|
|
(Dành
cho BS chuyên khoa Thần kinh)
ĐIỀU
TRỊ NHƯỢC CƠ THỂ MẮT BẰNG
CORTICOSTEROIDS
Mark A. Agius:
Treatment of ocular myasthenia with Corticosteroids. Arch Neurol./vol.57, May
2000, p:750-751. Người
dịch: Thạc sỹ Bạch Thanh Thủy Các
triệu chứng ở mắt thường là biểu
hiện đầu tiên và thỉnh thoảng là biểu
hiện duy nhất của nhược cơ nặng (MG)
mắc phải. MG thể mắt, với yếu cơ
chỉ giới hạn ở cơ mắt nói chung được
xem xét như là một kiểu phụ trung b́nh của MG.
Tuy nhiên việc chẩn đoán và xử trí MG thể
mắt đơn độc có thể rất khó khăn
thậm chí có thể thất bại. Nh́n đôi và sa mi do
rối loạn chức năng khớp thần kinh cơ
của cơ thẳng ngoài và cơ nâng mi ở MG thể
mắt thường làm cho việc nh́n trở nên khó khăn
gây cản trở công việc và ảnh hưởng
tới chất lượng cuộc sống. Triệu
chứng ở mắt thường biểu hiện
triệu chứng của MG, nhưng chúng cũng có xu hướng
là triệu chứng dai dẳng nhất trong điều
trị, đáp ứng với thuốc kháng men cholinesterase
thường không hoàn toàn, và việc dùng thuốc ức
chế cơn tấn công miễn dịch ở khớp
thần kinh cơ hoặc cắt bỏ tuyến ức thường
đ̣i hỏi hết các triệu chứng. Sử dụng
thận trọng corticosteroid đóng vai tṛ quan trọng trong
việc xử trí những bệnh nhân MG thể mắt.
Một cân nhắc thứ hai là một nửa số
bệnh nhân MG với lâm sàng chỉ yếu cơ mắt có
suy giảm kích thích dây thần kinh lặp lại ở cơ
chi. Hơn nữa, phần lớn các bệnh nhân khởi
phát MG biểu hiện đơn độc ở
mắt trên lâm sàng phát triển thành yếu cơ toàn
thể, đặc biệt trong năm đầu. Điều
này cho thấy rằng một số bệnh nhân MG thể
mắt có thể tiến triển nặng nhanh chóng. Nên ngăn
chặn những cơn nhược cơ th́ tốt hơn
là phải điều trị. Trong bài này, điều
trị miễn dịch được áp dụng cho
những bệnh nhân MG thể mắt mà có những
bằng chứng điện sinh lư của MG toàn thể. Một
cân nhắc thứ ba nảy sinh từ những quan sát
mới đây gợi ư rằng việc không điều
trị miễn dịch ở MG thể mắt trung b́nh có
thể làm cho bệnh nặng hơn. 75% bệnh nhân MG
khởi đầu bằng những triệu chứng ở
mắt, sự nhậy cảm này có thể liên quan với
cấu trúc kháng nguyên và (hoặc) với yếu tố
bảo đảm bị suy giảm ở cơ mắt. MG
toàn thể có thể do tăng sản xuất kháng thể
và tăng những phân tử kháng nguyên đích. Những
bệnh nhân MG thể mắt được điều
trị miễn dịch
sớm ít bị phát triển thành bệnh toàn thể.
Khoảng thời kỳ khởi đầu của sự
tấn công miễn dịch khớp thần kinh cơ có
thể rất có ư nghĩa trong việc xác định
độ nặng của bệnh, mối tương quan
của sự tăng thời khoảng và độ
nặng của bệnh xuất hiện trong những t́nh
trạng tự miễn khác, bao gồm viêm năo tủy
tự miễn thực nghiệm tái phát. Có thể một
đáp ứng miễn dịch không ḱm chế được
trong MG thể mắt dẫn tới thay đổi cấu
trúc trong tự kháng nguyên tại khớp thần kinh cơ
và phá hủy cấu trúc của khớp thần kinh cơ.
Ngược lại, việc xuất hiện những kháng
nguyên mới có thể gây ra sự tấn công tự
miễn dịch làm cho bệnh dai dẳng và trầm
trọng hơn. Điều trị bằng thuốc kháng
cholinesterse có thể cải thiện triệu chứng lâm sàng,
nhưng lại che giấu tổn thương tự
miễn đang diễn ra. Ngăn chặn sự tấn công
miễn dịch có thể giới hạn tổn thương
cơ quan đích và kích thích hệ miễn dịch lâu dài,
đó cũng là một lư do để ủng hộ
việc điều trị miễn dịch ở những
bệnh nhân được chọn lựa trong giai đoạn
sớm của bệnh. Điều
trị corticoid ở những bệnh nhân MG thể mắt
đ̣i hỏi phải theo dơi rất chặt chẽ,
tối ưu corticoid được sử dụng phải
làm thuyên giảm và duy tŕ được sự thuyên
giảm các triệu chứng lâm sàng, điều này thường
đ̣i hỏi liều uống cao trong 2-3 tháng. Các biến
chứng bao gồm: nhược cơ trầm trọng trong
suốt hai tuần điều trị đầu tiên,
hoại tử xương vô trùng, tăng đường
huyết, tăng huyết áp, loăng xương, ảnh hưởng
hệ thống miễn dịch, rối loạn tâm
thần, chậm phát triển ở trẻ em, đục
thủy tinh thể, thiên đầu thống, bệnh cơ
gốc chi, thay đổi mô mềm kiểu di truyền
đồng chất. Cần phát hiện
và điều trị sớm những biến
chứng, ngăn ngừa được th́ tốt hơn.
Điều trị phụ trợ bằng elandronate???? có tác
dụng ngăn ngừa loăng xương. Những biến
chứng của steroid thường liên quan tới tích lũy
thuốc. Để ngăn chặn biến chứng ở
những bệnh nhân dùng steroid, quan trọng nhất là
giới hạn tổng liều , điều này có thể
làm được và giữ liều tối thiểu
bằng cách giảm liều từ từ và theo dơi lâm sàng
trong nhiều tháng. Điều trị cách nhật làm
giảm sự ức chế hệ dưới đồi
tuyến yên, có thể làm giảm khả năng phải dùng
corticoid lâu dài bằng cách cắt bỏ sớm tuyến
ức, azathioprine trong suốt giai đoạn giảm
liều steroid. Chẩn
đoán phân biệt với MG thể mắt gồm:
loạn dưỡng cơ mắt hầu, bệnh ty lạp
thể, MG bẩm sinh và các rối loạn khớp thần
kinh cơ khác, bệnh thần kinh vận động
mắt và tổn thương thân năo. Trong MG thể
mắt tự miễn, các xét nghiệm giúp chẩn đoán
có thể âm tính. Kháng thể kháng thụ thể
acetylcholine không t́m thấy trong 30-45% các trường
hợp; test kích thích lặp lại b́nh thường ở
50%. Điện cơ sợi đơn độc thường
giúp chẩn đoán xác định MG thể mắt, có
thể thấy sự tăng nhạy cảm của
những sợi cơ nguyên vẹn trên invitro. Bệnh
học, tiến triển lâm sàng, đáp ứng với
điều trị miễn dịch ở những bệnh
nhân MG mắc phải không t́m thấy kháng thể kháng
thụ thể acetylcholine ( huyết thanh âm tính) cũng
giống như ở những bệnh nhân MG có huyết
thanh dương tính, gợi ư rằng MG mà huyết thanh âm
tính cũng là bệnh tự miễn. Huyết thanh dương
tính đáng tin cậy hơn khi được phát
hiện bằng test dành cho những kháng thể điều
biến và ức chế, thêm vào với những kháng
thể gắn kết và sử dụng một xét
nghiệm để phát hiện những thụ cảm
thể acetylcholine được phân lập từ cơ
mắt người. Những kháng nguyên khác thụ thể
acetylcholine cũng có thể là những đích khác trong
bệnh MG. Một yếu tố được xem như là
tự kháng nguyên là rapsyn một phân tử không hóa
trị gắn với thụ thể acetylcholine và cần
thiết cho việc tập trung thụ thể acetylcholine
đậm độ cao tại khớp thần kinh cơ.
Trong khi tác dụng có lợi của corticosteroid luôn
xuất hiện chậm sau nhiều tuần, tách huyết tương
làm giảm triệu chứng nhanh chóng trong vài ngày và có
thể kéo dài 1-3 tháng. Sự cải thiện triệu
chứng do tách huyết tương có thể cho tiên lượng:
ở những bệnh nhân này dùng steroid thích hợp hơn.
Gamaglobulin liều cao tiêm tĩnh mạch có thể có tác
dụng trong thời gian ngắn và thường được
dùng thay tách huyết tương. Kết
luận, các phương pháp điều trị miễn
dịch, bao gồm corticoid thuận lợi cho điều
trị những bệnh nhân
MG thể mắt, mà những bệnh nhân này có bằng
chứng cận lâm sàng của MG toàn thể, hơn
nữa điều trị miễn dịch ở những
bệnh nhân mức độ nhẹ dường như
làm cho bệnh ít tiến triển thành toàn thể.
Mỗi bệnh nhân cần được đánh giá thường
qui và đặc biệt liên tục. Cắt bỏ
tuyến ức ít tác dụng phụ hơn corticoid và thường
được sử dụng đầu tiên trong quá tŕnh
điều trị miễn dịch của MG thể
mắt. Trẻ em và người lớn tuổi rất
dễ có các biến chứng của corticoid. Cắt bỏ
tyến ức, tách huyết tương và gamaglobuline tĩnh
mạch là các phương pháp điều trị miễn
dịch luân phiên trước khi tiến tới corticoid
trong những bệnh nhân có yếu tố nguy cơ cao này.
Trở
về đầu trang ĐIỀU
TRỊ NHƯỢC CƠ THỂ MẮT - Steroids chỉ khi
cần thiết Henry
J. Kaminski; Robert B. Daroff:
Treatment of ocular myasthenia - Steroids only when compelled. Arch
Neurol./vol.57, May 2000, p:752-753.
Người
dịch: Thạc sỹ Bạch Thanh Thủy Cơ
mắt thường bị ảnh hưởng trong MG. Nhược
cơ mắt biểu hiện yếu cơ nâng mi trên gây sa
mi hoặc yếu cơ thẳng ngoài gây nh́n đôi. Nguyên
nhân chính xác của sự chọn lọc này c̣n chưa
hiểu biết rơ. Cũng như tất cả các phương
pháp điều trị MG, có ít nghiên cứu điều
trị nhược cơ mắt được đối
chứng tốt. Điều trị ức chế miễn
dịch, đặc biệt prednison là chủ yếu trong
điều trị những bệnh nhân MG toàn thể mà
những bệnh nhân này bị ảnh hưởng tới
hoạt động hàng ngày. Prednisolon cũng được
dùng thông thường trong nhược cơ mắt. Dù
sao, 4 yếu tố nên cân nhắc trước khi dùng
steroid trong MG đơn độc ở cơ mắt: (1)các
triệu chứng của bệnh nhân có thể được
cải thiện bằng các phương pháp điều
trị an toàn không? (2) Điều trị steroid có làm
giảm hoàn toàn triệu chứng không? (3) Độ
nặng của các triệu chứng có đáng chịu các
tác dụng phụ nguy hiểm của của steroid ? (4) Các
steroid có làm cho bệnh ít tiến triển thành toàn
thể hóa hơn không? Chúng tôi đă xem xét kỹ các câu
hỏi này và kết luận rằng trong nhược cơ
mắt thỉnh thoảng
mới cần điều trị bằng steroid. Chúng
tôi thấy rằng có vấn đề về thẩm
mỹ và có các tác động cả về thể
chất và tâm thần ở bệnh nhân nhược cơ
mắt. Ức chế cholinesterase là hướng chọn
lựa đầu tiên trong tất cả các dạng MG và nó
có thể làm giảm nh́n đôi và sa mi, khoảng một
nửa số bệnh nhân MG có đáp ứng khá với hướng
này. Dường như việc lựa chọn các cách
điều trị khác ít được quan tâm. Sa mi có
thể được điều chỉnh bằng
miếng nâng trong kính của bệnh nhân và bằng
dải băng nâng mi. Nh́n đôi thường được
khắc phục bằng cách che mắt, một miếng
bịt mắt hoặc kính làm mờ mắt, các bệnh nhân
có thể phàn nàn v́ giảm một phần thị lực
và ảnh hưởng thẩm mỹ của miếng che.
Để thẩm mỹ hơn, người ta có thể dùng
kính sát tṛng hoặc một kính cận 10 diop. Lăng kính
thường ít được sử dụng v́ sự thay
đổi sức cơ mắt. Phần lớn bệnh nhân
đáp ứng tốt với điều trị không dùng
thuốc và thích nghi với nh́n đôi bằng cách
nhắm một mắt khi họ cần nh́n rơ một
vật. Các
steroid không làm hết các biểu hiện ở mắt. Kinh
nghiệm của chúng tôi thấy rằng steroid không
phải luôn luôn hiệu quả, steroid dường như
ít hiệu quả hơn trong điều trị nhược
cơ thể mắt so với MG toàn thể, điều này
gợi ư rằng sự thay đổi về mắt có
thể là bẩm sinh hơn là kháng trị với điều
trị ức chế miễn dịch. Khi steroidcó hiệu
quả, có thể tiếp tục ở những bệnh nhân
không có những triệu chứng trầm trọng và có
thể điều trị lâu dài. Với
liều điều trị nhược cơ thể
mắt, steroid luôn luôn gây ra một số tác dụng
phụ. Mặc dù rối loạn giấc ngủ, tăng cân
và một số các biểu hiện khác thường
được dung nạp tốt, nhưng các biến
chứng trầm trọng cũng thường xuất
hiện. Sommer đă sử dụng steroids để điều
trị 45 bệnh nhân nhược cơ mắt, hơn ¼
số bệnh nhân này có tác dụng phụ trung b́nh và 2
người biến chứng tiểu đường
hoặc loạn thần kinh. Rất có thể các tác
dụng phụ của steroid đă được thông báo
bị đánh giá quá thấp trong nghiên cứu MG. Ví
dụ, thưa xương tiến triển nhanh trong các trường
hợp dùng prednisone trong nhược cơ mắt và xương
mất rất nhanh trong 6 tháng điều trị đầu
tiên, steroid có thể làm tăng huyết áp trầm
trọng hơn, làm đục thủy tinh thể và không
dung nạp glucoza, dường như prednisone dùng trong 3-6 tháng
cũng có thể gây nguy hiểm. Nghiên
cứu những bệnh nhân nhược cơ mắt
thấy rằng nguy cơ toàn thể hoá cao nhất trong 2 năm
đầu tiên và sau đó nguy cơ này giảm
dần. Tỷ lệ toàn thể hóa khoảng 50%, nhưng
ước lượng chính xác nhất là khoảng 40-50% các
trường hợp vẫn duy tŕ yếu cơ mắt
đơn độc. Trong những nghiên cứu trước
khi dùng steroid hoặc những nghiên cứu không dùng steroid,
11-30% các trường hợp không bị toàn thể hóa.
Kupersmith đă điều trị 32 bệnh nhân nhược
cơ mắt bằng steroid, chỉ có 3 trường
hợp bị toàn thể hóa sau 2 năm. Sommer đă
kết hợp prednisolon, azathioprin và cắt bỏ tuyến
ức để điều trị nhược cơ
mắt; 12% bị toàn thể hóa, trong khi 64% các trường
hợp không được điều trị ức
chế miễn dịch bị toàn thể hóa. Các nghiên
cứu bị thiếu chính xác do thiếu sự theo dơi lâu
dài và thiếu sự phân tích những khác biệt
giữa các nhóm được điều trị và không
được điều trị miễn dịch. Mặc
dù vậy, có gợi ư rằng thuốc ức chế
miễn dịch có thể làm giảm tần số toàn
thể hóa. 10% bệnh nhân MG
không điều trị ức chế miễn dịch, bao
gồm cả những bệnh nhân biểu hiện
đơn độc ở mắt sẽ
thuyên giảm về lâm sàng. Liệu những thuyên
giảm được cho là do Steroid có phải là
những thuyên giảm t́nh cơ này không, cần
phải được xác minh. Điều
trị bất kỳ bệnh nhân nào bị MG toàn
thể hóa hoặc chỉ biểu hiện ở mắt,
đ̣i hỏi dựa trên cơ sở riêng biệt như
tuổi tác, lối sống, bệnh kết hợp và
những đáp ứng t́nh cảm của bệnh nhân.
Khuynh hướng của chúng tôi đối với
những bệnh nhân nhược cơ mắt là giải
thích tỷ mỷ cho bệnh nhân về bệnh bao gồm
cả cách tiến triển của bệnh, các đường
hướng điều trị và cả các biến
chứng. Chúng tôi sử dụng cách điều trị không
dùng thuốc và thuốc ức chế cholinesterase và
phần lớn bệnh nhân có thuyên giảm triệu
chứng rơ rệt. Khoảng một nửa số bệnh
nhân nhược cơ mắt mới được
chẩn đoán bị yếu cơ toàn thể sẽ nhanh
chóng được điều trị ức chế
miễn dịch. Chỉ một số trường hợp
yếu cơ mắt đơn độc chúng tôi bắt
buộc phải dùng steroid và trong những trường
hợp này luôn luôn là do bệnh nhân yêu cầu. Những
người phụ nữ trẻ quá lo lắng về
thẩm mỹ do sa mi hoặc lác mắt mà chúng tôi bị
thuyết phục dùng steroid. Những chỉ định khác
là sa mi hai bên, không thích nghi được với
miếng bịt hoặc dải băng, và liệt nh́n
nặng cả hai bên. Sa mi hai bên làm giảm khả năng
thị giác, liệt nh́n nặng làm bệnh nhân phải
ngẩng đầu để nh́n và làm ảnh hưởng
nghiêm trọng đến sinh hoạt hàng ngày. Không có
những vấn đề trên , các bệnh nhân MG thể
mắt tốt nhất không nên điều trị bằng
steroid. ĐIỀU
TRỊ NHƯỢC CƠ THỂ MẮT -
Vladimir
Hachinski: Treatment of ocular myasthenia. Arch. Neurol./vol.57, May 2000,
p:753. Người
dịch: Thạc sỹ Bạch Thanh Thủy Nhược
cơ mắt làm cho người ta lo buồn. Các bệnh nhân
nh́n không rơ, trông không đẹp v́ sa mi, nh́n đôi và lác.
Tác giả Agius đồng ư rằng một nửa số
bệnh nhân nhược cơ mắt có bằng chứng
điện cơ của rối loạn chức năng
thần kinh cơ toàn thân và phần lớn phát triển
thành yếu cơ toàn thể đặc
biệt trong năm đầu. Ông ủng hộ việc
điều trị những bệnh nhân nhược cơ
mắt có biến đổi điện cơ toàn thân không
chỉ để giảm triệu chứng, mà c̣n để
ức chế đáp ứng miễn dịch. Ông tin tưởng
rằng không dùng steroid có thể dẫn đến t́nh
trạng trầm trọng và tiến triển. Tác
giả Kaminski và Daroff chỉ ra rằng steroid th́ ít
hiệu qủa trong nhược cơ mắt hơn trong nhược
cơ toàn thể và khi chúng có hiệu quả th́ không nên
ngừng thuốc mà nên điều trị lâu dài. Hơn
nữa, 10% bệnh nhân sẽ thuyên giảm tự phát. Lợi
ích của điều trị steroid là chưa chắc
chắn, xét với các tác dụng phụ nghiêm trọng là
không nên. Cũng cần nghiên cứu tiếp trong tương
lai. Trong khi đó, việc điều trị nên tùy
từng trường hợp như mọi người
đă đồng ư ngoại trừ Agiur sử dụng
steroid do sự tin tưởng của ông ta, ngược
lại với Kaminski và Daroff là luôn luôn do bệnh nhân yêu
cầu.
|
|
|