiếu niên nhi đồng
được chia ra thành ba loại I, II và III mà trong bài
này, để tiện dụng, chúng tôi dùng thuật
ngữ viết tắt tiếng anh là SMA I, SMA II và SMA III.
SMA I và SMA II là hai thể lâm sàng phân biệt với nhau
rất rõ ràng trong khi đó SMA II là thể bệnh trung
gian giữa hai thể loại trước. SMA I, thể
bệnh của trẻ nhũ nhi (bệnh Werdnig-Hoffmann) có
diễn tiến nặng nề với tuổi tử vong
trước 3 năm tuổi. SMA III, thể bệnh
thiếu nhi hay thiếu niên (hội chứng
Kugelberg-Welander) có tuổi xuất hiện trễ và
diễn tiến ít nặng nề hơn, phần lớn
bệnh nhân thuộc nhóm này sống đến tuổi
trưởng thành. Ngoài
ba thể bệnh nêu trên, người ta còn đề
cập đến một số thể bệnh khác
của nơron vận động ở trẻ con gồm
có liệt hành não tiệm tiến của thiếu niên
(bệnh Fazio-Londe hay juvenile progressive bulbar palsy), teo cơ
tủy thể vai-mác (scapuloperoneal SMA), teo cơ tủy
thể mặt-vai-cánh tay (facioscapulohumeral SMA), bệnh co
cứng nhiều khớp (arthrogryposis multiplex) có phối hợp
bệnh nơron sừng trước tủy, và teo cơ
tủy ngọn chi (distal SMA). Một biến thể
của bệnh SMA xuất hiện ở người trưởng
thành cũng đã được mô tả tại Anh
quốc nhưng có thể là một đơn thể
bệnh hoàn toàn khác với các thể bệnh trẻ
con.2,4 Bảng 2 giới
thiệu các đặc điểm chính phân biệt ba
thể bệnh SMA. Bảng
2.
Các đặc điểm phân biệt các thể
bệnh teo cơ tủy gốc chi (SMA)2
* Trong
một giai đoạn nào đó của quá trình diễn
tiến bệnh Kimura
J. trích dẫn theo Kloepfer và Emery Teo
cơ tủy I (SMA I) SMA
I với tên gọi khác như
teo cơ tủ nhũ nhi (infantile-onset spinal muscular
atrophy) hay bệnh Werdnig-Hoffmann, là thể bệnh của
trẻ nhũ nhi, có tiên lượng nặng nề và
xấu nhất, xuất hiện ngay lúc mới sanh ra đời
hoặc trong vòng chỉ vài tháng đầu sau khi sanh, và
thường dẫn đến tử vong trước khi
được 2 năm tuổi vì suy hô hấp. Bệnh
cảnh lâm sàng thường gặp là một trẻ nhũ
nhi yếu liệt và mất trương lực toàn
bộ, hoàn toàn không có cử động tự phát
ngoại trừ vài cử động ngo ngoe của bàn
tay và bàn chân. Các ngón tay của trẻ có thể có
những cử động run rất nhẹ mà người
ta gọi là polyminimyoclonus. Do yếu liệt nặng
nề các cơ nên hai chi dưới của trẻ thì luôn
luôn trong tư thế giống như chân ếch. Các cơ
liên sườn bị yếu liệt khiến trẻ
phải thở bằng cơ hoành rất kém hiệu
quả, ngoài ra trẻ còn biểu lộ khác như
lồng ngực bị lõm (pectus excavatum) và các xương
sườn dưới bị xoè ra khiến cho lồng
ngực có hình cái chuông. Một dấu chứng thường
gặp khác là rung bó cơ lưỡi. Các chức năng
cơ tròn và cảm giác của trẻ trái lại hoàn toàn
bình thường. Thiếu dinh dưỡng, viêm phổi hít
sặc và suy hô hấp là những biến chứng kinh
điển của thể bệnh này. Bệnh
có kiểu hình di truyền liệt theo ôtôsôm, và tỷ
lệ cha mẹ có yếu tố đồng huyết
thống của các bệnh nhi này được ghi
nhận cao hơn tỷ lệ của quần thể
chứng. SMA I chiếm tỷ lệ cao nhất trong ba
thể bệnh teo cơ tủy nhưng do trẻ bị
thể này chết sớm nên trong thực tế lâm sàng
người ta hay gặp các thể SMA II và SMA III
nhiều hơn. Teo
cơ tủy II (SMA II) SMA
II có những tên gọi đồng nghiã khác là teo cơ
tủy trung gian (intermediate form of SMA), teo cơ tủy
mạn tính (chronic spinal muscular atrophy). Trẻ bị
thể bệnh này thường có triệu chứng
xuất hiện lúc 6-8 tháng tuổi mặc dù ngay cả
trước đó, kể từ khi mới sanh, trẻ
đã có biểu lộ giảm trương lực các cơ.
Bệnh cảnh gồm có yếu liệt hai chi dưới
nhiều hơn hai chi trên khiến trẻ không đi đứng
được, và bàn chân biến dạng. Các phản
xạ gân cơ thuộc các vùng cơ liệt bị
mất trong khi đó phản xạ gân cơ thuộc các
vùng cơ bình thường vẫn còn hiện diện.
Triệu chứng minipolymyoclonus có thể là dấu
hiệu nổi bật ở các bệnh nhi này.
Nhiều
bệnh nhi SMA II có thể tự ngồi được
sau khi được giúp cho ở tư thế ngồi,
một số rất ít các bệnh nhi của thể này
có thể đứng hoặc bước đi chập
chững với sự giúp đỡ của người
khác. Tuổi tử vong trong khoảng từ 7 tháng đến
7 năm tuổi, một số bệnh nhân có thể
sống đến 30 và 40 tuổi. Bệnh có kiểu hình
di truyền liệt theo ôtôsôm. Teo
cơ tủy III (SMA III) Đây
là thể bệnh nhẹ nhất trong ba thể bệnh
teo cơ tủy và có tên gọi đồng nghĩa khác
là hội chứng Kugelberg-Welander hoặc teo cơ tủy
thiếu niên (juvenile SMA). Bệnh thường xuất
hiện trễ vào cuối lứa tuổi thiếu niên và
đầu lứa tuổi thanh niên với triệu
chứng teo cơ nổi bật ở gốc chi khiến
dễ chẩn đoán nhầm với bệnh loạn dưỡng
cơ gốc chi. Phần lớn các bệnh nhân SMA III có
lượng creatine kinase huyết thanh tăng. Dáng
đi như vịt, ưỡn thắt lưng, ưỡn
bụng vàcong ngược khớp gối với mặt
lồi ra sau (genu recurvatum) là những biểu lộ
được gặp thấy ở những bệnh nân
SMA III mà còn đi đứng được. Các phản
xạ gân cơ có thể mất hoặc còn nhưng không
bao giờ tăng. Tiên lượng về khả năng
độc lập đi đứng ở thể bệnh
này có liên quan mật thiết với tuổi khởi phát
triệu chứng yếu liệt cơ. Nếu yếu
liệt xuất hiện trước 2 tuổi, rất
nhiều khả năng bệnh nhi phải ngồi xe lăn
lúc 15 tuổi. Nếu yếu liệt xuất hiện sau 2
tuổi, bệnh nhi rất có khả năng còn đi
đứng được cho đến khi đạt
tuổi 50. Cả
hai kiểu di truyền liệt và trội theo ôtôsôm đều
có thể được gặp trong thể bệnh SMA
III. Di
truyền học của SMA3,4 Các
nghiên cứu dịch tễ học cho thấy đa
phần các trường hợp teo cơ tủy có
kiểu di truyền liệt theo ôtôsôm với tỷ
lệ giới nam và nữ bị bệnh ngang nhau, tuy nhiên
kiểu di truyền trội theo ôtôsôm cũng đã
được gặp, mặc dù hiếm hơn. Gilliam
và cộng sự đã chứng minh được vào năm
1990 là SMA di truyền liệt theo ôtôsôm có nối kết
với nhiễm sắc thể 5q11.2-13.3, đến 1994
Melki và cộng sự thông báo về sự hiện
diện của những mất đoạn quan trọng
của 5q.11.2-13.3 trong thể SMA I. Hiện nay bất thường
chính của gien đã được công nhận trong
bệnh SMA là biến đổi đứt đoạn
của gien SMN tại 5q13 (SMN: survival motor neuron gene)
vốn được gặp trong hơn 98% các trường
hợp SMA. Ngoài ra đứt đoạn của gien NAIP
(neuronal apoptosis inhibitory protein gene) trên vị trí 5q13 cũng
đã được ghi nhận ở 67% các trường
hợp SMA. Protein
của SMN được ghi nhận có bị giảm
trong tủy gai của các bệnh nhi SMA nhưng vai trò
đích thực của protein chưa được
biết rõ. Protein SMN được tìm thấy trong
tế bào chất của nơron và trong những cấu
trúc của nhân tên gọi là “gems”, tại nơi này
protein SMN có kết nối với protein liên kết
ribonucleic acid và do đó được cho rằng có
thể có vai trò trong sự sinh tổng hợp các
ribonucleoprotein. Thăm
dò cận lâm sàng1,2 Phát
hiện về gien SMN đã làm thay đổi qui trình
chẩn đoán bệnh SMA vì xét nghiệm phân tích DNA
trong máu có thể giúp xác định chẩn đoán
bệnh. Trong trường hợp chẩn đoán di
truyền đã xác định
trẻ có đột biến của gien SMN thì không
cần thiết phải tiến hành các thăm dò cận
lâm sàng khác. Nếu không phát hiện được
hiện tượng đột biến (hoặc nếu chưa
có phương tiện phân tích DNA) thì cần tiến hành
các xét nghiệm cận lâm sàng kinh điển được
sau đây: định lượng men cơ; thăm dò
điện sinh lý thần kinh cơ gồm khảo sát
dẫn truyền thần kinh và điện cơ kim; sinh
thiết cơ. Creatinin
kinase có thể bình thường hay tăng trong bệnh
SMA, nhưng cần lưu ý là trong các thể SMA I và II lượng
men này trong huyết thanh thường trong giới hạn
bình thường. Các
tốc độ dẫn truyền thần kinh đều
bình thường trong bệnh SMA, đôi khi có thể cao
hơn cả bình thường. Nếu cơ đã teo quá
nhiều việc khảo sát dẫn truyền thần kinh
sẽ bị trở ngại lớn, thậm chí không
thể thực hiện được. Theo các tiêu
chuẩn chẩn đoán SMA, tốc độ dẫn
truyền vận động và cảm giác bình thường
là một tiêu chuẩn bắt buộc phải có trong các
trường hợp chẩn đoán SMA trên lâm sàng nhưng
không tìm thấy được đột biến
của gien. Điện cơ kim cho thấy sự hiện
diện của các điện thế tự phát chứng
tỏ có tình trạng mất phân bố thần kinh
cấp: điện thế rung sợi cơ hiện
diện trong 20, 40, 64% các trường hợp, tuỳ theo
công trình nghiên cứu. Điện thế rung bó cơ có
thể được gặp nhiều hay ít. Phóng lực
phức tạp từng chuỗi lập đi lập
lại cũng có thể được gặp. Các
hoạt động điện tự phát xuất
hiện ở chi dưới nhiều hơn chi trên, ở
cơ gốc nhiều hơn cơ ngọn chi. Các MUP thường
có biên độ cao và có kết tập giảm khi co cơ
gắng sức. Trong các trường hợp tiến
triển đã lâu, có thể xuất hiện thêm các
điện thế nhỏ đa pha của tổn thương
cơ thứ phát do teo cơ. Sinh
thiết cơ cho thấy hình ảnh của teo các
sợi cơ do tổn thương thần kinh và hình
ảnh của tái phân bố thần kinh gồm các bó
sợi cơ bị teo và xen kẽ vào đó là sự
hiện diện của các sợi cơ type 1 tròn và to. Xử
trí SMA1,4 Đến
nay chưa có điều trị đặc hiệu
bệnh SMA do đó điều trị các biến
chứng của bệnh là chủ yếu. Các biến
chứng của SMA gồm có bệnh phổi hạn
chế, suy hô hấp, thiếu dinh dưỡng, bón, các
biến dạng xương khớp như tật bàn chân
và vẹo cột sống, các rối loạn tâm lý mà
trẻ phải chịu đựng do phế tật. ·
Đề
tài được sự tài trợ của Ban Giám Đốc
Bệnh Viện Hoàn Mỹ, Tp Hồ Chí Minh ·
Đề tài này
thuộc về Chương Trình Nghiên Cứu Bệnh
Thần Kinh Di Truyền của Bệnh Viện Đại
Học Y Dược Tp Hồ Chí Minh.
|
|
|