|
|
ĐIỀU
TRỊ “PHẢN ỨNG VỚI STRESS”
Tiến
sỹ Vũ Anh Nhị, Trường Đại Học Y Dược,
TP Hồ Chí Minh Từ
lâu y học đă nhận thấy một số chứng
bệnh thần kinh gây ra bởi sự tiếp xúc với
các stress trong môi trường xung quanh. Hậu quả
của việc tiếp xúc với stress
đă gây chấn thương t́nh cảm mà y học
gọi là “Phản ứng với stress”. Lâm sàng bao
gồm các rối loạn được xác định
bằng các triệu chứng học và yếu tố gây
bệnh. Nguyên
nhân chủ yếu của chứng bệnh này là do
tiếp xúc với một stress
quá lớn trong môi trường. Nhưng không phải người
nào cũng đều có phản ứng bằng một
hội chứng stress sau chấn thương, mà có thể
nhiều yếu tố khác nữa phối hợp gây ra t́nh
trạng bệnh lư, bao gồm: -
Một stress
đột ngột bất ngờ: người bệnh nh́n
thấy đám cháy, đám nổ lớn, hoặc trực
tiếp bị đe
doạ tính mạng hay người thân bị tai nạn hay
chết đột ngột… -
Một sự tàn
khốc quá sức chuị đựng như : chứng
kiến sự tàn bạo đẫm máu do giao tranh,
khủng bố.. -
Stress lâu dài và
măn tính: người bệnh bị ngược đăi,
học sinh tâm lí bị dồn nén trong thi cử - học hành,
những người làm việc quá khả năng của
ḿnh kéo dài, những cặp vợ chồng hôn nhân không
hạnh phúc, … -
Sự mạnh,
yếu về tâm lí và thể trạng của bệnh nhân.
ví dụ: người bệnh luôn lo lắng một cách quá
mức cho người thân hoặc bất cứ một công
việc ǵ, thời gian kéo dài gây phản ứng với
stress. -
Tổn thương
trên cơ thể bệnh nhân: đau đầu, mất
ngủ, bệnh đau bao tử,
bệnh tim… cũng có thể gây lo lắng , mất
ngủ hoặc sợ hăi.
Triệu
chứng và những dấu hiệu lâm sàng
Đặc
điểm cơ bản là sự tái chụi đựng
chấn thương. Điều này có thể diễn ra dưới
dạng trỗi dậy từng lúc, người bệnh không
tự ḱm chế được những kí ức về cơn
ác mộng hay trạng thái căng thẳng mà ở đó
tính cường điệu hay suy diễn theo xu hướng
bệnh lư phân li ư thức, khi đó người bệnh
có vẻ sống lại một cách sinh động
những điều gây tổn thương như là chúng
vừa xảy ra trước mắt. Bệnh nhân biểu
hiện tâm trạng lo âu, tăng cảm giác, đặc
biệt là thính giác ( hai tai ù, cảm giác đầu
ồn ào), mất ngủ kéo dài, khó tập trung chú ư hay
giảm trí nhớ. Một
số bệnh nhân biểu hiện trạng thái căng
thẳng hoảng sợ hoặc lo âu khi các t́nh huống
nhớ lại kí ức về sự kiện tái hiện. T́nh
huống ấy có thể gây ra phản ứng kịch phát
của các triệu chứng cấp tính: Lúc đầu thường
biểu hiện bằng một trạng thái “ngây dại” “mù mờ”, đặc trưng
bởi thu hẹp ư thức và mất khả năng chú
ư, mất khả năng tiếp nhận các kích thích và
mất định hướng, t́nh cảm bất định
vui buồn lẫn lộn, dễ kích thích và xung khắc
với người xung quanh mà trước khi bị
bệnh không có, bồn chồn, đứng ngồi không yên,
run rảy, đôi khi họ bùng nổ dữ dội
với thái độ hung hăng. Nhiều bệnh nhân
uống rượu, hút thuốc hay các chất nghiện khác
ḥng làm dịu t́nh trạng đau khổ bên trong sự tăng
hưng phấn thiếu ức chế. Ở
giai đoạn muộn hơn người bệnh than
phiền về sự tê liệt phản ứng của
họ đối với người, vật và các sự
kiện trong thế giới quanh ḿnh, người bệnh
trở nên vô cảm, lănh đạm, thờ ơ. Họ
mất sự lạc quan, thiếu tin tưởng vào người
khác và chính cả bản thân ḿnh, hoài nghi về mọi vấn đề trước đó ít
phút ḿnh cho là đúng, nhiều lúc người bệnh
cảm thấy như chết và mất thực tại
về t́nh cảm, họ bị tách rời và trở nên
xa lạ với người thân. Ngoài ra bệnh nhân cón kèm
theo rối loạn thần kinh tự chủ: tim đập
nhanh, người bệnh cảm giác đánh trống
ngực, vă mồ hôi, cơn nóng bừng hay tê lạnh,
dị cảm ở chi hay cảm giác châm chích da… Chẩn đoán
xác định: dựa vào sự đánh giá cẩn
thận mối quan hệ giữa:
-
Xem xét hoàn
cảnh , t́nh huống sang chấn hoặc khủng
hoảng đời sống. Sực hiện diện của
các yếu tố này phải được xác định
và có bằng chứng rơ ràng ( các rối loạn suất
hiện trong ṿng sáu tháng sau một sang chấn mạnh).
Nếu sang chấn tương đối nhẹ thời
gian dưới 3 tháng th́ tuỳ theo các triệu chứng lâm
sàng hiện tại để chẩn đoán. -
Đánh giá h́nh
thái, nôi dung và độ nặng nhẹ của các
triệu chứng cả về tiền sử và hiên
taị, t́m thấy mối liên quan với hoàn cảnh và t́nh
huống sang chấn. Tiên lượng
và diễn tiến: Thông thường phản ứng dưới
dạng cấp tính tự
nhiên hết, các triệu chứng tự thoái lui trong sáu tháng.
Ơû những bệnh nhân có quá tŕnh bệnh măn tính,
khởi phát chậm th́ tiên lượng xấu và sự b́nh
phục lâu, đôi khi để lại di chứng về
rối loạn hành vi hay loạn tâm thần . Điều
trị 1. Các biện
pháp tâm lư: Bên cạnh việc loại bỏ các stress
nếu c̣n tái
hiện người bệnh cần được áp
dụng các biện pháp điều trị: Liệu pháp tâm
thần tự biết ḿnh
đang được khuyến cáo, liệu pháp này
nhằm vào việc phân tích rơ những sự mâu
thuẫn vô thức, có thể đem lại một sự
thay đổi tâm lư học làm tăng thêm sự hiểu
biết về ḿnh và tạo ra một sự dung nạp có
xu hướng bên trong hay một phản ứng âm tính trước
stress nặng. Liệu pháp tâm thần hỗ trợ, là tác
động của con người, trong đó có vai tṛ người
thân và đặc biệt là thày thuốc am hiểu –
thiện cảm có thể làm giảm các triệu chứng
qua trấn an. Các phương pháp thư dăn, là giúp cho
bệnh nhân tự ư làm chủ các hoạt động
tự động v́ thế làm giảm sự tăng
hoạt động (ở trạng thái kích thích), trầm
tư cũng là dạng thư dăn đặc biệt giúp
cho bệnh nhân giảm lo âu, suy nghĩ tập trung hơn.
Một vài bênh nhân có thể dùng phương pháp thôi miên
làm tăng hiệu quả của thư dăn.
2.
Liệu pháp dược, hiện nay thuốc để
chữa lo âu là diazepam. Liều
lượng những bệnh nhân này nên bắt đầu
bằng 5 mg uống ngày 2 lần, không nên điều
chỉnh liều lượng cho đến khi người
bệnh có trạng thái vững vàng, trừ khi thời gian
điều trị dài trên 4 tháng. Điều hạn
chế của diazepam là bệnh nhân dễ lệ thuộc
vào thuốc sau thời gian điều trị. Những
bệnh nhân hốt hoảng lo sợ có thể dùng
thuốc chống trầm cảm 3 ṿng; amitriptrylin, liều
khởi đầu có thể 10mg/ ngaỳ 2-3 lân. Thuốc
chẹn ( có hiệu quả trong việc điều trị
các biểu hiện ngoại vi như; run, thở nhanh, đánh
trống ngực, như propanolol.
Calcibronat là chế phẩm của bromure và calcium (bromo-
galactoglucpnate calcium) thuốc có tác dụng điều
trị chống lo âu, mất ngủ và làm êm dụi
thần kinh, liều dùng từ 1-2g/ ngày. Phản
ứng stress là dạng bệnh lí phức tạp, việc
điều trị thành công phục thuộc rất
lớn vào sự hợp tác của bệnh nhân, nhiều
trường hợp cần tham khảo các chuyên gia về
tân lí, thần kinh hay tâm thần.
|
|
|