THAM KHẢO THẦN KINH HỌC

SSEPs

Home Up Feedback Contents Search

 

TMS

CÁC ĐIỆN THẾ GỢI CẢM GIÁC THÂN THỂ (SSEPs): Nghiên cứu bước đầu trên một số bệnh nhân tai biến mạch máu não

Tiến sỹ Y khoa Nguyễn Hữu Công, Khoa nội Thần kinh, Bệnh viện 175.

TÓM TẮT: Nghiên cứu của chúng tôi về SSEPs của dây giữa là đầu tiên ở Việt nam. Chúng tôi đã ghi SSEPs trên 24 bệnh nhân bị tai biến mạch não. Thấy có 3 điện thế ở bên lành là: N9 có thời gian tiềm trung bình 9,65 ms, N13 có thời gian tiềm trung bình 13,09 ms và N20 có thời gian tiềm trung bình 19,40 ms. Không tìm thấy tương quan tuyến tính với tuổi và chiều cao. So sánh bên bệnh với bên lành thấy thời gian tiềm không có khác biệt rõ rệt, trong khi biên độ N20 có biến đổi rõ trên 12/24 người. Nghiên cứu chứng tỏ biên độ N20 có ích trong chẩn đoán và tiên lượng tai biến mạch não.

1- ĐẶT VẤN ĐỀ:

Trong những năm gần đây, phương pháp khám nghiệm các điện thế gợi cảm giác thân thể (Somatosensory Evoked Potentials - SEPs) đã trở nên một phương pháp chẩn đoán có giá trị trong thần kinh học hiện đại. Nó có thể khảo cứu được hệ thống hướng tâm từ các dây thần kinh ngoại vi tới vỏ não. Tuy vậy ở Việt nam, cho tới nay chúng tôi chưa nhận được báo cáo chính thức nào về SSEPs.

2- PHƯƠNG PHÁP:

2.1. Đối tượng: Bệnh nhân bị chảy máu não hoặc huyết khối mạch não ở một bán cầu đại não, xác chẩn bằng CT scan. Loại trừ bệnh nhân có tiềm năng viêm đa dây thần kinh bằng xét nghiệmUre, Creatinin máu, tiền sử tiểu đường, nghiện rượu…

2.2. Kỹ thuật: Máy ghi điện cơ NEUROPACK 8. Điện cực kích thích dây thần kinh giữa đặt ở cổ tay. Kích thích bằng xung điện có cường độ 4-10 mA. Kích thích 1 000 lần. Dùng 4 cặp điện cực ghi đặt theo sơ đồ quốc tế - xem thêm trong minh họa SSEPs. Ghi SSEPs cả hai bên: bên liệt/ bại và bên lành.

2.3. Xử lý thống kê:

SSEPs bên lành là SSEPs khi kích thích bên không liệt, SSEPs bên bệnh khi kích thích điện bên tay bị liệt.

Coi các số liệu ghi được bên lành là gần bình thường, khảo sát tương quan giữa thời gian tiềm của các điện thế SSEPs với tuổi hoặc chiều cao của người bệnh, dựa trên hệ số tương quan r.

Xếp 2 thời gian tiềm của cùng một điện thế (ví dụ N9 bên lành và N9 bên bệnh) của cùng một bệnh nhân vào thành 1 cặp, ta có chuỗi các cặp. Dùng kiểm định t - test theo cặp, để tìm khác biệt thời gian tiềm bên bệnh so với bên lành.

3 - KẾT QUẢ:

Chúng tôi ghi SSEPs trên 24 bệnh nhân bị tai biến mạch não. Gồm 12 Nam và 12 Nữ. Tuổi 46-93, trung bình là 65,0 (SD = 10,85). Chiều cao 145-175, trung bình 159 cm (SD = 7,5).

3.1. SSEPs bên lành: Điện thế N9 thời gian tiềm trung bình 9,65 ms. Điện thế N13 thời gian tiềm trung bình 13,09 ms. Điện thế N20 thời gian tiềm trung bình 19,40 ms. (Xem thêm hình minh họa)

Tương quan thời gian tiềm SSEPs bên lành với tuổi và chiều cao:

  N9 N13 N20
Hệ số tương quan r với chiều cao 0,011 0,446 0,332
Hệ số tương quan r với tuổi 0,001 -0,095 -0,009

3.2. SSEPs bên bệnh:

So sánh thời gian tiềm của SSEPs bên bệnh với bên lành:

  N9 N13 N20
Bên lành 9,65* (0,63**) 13,09 (1,06) 19,40 (1,14)
Bên bệnh 9,73 (0,77) 13,19 (1,05) 19,59 (1,39)

Kiểm định t - test cho thấy khác biệt về thời gian tiềm của N9, N13 và N20 giữa 2 bên không có ý nghĩa thống kê(P<0,005).

3.3. So sánh hai bên về biên độ:

Biên độ N9 và N13 hai bên không có khác biệt. Nhưng N20 có 4 kiểu khác biệt: 1) Mất N20 bên bệnh (6/24); 2) Biên độ bên bệnh giảm nặng (£ 50% so với bên lành: 4/24); 3) Biên độ bên bệnh giảm nhẹ (>50%: 2/24); 4) Không khác biệt rõ ràng.

4- BÀN LUẬN:

Khi kích thích điện vào thân dây thần kinh, xung hướng tâm đi dọc theo dây thần kinh, vào tủy sống, lên tới vỏ não. Người ta cho rằng nguồn phát của N9 là đám rối cánh tay, N13 phản ánh hoạt động của những nhân của cột sau, phóng chiếu đồi thị - vỏ não đóng vai trò chính cho N20. So sánh SSEPs của chúng tôi với số liệu bình thường trên người tình nguyện khỏe mạnh của các tác giả khác, mặc dù liệu của chúng tôi chỉ được phép coi là gần bình thường, nhưng vẫn khá tương tự nhau.

Chúng tôi không chứng minh được tương quan tuyến tính giữa thời gian tiềm của SSEPs với chiều cao hoặc với tuổi.

Khác biệt về thời gian tiềm của N20 giữa bên bệnh và bên lành không rõ ràng. Ngược lại, biên độ khác biệt ở khoảng ½ số bệnh nhân. Thực tế thấy những người có N20 bên bệnh bị mất hoặc giảm nặng (10/24 bệnh nhân), thì hồi phục vận động và chức năng nói chung kém. Điều đó gợi ý sử dụng SSEPs như là một trong các yếu tố góp phần tiên lượng khả năng hồi phục.

5- KẾT LUẬN:

Khám nghiệm SSEPs giúp xác định tổn thương hệ thống hướng tâm từ hệ thần kinh ngoại vi cho tới tận khu vực của vỏ não. Nghiên cứu của chúng tôi về SSEPs của dây giữa là đầu tiên ở Việt nam. SSEPs của dây giữa ở bên lành gồm có 3 điện thế tương đối ổn định là N9, N13 và N20. Các số liệu gần bình thường (bên lành) của chúng tôi tương đối giống với của các tác giả khác trên thế giới.

Thời gian tiềm của tất cả các SSEPs không thay đổi rõ rệt, khi so bên bệnh với bên lành. Nhưng biên độ của N20 ở khoảng ½ số bệnh nhân được nghiên cứu có suy giảm ít nhiều. Trong 24 bệnh nhân được nghiên cứu, biên độ N20 giảm nặng hoặc mất N20 thấy ở 10 bệnh nhân. Quan sát hồi phục trên lâm sàng, chúng tôi thấy biên độ N20 có thể góp phần giúp tiên lượng khả năng hồi phục cho các bệnh nhân, chứng tỏ SSEPs có một giá trị nhất định trong đánh giá tổn thương chức năng thần kinh, và có thể góp phần vào tiên lượng của TBMMN.

Trở về đầu trang