|
|
NGHIÊN
CỨU ÁP DỤNG PHẪU THUẬT ĐỊNH VỊ KHÔNG
GIAN BA CHIỀU ĐỂ CHẨN ĐOÁN CÁC THƯƠNG
TỔN SÂU TRONG ĐẠI NĂO
Trích
tóm tắt luận án tiến sỹ y học của tác
giả Dương Minh Mẫn, bộ môn Ngoại Thần
kinh, Trường ĐH Y Dược TP HCM. Người hướng dẫn khoa
học: TS. TRƯƠNG VĂN
VIỆT. và TS. TRẦN HÀNH
Nghiên cứu tiền cứu trên
số bệnh nhân được
làm phẫu thuật định vị không gian ba
chiều tại Khoa ngoại thần kinh Bệnh viện
Chợ Rẫy từ tháng
1 năm 1996 đến tháng 8 năm 2002. Tiêu chuẩn chọn bệnh: Các
bệnh nhân đang điều trị tại khoa Ngoại
Thần kinh Bệnh viện Chợ Rẫy thỏa các điều
kiện sau: Có chỉ định
làm phẫu thuật định vị không gian ba chiều
để sinh thiết các thương tổn trong năo. Có
C.T năo và/hoặc M.R.I năo: trước và sau khi làm phẫu
thuật định vị không gian ba chiều. Nội
dung nghiên cứu: Nghiên
cứu các yếu tố lâm sàng có ảnh hưởng
tới phẫu thuật định vị không gian ba
chiều: Tri giác, điểm Karnovsky, Dấu hiệu
thần kinh (Yếu, liệt nửa người, tay
chân...) Nghiên
cứu h́nh ảnh học: kích thước, vị trí,
mật độ, tính bắt cản quang... Xác
định độ chính xác, an toàn của phẫu
thuật định vị không gian ba chiều: Tư
thế bệnh nhân,
dụng cụ làm phẫu thuật, Đường
rạch da, lỗ khoan sọ. Khảo
sát phẫu thuật định vị không gian ba chiều
đối với một số thương tổn năo
cụ thể: như u sao bào, u tuyến tùng, nhiễm trùng
đại năo và các thương tổn năo ở trẻ
em. Phương
pháp nghiên cứu . Phương
pháp mô tả tiền cứu trường hợp phẫu
thuật định vị không gian ba chiều từ 1/1996
đến 8/2002 số liệu được sử lư
bằng phương pháp thống kê mô tả, phép tính
ước lượng, phép kiểm chi b́nh phương. Mô
tả dụng cụ phẫu thuật định vị không
gian ba chiều được sử dụng tại BVCR:
khung Leksell kiểu G, kim Sedan, máy C.T scan. KẾT
QUẢ NGHIÊN CỨU
Số bệnh
nhân được làm phẫu thuật định vị
không gian ba chiều từ tháng 01/1996 đến tháng 08/2002
tại Khoa Ngoại thần kinh Bệnh viện Chợ
Rẫy là 162 trường hợp
Diễn
tiến lâm sàng sau phẫu thuật định vị:
tốt 97%. Trung b́nh 2%, kém 1%. Biến chứng chảy máu khi
mổ, phải mở sọ cầm máu 2BN (= 1,23%); Chảu
máu lúc mổ và tự cầm 16 BN (= 9,87%); Chảy máu
chỉ thấy trên C.T năo kiểm tra sau phẫu thuật
định vị không gian ba chiều, lâm sàng không
nặng hơn 12 BN (= 7,4%). Có 30 bệnh nhi được
phẫu thuật định vị. Bệnh nhi dưới
6 tuổi đều được gây mê. Độ chính xác và an toàn
của phẫu thuật định vị không gian ba
chiều Chuẩn
bị bệnh nhân trước phẫu thuật định
vị không gian ba chiều: Khám lâm sàng, nghiên cứu
hồ sơ và giải thích cặn kẽ các kỹ
thuật phẫu thuật định vị không gian ba
chiều. Hai mươi bốn giờ trước phẫu
thuật định vị không gian ba chiều bệnh nhân
được dùng dexamethasone với liều 4 mg, ba lần
trong ngày, liều này được giảm dần vào ngày
thứ hai sau mổ và ngưng hẳn vào ngày thứ tư
sau mổkhông gian ba chiều . Tiến tŕnh tính tọa độ mục tiêu: Chúng
tôi đă soạn quy tŕnh phẫu thuật định
vị không gian ba chiều khá chi tiết, phổ biến
cho nhóm làm phẫu thuật định vị không gian ba
chiều tại Bệnh viện Chợ Rẫy, với mong
muốn có cách làm thống nhất hầu đạt
được kết quả tốt. Tư thế bệnh nhân khi gắn
khung cơ bản: Bản thân tôi sau vài trường
hợp đầu tiên đặt khung cơ bản cho
bệnh nhân ở tư thế ngồi, sau đó tất
cả bệnh nhân khác đều được đặt
khung cơ bản ở tư thế nằm. Tư thế
nằm có các lợi điểm như sau: Bệnh nhân
đỡ lo sợ hơn; Người phụ giữ đầu
bệnh nhân tốt Tư thế bệnh nhân
lúc làm phẫu thuật định vị không gian ba
chiều: Tư
thế nằm, đầu cao hơn mặt phẳng lưng
300, bảo đảm vô trùng, thiết bị phẫu
thuật định vị không gian ba chiều được
cơ động. Phương pháp vô
cảm: 94,44% bệnh
nhân được gây tê tại chỗ. Lợi ích
rất rơ của việc gây tê tại chỗ là chúng tôi
có thể theo dơi tri giác bệnh nhân ngay trong lúc mổ, và
sau mổ. Khung phẫu thuật
định vị không gian ba chiều: Khung
Leksell kiểu G, cho phép tính toán chính xác các mục tiêu
trong năo, với điều kiện khung cơ bản
phải được đặt song song với giá đỡ
đầu máy C.T năo; Dụng
cụ sinh thiết mục tiêu: kim sinh thiết Sedan,
được thiết kế bởi Giáo sư Robert
Sedan (Trưởng Khoa ngoại thần kinh người
lớn và chức năng của bệnh viện La Timone,
Marseille), theo y văn, tỷ lệ chảy máu khi dùng kim
SEDAN sinh thiết sang thương năo xảy ra từ
0% - 2,5% Đường
rạch da, lỗ khoan sọ trong phẫu thuật định
vị không gian ba chiều: Đường
rạch da chỉ cần 3 cm là đủ thao tác phẫu
thuật dùng khoan sọ thông thường, tạo 1 lỗ
sọ đường kính 1cm. Chọn
lựa mục tiêu:
để có kết quả cao trong chẩn đoán, cần
dựa trên tính chất h́nh ảnh của C.T năo, để
chọn mục tiêu lấy một loạt mẫu mô
sang thương, từ vùng giảm đậm độ
ở trung tâm tới vùng
viền bắt cản quang Có một trường hợp
tử vong hai ngày sau phẫu thuật định vị không
gian ba chiều bệnh nhân có u rất to vùng tuyến tùng,
ngày thứ hai sau phẫu thuật bệnh nhân lên cơn
động kinh toàn thể, hồi sức không hồi
phục Thang điểm Karnovsky
sau mổ:
không đổi (97,53%). Đây là kết quả tốt, tương
tự như ở các nghiên cứu khác. Phẫu
thuật ở một số vùng trong năo Thương tổn
ở vùng trán: Dùng
lỗ khoan gần hộp sọï trán đính, hướng
chọc kim từ nông tới sâu. Có thể dùng hướng
chọc kim theo mặt phẳng ngang: từ trước ra
sau, từ trong ra ngoài, hay chọc nghiêng theo mặt
phẳng của các lát cắt năo theo C.T năo. Nếu thương
tổn vùng trán lan xuống thể chai Kelly,
khuyên nên dùng đường chọc ngoài vào trong
để đi dưới động mạch quanh thể
chai. Thương tổn vùng
đỉnh: Dùng
đường chọc kim
đi từ trước ra sau theo mặt phẳng ngang. vùng
đỉnh ở vị trí nông,
không nên dùng đường chọc từ trước ra
sau mà phải dùng đường chọc đi từ sau
ra trước, lúc này bệnh nhân ở tư thế
nằm sấp, để tránh chọc qua rănh trung tâm Thương tổn
ở vùng thái dương: Dùng
mặt phẳng ngang hay gần ngang để hướng
kim sinh vào thương
tổn trước ngoài thùy thái dương, bệnh
nhân cần nằm ở tư thế nghiêng 900. Thương
tổn phía sau thùy thái dương
có khuynh hướng lan vào phía trong, có thể dùng hướng
sinh thiết sau - trước , bệnh nhân nằm ở tư
thế nằm sấp, lỗ khoan sọ đặt ở vùng
chẩm hay đỉnh chẩm Với
hướng chọc này có thể
tránh được các mạch máu vùng Sylvienne. Thương tổn
ở vùng nhân đáy năo: thương
tổn ở vùng nhân đuôi, nhân vỏ hến, nhân
cầu nhạt được sinh thiết qua lỗ khoan sọ
ở khớp trán – đính với hướng từ trên
xuống dưới. Thương tổn
ở vùng đồi thị: Phía
trước và giữa đồi thị có thể dùng
lỗ khoan sọ ở khớp trán
đính, vùng phía sau đồi thị, có thể dùng
đường chọc từ vùng đỉnh sau Thương tổn
ở vùng tuyến tùng: Sinh
thiết sang thương vùng tuyến tùng có lợi điểm
hơn hẳn so với mổ lớn vào vùng tuyến tùng,
phẫu thuật định vị không gian ba chiều có
tỷ lệ biến chứng và tử vong rất thấp, trong khi các cuộc mổ lớn thường
có nhiều biến chứng và tử vong. Kelly thường
dùng lỗ khoan sọ trước khớp trán đính
gần 4 cm, để hướng mũi kim sinh thiết vào
vùng tuyến tùng bằng đường trước ngoài
hướng vào phía sau trong. Với đường này kim
sinh thiết sẽ đi dưới tĩnh mạch năo
trong, phía trước và phía trên tĩnh mạch Rosenthal.
Sau khi nghiên cứu kỹ giải phẫu vùng tuyến tùng,
áp dụng đường vào của Kelly (từ năm
2001) biến chứng chảy máu đă bớt nhiều. Chúng
tôi thường dùng lỗ khoan sọ gần đường
giữa, để tránh đi qua thể chai, đồithị. Phẫu thuật định
vị không gian ba chiều và một số thương
tổn năo ở trẻ em: Vị
trí u thường ở sâu: kim thường chọc sâu trên
5cm, ở vùng tuyến tùng cần chọc với kim có
độ dài trên 10cm. U sao bào ở các bệnh nhi
chiếm tỉ lệ 33,33%. Biện luận về
kết quả giải phẫu bệnh: Theo
y văn nước ngoài, tỷ lệ bệnh nhân
được chẩn đoán mô học chính xác, hậu
phẫu an toàn chiếm từ 60 – 93%. Trong nghiên cứu
của chúng tôi, kết quả tốt chiếm tỷ
lệ 96,92%. Bệnh nhân xuất viện trong t́nh trạng
tốt, chỉ có một trường hợp tử vong 2
ngày sau làm phẫu thuật. Có hai trường hợp
triệu chứng liệt nửa người tăng hơn
sau phẫu thuật (3,07%). Kết quả chẩn đoán mô
học bệnh lư trong nghiên cứu này chỉ chiếm
86,75%, có 9 trường hợp (13,84%) giải phẫu
bệnh trả lời là mô năo b́nh thường, mô năo
hoại tử. Các sang thương viêm ở hệ
thần kinh trung ương như viêm năo lao, áp xe năo
chiếm 8,67%. Các thương tổn trong năo sâu, trong quá
tŕnh làm chẩn đoán, chúng tôi phát hiện máu, dịch
mủ và nhân thể áp dụng luôn phẫu thuật định
vị không gian ba chiều để điều trị (hút
dịch), chứ thật ra vấn đề áp dụng
phẫu thuật định vị không gian ba chiều trong
điều trị bệnh lư nội ngoại thần kinh
không phải là mục đích của nghiên cứu này. KẾT
LUẬN
1.
Đặc điểm lâm sàng: Phẫu
thuật định vị không gian ba chiều có thể áp
dụng cho tất cả lứa tuổi từ mười
tám tháng trở lên, với bản xương sọ dày hơn
3mm. Lứa
tuổi được làm phẫu
thuật định vị không gian ba chiều
nhiều nhất là
từ 11-50 tuổi (76,54%) Triệu
chứng lâm sàng thường có của u năo: nhức đầu(86,42%),
ói (47,53%), phù gai thị(38,27%), và yếu nửa người(36,41%).
Các triệu chứng này thường không nặng thêm sau
phẫu thuật. 2.
Đặc điểm h́nh ảnh của sang thương : Vị
trí các sang thương ở vùng sâu (đồi thị,
tuyến tùng) chiếm tỉ lệ 44,44%. Các
u có đường kính sang
thương dưới 29mm chiếm tỉ lệ 83,55% Khảo
sát kỹ đặc điểm h́nh ảnh của sang thương
trên C.T năo, M.R.I năo khi làm
phẫu thuật định vị không gian ba chiều giúp
chọn lựa mục tiêu sinh thiết thích hợp, có
kết quả mô học chính xác và ít biến chứng. 3.
Độ chính xác, tính an toàn của phẫu thuật
định vị không gian ba chiều. Phẫu
thuật định vị không gian ba chiều có thể
sinh thiết chính xác các thương tổn có đường
kính lớn hơn 1mm. Phẫu
thuật định vị không gian ba chiều có thể áp
dụng để sinh thiết các sang thương sâu (đồi
thị, tuyến tùng…) nơi mà các phẫu thuật kinh
điển không tiếp cận được hoặc
để lại nhiều biến chứng sau phẫu
thuật. Độ
chính xác, tính an toàn của phẫu thuật định
vị không gian ba chiều tùy thuộc vào sự chuẩn
bị kỹ lưỡng bệnh nhân trước mổ, tư
thế bệnh nhân lúc tính tọa độ, lúc tiến hành
phẫu thuật, và cách chọn lựa phương pháp vô
cảm. Kim
Sedan - Nashold dùng trong phẫu thuật định vị không
gian ba chiều có tính an toàn cao. Biến chứng xuất
huyết chỉ gặp ở 18,51%, đa số chảy máu
thường tự cầm ngay trong lúc mổ (9,87%),
chảy máu sau làm phẫu thuật định vị không
gian ba chiều và chỉ phát hiện trên C.T năo kiểm tra
((7.40%), và chỉ một số nhỏ phải mở
sọ cầm máu (1,25%) Chọn
lựa lỗ khoan sọ, đường vào sang thương
có tính quyết định sự an toàn (tránh chảy máu):
·
Tổn thương
vùng tuyến tùng: lỗ khoan sọ gần đường
giữa, trước khớp trán đính, hướng kim
chọc song song với mặt phẳng dọc của
hộp sọ. ·
Tổn thương
vùng trán đính gần rănh trung tâm: lỗ khoan sọ nên
đặt ở vị trí gần tổn thương
nhất, hướng kim chọc song song với mặt
phẳng dọc, tránh chạm vào tiểu thùy cạnh trung
tâm. ·
Tổn thương
vùng thái dương: hướng kim chọc trước
sau, hoặc song song với rănh Sylvienne tránh dùng đường
thẳng góc với vỏ năo thùy thái dương. 3.
Các thương tổn cụ thể trong năo: U
sao bào chiếm tỉ lệ 50,61% các u năo. Không có biến
chứng nặng khi làm phẫu thuật định vị
không gian ba chiều so với phương pháp mổ kinh
điển. U
vùng tuyến tùng chiếm tỉ lệ 17,28% các u năo,
phần lớn là u mầm bào (85,71%). Biến chứng
chảy máu (42,8%) thường gặp hơn so với u sao
bào, tuy nhiên đă có 42,8% trường hợp tự cầm máu sau
khi xoay kim và lưu kim trong 10 phút. Trong
lúc làm chẩn đoán phẫu thuật định vị
không gian ba chiều có thể tiến hành luôn biện pháp
điều trị chọc hút áp xe năo và máu tụ trong sâu. KIẾN NGHỊCần
phối hợp phẫu thuật định vị không gian
ba chiều với các kỹ thuật chẩn đoán h́nh
ảnh (C.T , M.R.I, C.A.G, P.E.T) để nâng cao độ chính
xác và an toàn trong chẩn đoán và điều trị. Thúc
đẩy việc phối hợp phẫu thuật định
vị không gian ba chiều với chẩn đoán h́nh
ảnh, nội soi, vi tính…để phát triển chuyên ngành
ngoại thần kinh xâm lấn tối thiểu trong lĩnh
vực chẩn đoán và điều trị các sang thương
năo, các rối loạn thần kinh chức năng như
đau, co cứng cơ, Parkinson và động kinh. Thực
hiện sớm phẫu thuật định vị không gian
ba chiều hướng dẫn xạ trị với Linac và
Gamma Knife trong điều trị bệnh nhân ung thư.
|
|
|