|
|
CHẨN
ĐOÁN PHÂN BIỆT CÁC HỘI CHỨNG NHƯỢC CƠ.
B. Ishpekova and Iv. Milanov: Differential Diagnosis of Myasthenic Syndromes. Electromyogr. clin. Neurophysiol., 2001, 41, 17 – 21. Người dịch: Bs Nguyễn Thị Kim Xuyến, Bv NguyễnTtri Phương Tóm
tắt: Những hội chứng giống nhược cơ
và hội chứng nhược cơ Eaton – Lambert đă được báo cáo
ở những bệnh nhân
viêm đa cơ. Mặt khác, sự
ảnh hưởng lên các cơ ở
bệnh nhân nhược cơ đă đươc xác
định rơ. V́ thế việcï phân biệt giữa
hội chứng nhược cơ ở bệnh nhân viêm
đa cơ và nhược cơ biểu hiện bệnh cơ
sẽ gặp khó khăn nhiều hơn.. Nhiệm
vụ của nghiên cứu này
là tái thiết lập các dấu chứng giúp cho sự phân
biệt các kiểu khác nhau của các hội chứng nhược
cơ. Có 125 bệnh nhân tham gia vào nghiên cứu này. Theo các
dữ liệu về chẩn đoán điện, sinh
thiết, chỉ số creatine kinase huyết thanh, bệnh nhân
đuợc xếp vào 3 nhóm. Nhóm thứ nhất gồm 35
bệnh nhân viêm đa cơ măn tính. Nhóm thứ hai gồm
46 bệnh nhân nhược cơ. Nhóm thứ ba gồm 44
bệnh nhân nhược cơ và bệnh cơ. Dữ
liệu của chúng tôi xác định rằng
triệu chứng khởi phát thường gặp
của nhược cơ là sụp mi, và hội
chứng nhược cơ trong viêm đa cơ-th́
triệu chứng khởi phát thường từ chi dưới
hơn.Hành năo ít có liên quan, sự ảnh hưởng
đến hệ thần
kinh tự động và giảm phản xạ gân xương
th́ phổ biến hơn ở
những bệnh nhân nhược cơ Eaton- Lambert so
với những bệnh nhân nhược cơ. Liên quan
đến các triệu chứng của hành năo th́ đặc
hiệu hơn đối với những bệnh nhân nhược
cơ có ảnh hưởng cơ. Không có sự khác
biệt trong hiện tượng suy giảm đáp ứng
đặc hiệu giữa những bệnh nhân viêm đa
cơ có nhược cơ,
và những bệnh nhân nhược cơ liên quan với
bệnh cơ.hội chứng nhược cơ Eaton Lamert
th́ hơi khác và chỉ được t́m thấy trong
phần nhỏ bệnh nhân viêm đa cơ. Cuối
cùng chúng tôi kết luận rằng chẩn đoán phân
biệt giữa hội chứng nhược cơ trong viêm
đa cơ và nhược cơ có liên quan đến
bệnh lư cơ th́ không thể chỉ dùng chẩn đoán
điện. GIỚI
THIỆU:
Những
dấu hiệu lâm sàng và chẩn đoán điện trong
bệnh nhược cơ đă được biết
rất rơ. Những triệu chứng giống nhược
cơ được báo cáo trong nhiều bệnh khác nhau cũng
như trong viêm đa cơ. Chúng do quá tŕnh viêm ảnh hưởng
lên khớp thần kinh cơ gây nên. Hội chứng nhược
cơ Eaton- Lambert khác với bệnh nhược cơ
về lâm sàng, sinh lư điện cơ thể và phương
pháp điều trị. Đặc biệt là có liên quan
đến ung thư phổi. Thường gặp nhất là
ung thư phổi tế bào nhỏ. Tuy nhiên,
cũng có thể t́m
thấy ở những bệnh nhân có các rối loạn
tự miễn khác trong đó có viêm đa cơ. Những
trường hợp có sự kết hợp
các đặc điểm của Eaton- Lambert và
bệnh nhược cơ cũng đă được báo
cáo. Mặt
khác, sự ảnh hưởng đến cơ ở
bệnh nhân bệnh nhược cơ đă được
xác định rơ. Điều đó chứng tỏ
rằng bệnh cơ là do tắc nghẽn thần kinh cơ
kéo dài.Bệnh cơ phổ biến hơn ở những
bệnh nhân có u tuyến ức. Tuy nhiên cắt tuyến
ức có thể tăng những biến đổi của
cơ kiểu bệnh cơ. Hiếm hơn là những trường
hợp có sự kết hợp vừa biến đổi
thần kinh vừa bệnhø cơ. V́
thế, sự phân biệt giữa những bệnh nhân viêm
đa cơ và hội chứng nhược cơ với
bệnh nhân nhược cơ và bệnh cơ có lẽ
sẽ gặp nhiều khó khăn. V́ tiên lượng
của các loại hội chứng nhược cơ khác
nhau nên việc chẩn đoán sớm rất quan trọng. Nhiệm
vụ của nghiên cứu này là thiết lập các
dấu chứng giúp cho sự phân biệt giữa các
loại hội chứng nhược cơ khác nhau. PHƯƠNG
PHÁP VÀ CƠ SỞ VẬT CHẤT
Có
125 bệnh nhân tham gia vào nghiên cứu. Tất
cả các bệnh nhân đều được khám
thần kinh một cách chi tiết. Chẩn
đoán điện thường qui được thực
hiện với điện cực kim đồng tâm có
đường kính 0.65mm. Sử dụng máy điện cơ
có hệ thống vi tính. Các cơ ở cả phần
gốc chi và ngoại vi đều được khảo
sát và thường nhất
làchọn hai cơ ở ngoại vi, từ ba cơ trở
lên ở phần trung tâm để khảo sát. Mỗi cơ
đều được khảo sát ở nhiều vị
trí.Thời khoảng và biên độ trung b́nh (được
tính giá trị trung b́nh từ 30 – 40 đơn vị
vận động)của các điện
thế hoạt động được đo và tính
toán trên máy vi tính. Biên độ (tính theo cách đo
từ đỉnh tới đỉnh)được đo
khi cho co cơ tối đa.H́nh dạng của điện
thế hoạt động được đánh giá khi
quan sát khoảng 30 –40 đơn vị vận động.
Tốc độ dẫn truyền vận động
của thần kinh giữa, thần kinh trụ (khuỷu và
cổ tay), thần kinh chày và thần kinh mác (gối và
mắt cá)được ghi nhận bằng cách sử
dụng điện cực bề mặt. Dẫn truyền
cảm giác của thần kinh hiển, thần kinh giữa
và thần kinh trụ được khảo sát với phương
pháp kích thích ngược chiều. Điện cực ṿng,
cực âm đặt ở khớp liên đốt gần
của ngón thứ hai đối với thần kinh
giữa, và ngón thứ năm đối với thần
kinh trụ. Điện cực đối chiếu đặt
cách 2cm về phía ngoại vi và điện cực đất
đặt ở bàn tay,giữa những điện cực
ghi và điện cực kích thích. Điện cực ghi
được đặt ở mắt cá ngoài và điện
cực kích thích đặt cách 14cm về phía trung tâm
đối với thần kinh hiển. Chuỗi
kích thích lập lại liên tiếp được
thực hiện với điện cực
kích thích bề mặt. Điện thế hoạt
động cơ toàn phần (CMAP)được ghi
nhận bằng điện cực bề mặt h́nh
đĩa đặt ở bụng cơ. Thần kinh
trụ được kích thích ở cổ tay, điện
cực ghi đặt ở cơ dạng ngắn ngón út.
Chuỗi gồm 10 kích thích với tần số 1và 3Hz và
lập lại ở tần số 3Hz, 3giây và 3 phút sau
một kích thích với tần số 20Hz. Đánh giá biên
độ theo cách từ đỉnh tới đỉnh.
Đáp ứng được xem là đặc hiệu cho
nhược cơ là hiện tượng suy giảm
(decrement) nếu biện độ của CMAP thứ hai
đến thứ sáu biểu hiện giảm dần trên
10 % so với CMAP thứ nhất. Đáp ứng được
xem là đặc hiệu cho hội chứng nhược cơ
Eaton – Lambert, nếu biên độ CMAP thứ nhất
thấp và có sự tăng dần biên độ CMAP sau khi
kích thích tần số cao. Tất cả bệnh nhân tham
gia nghiên cứu đều không sử dụng thuốc kháng
cholinesterase trong ṿng 24giờ trước khi thực
hiện khảo sát chẩn đoán điện. Chuỗi kích
thích lập lại liên tiếp được lập
lại sau khi cho bệnh nhân chích tĩnh mạch 7mg
Edrophonium Chloride. Tất
cả bệnh nhân đều được chụp
cắt lớp điện toán vùng trung thất cũng như
tất cả đều được sinh thiết cơ
để t́m những dữ liệu về t́nh trạng viêm
đa cơ. KẾT
QUẢ:
Khám
thần kinh phát hiện các dấu hiệu sụp mi, song
thị, , rối loạn vận ngôn,khàn giọng, dễ
mỏi mệt các chi, test Tensilon dương tính, yếu cơ
tiến triển và liệt ở tất cả bệnh nhân,
theo những dữ liệu về chẩn đoán điện
chúng tôi chia bệnh nhân thành 3 nhóm. Nhóm
thứ nhất
gồm 35
bệnh nhân(29 nữ và 6 nam) với những dấu
hiệu viêm đa cơ măn tính. Tuổi khởi phát
bệnh trnngb́nh là 37.8 với SD là 14.8 . Tuổi trung b́nh của
bệnh nhân là 38.9 với SD là 14.6. Thời gian bệnh
trung b́nh là 23.1 tháng (từ 1- 76 tháng). Triệu chứng
đầu tiên thường gặp nhất của hội
chứng nhược cơ là mệt mỏi cơ chi dưới,
sau đến là sụp mi,hiếm hơn là mệt mỏi
cơ chi trên, song thị và khàn giọng.Khám thần kinh
ghi nhận có giảm phản xạ gân xương,
chủ yếu ở chi trên, các cơ yếu và mất
chức năng ở một số bệnh nhân. Thường
nhất là t́m thấy cả triệu chứng hành năo cũng
như yếu chi trên và chi dưới. Hiếm khi chỉ có
chỉ có một trong hai hiện diện. Một số ít
bệnh nhân có sự kết hợp của triệu
chứng hành năo với hoặc yếu chi trên hoặc
yếu chi dưới. Vài
bệnh nhân khi khám lâm sàng phát
hiện có bất thường cảm giác và hệ
thần kinh tự động. Nhóm
thứ hai gồm
46 bệnh nhân(26 nữ và 20 nam) bệnh nhược cơ.Tuổi
trung b́nh của bệnh nhân là 43.0 với SD là17.8. Thời
gian bệnh trung b́nh 26.4 tháng
(từ 3 đến 120 tháng). Triệu chứng đầu
tiên phổ biến nhất là sụp mi, kế đến
là triệu chứng mệt mỏi cơ các chi, ít khi có
song thị , khó nuốt , khàn giọng và rối loạn
vận ngôn. Không t́m thấy dấu hiệu mệt mỏi
cơ chi trên. Vài bệnh nhân khi khám thần kinh phát
hiện giảm phản xạ gân xương, không có
yếu cơ hoặc mất chức năng của cơ ,
chỉ t́m thấy triệu chứng hành năo.Hiếm khi
thấy có sự hiên diện triệu chứng ở
cả chi trên, chi dưới và hành năo hoặc ở chi dưới
và hành năo. Một số ít bệnh
nhân có sự kết hợp của triệu chứng hành năo
và chỉ có yếu chi dưới. Khám lâm sàng không t́m
thấy bất thường cảm giác và hệ thần
kinh tự động ở bất kỳ bệnh nhân nào. Nhóm
thứ ba
gồm 44 bệnh nhân(33 nữ và 11nam) với nhược
cơ và bệnh cơ. Tuổi trung b́nh là 41.7 với SD là14.2.
Tuổi khởi phát trung b́nh là 38.6 với SD là
14.7. Thời gian bệnh trung b́nh là 49.0 (từ 1-240 tháng).
Không có bệnh nhân nào đă điều trị với
corticosteroids. Triệu chứng thường xuyên nhất là
sụp mi, sau đến là mỏi cơ chi dưới và
song thị, hiếm gặp hơn là mỏi cơ chi trên,
khó nuốt, khàn gịong và
không t́m thấytriệu chứng rối loạn vận ngôn.
Khám thần kinh ghi nhân có giảm phản xạ gân xương
và mất chức năng và yếu cơ ở một vài
bệnh nhân. Chỉ có triệu chứng hành năo
t́m thấy phổ biến nhất. Hiếm
khi hiện diện cả triệu chứng chi trên, chi
dưới và hành năo, một số ít bệnh nhân
chỉ có hoặc yếu cơ tứ chi hoặc kết
hợp của triệu chứng hành năo với yếu cơ
chi trên hoặc chi dưới. Không có bệnh nhân nào có
bất thường cảm giác và hệ
thần kinh tự động. Khảo
sát chẩn đoán điện của nhóm thứ nhất
phát hiện tất cả những đặc điểm có
liên quan bệnh cơ như là điện thế hoạt
động đa pha, giảm biên độ và thời
khoảng. Điện thế tự phát , sóng nhọn dương
và hiếm những điện thế kỳ dị th́ rơ
ràng ở hầu hết bệnh nhân. Đa số bệnh
nhân có tốc độ dẫn truyền cảm giác,
vận động b́nh thường. Một vài bệnh nhân
có bằng chứng ảnh hưởng đến thần
kinh cảm giác và vận động. Hầu hết
bệnh nhân có biểu hiện hội chứng nhược
cơ đặc hiệu với hiện tượng suy
giảm của các đáp ứng. Hội chứng giống
nhược cơ trong viêm đa cơ sẽ đáp
ứng rất kém với điều trị bằng kháng
cholinesterase. Những bệnh nhân biểu hiện trên
chẩn đoán điện là hội chứng nhược
cơ Eaton- Lambert có biên độ trung b́nh của CMAP
khởi đầu là 3.2 SD là 2.5mV(b́nh thường là 15.7
SD 3.4mV). Chuỗi kích
thích lập lại liên tiếp ở tần số 20 Hz cho
đáp ứng tăng biên độ CMAP 290% (25-370%), không
đáp ứng với thuốc kháng cholinesterase. Tất
cả bệnh nhân nhóm thứ hai có hội chứng nhược
cơ đặc hiệu với hiện tượng suy
giảm các đáp ưng. Hội chứng nhược cơ
có đáp ứng tốt với thuốc kháng cholinesterase.
Không t́m thấynhững biểu hiệnảnh hưởng
lên cơ kiểu bệnh cơ trên chẩn đoán điện. Bệnh
nhân ở nhóm thứ ba cũng có tất cả các đặc
điểm có liên quan đến bệnh cơ của nhóm
cơ gốc chi với các điện thế hoạt động
đa pha, giảm thời khoảng và biên độ.
Dẫn truyền cảm giác và vận động trong
giới hạn b́nh thường. Tất cả bệnh nhân
có hội chứng nhược cơ điển h́nh
với hiện tượng suy giảm đáp ứng. Tăng
creatine huyết thanh ở những bệnh nhân viêm đa cơ
, từ khoảng 157 IU/L – 464 IU/L (trung b́nh từ 369 IU/L) b́nh
thường thấp hơn 195 IU/L. CT
scan phát hiện hầu hết bệnh nhân ở nhóm
thứ hai và thứ ba có u tuyến ức(69.6% và 78.1%). Sinh
thiết cơ phát hiện những biến đổi cơ
và thâm nhiễm viêm ở những bệnh nhân viêm đa cơ
măn tính. THẢO
LUẬN
Những
bệnh nhân được chẩn đoán nhược cơ
toàn thể v́ có liệt mềm,có hiện tượng suy
giảm đáp ứngtrên EMG và đáp ứng với
thuốc kháng cholinesterase. Biểu diễn một cách đặc
hiệu các kích thích lập lại liên tiếp ở
bệnh nhân nhược cơ gọi là hiện tượng
suy giảm đáp ứng – một sự giảm dần
diện tích và biên độ của điện thế
hoạt động cơ toàn phần. Biên độ CMAP
khởi đầu thấp bất thường và đáp
ứng tăng dần sau khi kích thích thần kinh trên
mức tối đa lập lại liên tiếp tần
số cao là những đặc điểm chẩn đoán
điện đặc trưng cho bệnh nhân hội
chứng nhược cơ Eaton - Lambert. Đáp ứng tăng
dần là biểu hiện của khiếm khuyết dẫn
truyền thần kinh cơ do rối loạn phóng thích
chất dẫn truyền thần kinh. Aûnh hưởng
kiểu bệnh cơ cũng được xác định
ở tất cả bệnh nhân theo tiêu chuẩn sinh
thiết. Tăng creatine huyết thanh xác định
chẩn đoán viêm đa cơ. Một vài bệnh nhân viêm
đa cơ có ảnh hưởng thần kinh cảm giác /
vận động ngoại biên được phát
hiện bằng khảo sát chẩn đoán điện và
v́ thế chúng được xem là viêm đa cơ
thần kinh. Những
bệnh nhân có biểu hiện tương tự về
dấu hiệu thần kinh cơ và thời gian bệnh
đă tham gia trong nghiên cứu này. Theo dữ liệu
của chúng tôi th́ sự khác biệt giữa các nhóm liên
quan đến triệu chứng đầu tiên. Khởi phát
nhược cơ thường nhất là sụp mi trong khi
khởi đầu của hội chứng nhược cơ
trong viêm đa cơ là từ chi dưới. Đặc
điểm lâm sàng đặc hiệu phù hợp cho
chẩn đoán hội chứng nhược cơ Eaton-
Lambert là sự vắng mặt các dấu hiệu của
thần kinh sọ, ngoại trừ sụp mi, khô miệng,
đau cơ và giảm phản xạ gân xương.
Những dấu hiệu của chúng tôi chứng tỏ
rằng ở những bệnh nhân eaton lambert hiếm khi liên
quan đến triệu
chứng hành năo,mà thường ảnh hưởng hệ
thần kinh tự động và giảm phản xạ gân
xương hơn so với những bệnh nhân nhược
cơ. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng
phát hiện một vài sự khác biệt giữa những
bệnh nhân nhược cơ có và không có bệnh cơ
liên quan. Aûnh hưởng hành năo thường đặc
hiệu hơn cho nhược cơ, trong khi đó chỉ
co yếu cơ tứ chi đơn độc , hay đi kèm
triệu chứng hành năo thường gặp
trong những bệnh nhân nhược cơ và có
biến đổi kiểu bệnh cơ. Những dữ
liệu của chúng tôi cho thấy những thay đổi
kiểu bệnh cơ không phải do nhược cơ kéo
dàiv́ thời gian bệnh trong nhược cơ có hoặc
không có liên quan bệnh cơ khác biệt nhau không đáng
kể(p>0.1). Số phần trăm bệnh nhân có u
tuyến ức ở hai nhóm có và không có ảnh hưởng
đến cơ khác biệt không đáng kể (p>0.1),
không thể cho rằng u tuyến ức gây ra những
biến đổi kiểu bệnh cơ. Chúng tôi cho là chúng
có thể được gây ra bởi những ảnh hưởng
phổ biến của những cơ thân thể trong
những bệnh nhân này. Những
bằng chứng về chuỗi kích thích lập lại liên
tiếp cho thấy không có sự khác biệt trong hiện
tượng suy giảm đáp ứng đặc hiệu
ở những bệnh nhân viêm đa cơcó
nhược cơ hay nhược cơ liên quan
bệnh cơ. Một ḿnh chẩn đoán điện không
thể phân biệt các loại khác nhau của hội
chứng nhược cơ. Hội chứng nhược cơ
Eaton -Lambert hơi khác và chỉ được t́m thấy
ở một phần nhỏ bệnh nhân viêm đa cơ.
Hoạt động cơ được t́m thấy ở
cả hai nhóm bệnh nhân bệnh cơ (viêm đa cơ và
bệnh cơ) không có khác biệt nổi bật – điện
thế hoạt động đa pha, nhỏ, ngắn. Tuy nhiên,
chúng tôi xác định sự xuất hiện của điện
thế tự phát(điện thế co giật sợi cơ,
sóng nhọn dương, và những điện thế
kỳ dị)chỉ có ở những bệnh nhân viêm
đa cơ. Những triệu chứng giống nhược
cơ trong viêm đa cơ đáp ứng rất kém với
thuốc kháng cholinesterase. Theo
nghiên cứu của chúng tôi cho rằng hội chứng
Eaton -Lambert hiếm khi t́m thấy ở những bệnh nhân
viêm đa cơ. Hơn nữa sự phân biệt không khó
khăn khi dựa trên các đặc điểm về lâm
sàng, chẩn đoán điện,và những bằng
chứng về dược lư học. Sự phân biệt
bệnh nhược cơ có liên quan cơ và viêm đa cơ
có triệu chứng nhược cơ không thể chỉ
dựa vào chuỗi kích thích lập lại liên tiếp.
Chỉ có vài chứng cứ về chẩn đoán điện
có thể quan sát thấy là các
hoạt động tự phát ở bệnh nhân viêm đa
cơ. Cuối
cùng chúng tôi kết luận rằng chẩn đoán phân
biệt giữa hội chứng nhược cơ trong viêm
đa cơ và bệnh nhược cơ có liên quan đến
các cơ th́ không thể chỉ bằng chẩn đoán
điện.
|
|
|