|
|
Sự phối hợp vận
nhãn
Phối hợp nhìn ngang (hình 7)
a.
Giải phẫu Sự phối
hợp nhìn ngang đòi hỏi sự hoạt động
đồng thời của cơ thẳng ngoài một bên
mắt và cơ thẳng trong của mắt bên kia. Nhân dây
VI chứa các neuron vận động kiểm soát cơ
thẳng ngoài. Nó cũng chứa các neuron truyền thông tin
thông qua bó dọc giữa để đến các tiểu
nhân điều khiển cơ thẳng trong của nhân dây
III đối diện. Do đó sự hoạt động
của nhân dây VI có thể tạo ra cử động
mắt nhìn ngang hướng về phía nhân được
kích thích. b.
Cử động mắt nhìn ngang “theo ý muốn” có
thể được điều khiển bởi vùng
mắt của thùy trán. Sự hoạt hóa một bên vùng này
sẽ làm cho 2 mắt nhìn sang bên đối diện. Để
đạt được điều này, vùng mắt thùy
trán đã được nối với trung tâm nhìn ngang
ở cầu não đối bên (hệ thống lưới
cạnh giữa cầu não hay PPRF), đường đi
bắt chéo tại phần thấp trung não.
c.
Liên quan với lâm sàng: Liệt
chức năng nhìn ngang: sự phối hợp vận động
mắt bị yếu hoặc liệt được
gọi là liệt
chức năng nhìn. Liệt chức năng nhìn ngang có
thể bị gây ra ở các sang thương ở bán
cầu đại não, làm 2 mắt không nhìn sang phía đối
sang thương được, hoặc sang thương thân
não, ở đây xảy ra 2 tình huống. Nếu dưới
chỗ bắt chéo tại phần thấp trung não thì
sẽ làm yếu việc nhìn về phía sang thương,
nếu trên chỗ bắt chéo thì giống như sang thương
ở bán cầu. Chú ý bệnh nhân liệt chức năng
nhìn sẽ có mắt đồng trục, do đó họ không
than phiền song thị (nhìn đôi) Liệt
vận nhãn liên nhân: Các sang thương của bó dọc
giữa (MLF) nằm giữa
nhân dây VI và dây III có thể làm yếu cử động
mắt nhìn vào trong (của dây III) khi cố gắng nhìn
ngang, nhưng không làm ảnh hưởng đến
chức năng hội tụ nhãn cầu. Ví dụ, một
sang thương MLF bên phải sẽ làm yếu cử
động đưa mắt phải vào trong khi cố
gắng nhìn sang bên trái. Ta có thể chứng minh sự
yếu này không gây ra bởi liệt cơ thẳng trong,
bởi vì cơ này vẫn thực hiện chức năng
của nó bình thường khi hội tụ nhãn cầu
(chức năng này được tiến hành toàn bộ
trong trung não). Phối
hợp nhìn dọc: chức năng này được
tiến hành ở trung não. Có các trung tâm
tham gia nhìn dọc ở trong hệ thống lưới
trung não, nằm ngay trên nhân dây III. Sự
ảnh hưởng lên tư thế: Sang
thương thân não có thể ảnh hưởng nhiều
bó đi xuống tác động lên hệ vận động.
Các sang thương ngang mức lồi não dưới
ở trung não làm ảnh hưởng các đường
đỏ gai và mái gai đi xuống sẽ gây ra tư
thế duỗi tứ chi (tư thế mất não). Trương
lực duỗi này tùy thuộc vào sự hoạt động
của nhân tiền đình bên, và nó sẽ bị mất
nếu sang thương lan xuống dưới nối hành
cầu. Các sang thương trên nhân đỏ có thể gây
ra tư thế mất vỏ, trong đó 2 tay ở tư
thế gập khủyu, và 2 chân ở tư thế
duổi. Các
hội chứng kinh điển: Các
hội chứng trung não: Hội
chứng Weber: (xem hình 8) Các cấu trúc
chính bị ảnh hưởng là các bó vỏ gai và
vỏ hành trong cuống não, và các sợi của dây III
đi qua phần cuống để ra khỏi trung não.
Với sang thương bên phải, bệnh nhân sẽ có
yếu liệt nữa người trái, và liệt dây III
phải (sụp mi, không nhìn lên xuống vào trong được,
và [nếu các sợi từ nhân Edinger - Westphal bị
ảnh hưởng] dãn đồng tử)
Hội
chứng Benedikt: Liệt
dây III cùng bên kèm với thất điều tiểu não
đối bên do sang thương ở trung não ảnh hưởng
đến dây III khi nó đi ngang gần nhân đỏ.
Sang thương ở nhân đỏ làm gián đoạn các
sợi từ bán cầu tiểu não bên đối diện
qua nhân đỏ lên đồi thị và vỏ não (xem thêm
phần tiểu não). Các
hội chứng cầu não trong Các
sang thương của nhân dây VI làm
liệt chức năng nhìn ngang về phía sang thương.
Nếu các sợi từ nhân dây VI đối diện
bị ảnh hưởng khi chúng bắt chéo vào bó
dọc giữa, thì động tác nhìn vào trong của nhóm
cơ thẳng trong cùng bên cũng bị yếu (Hội
chứng một rưỡi). Dây thần kinh VII cũng có
thể bị ảnh hưởng vì đường đi
của nó vòng qua nhân dây VI trước khi ra khỏi
cầu não. Các
sang thương ảnh hưởng dây VI khi nó ngang qua
cầu não có thể cũng ảnh hưởng
đến liềm trong (gây ra yếu nhìn ra ngoài cùng bên và
mất cảm giác sâu đối bên), hoặc ảnh hưởng
bó vỏ gai ở nền cầu não (gây ra yếu nhìn ra
ngoài cùng bên và liệt nữa người đối bên). Hội
chứng hành não bên (Hội chứng Wallenberg) Đây
là tai biến thân não phổ biến nhất. Bó gai đồi
thị bị ảnh hưởng gây ra mất cảm giác
đau nhiệt dưới cổ nữa người đối
bên. Aûnh hưởng nhân bó xuống của V làm mất
cảm giác đau nhiệt nữa mặt cùng bên sang thương.
Aûnh hưởng bó giao cảm xuống gây ra hội
chứng Homer (hẹp khe mi, co đồng tử và giảm
tiết mồ hôi cùng bên). Aûnh hưởng nhân mơ
hồ gây yếu cơ vòm miệng và khó nuốt. Aûnh hưởng
cuống tiểu não dưới gây thất điều
tiểu não cùng bên sang thương (Hình 9)
Hội
chứng khóa trong (nhồi máu vùng nền cầu não) Bó
vỏ gai và bó vỏ hành bị gián
đoạn ở nền cầu não gây ra liệt
tứ chi và liệt tất cả các nhân dây sọ
ngoại trừ sự kiểm soát vận nhãn. Nếu sang
thương lan đến phần giữa (tegmentum) của
cầu thấp, chức năng nhìn ngang có thể bị
ảnh hưởng (do đó chỉ có chức năng nhìn
dọc là có thể hoạt động), và cảm giác có
thể bị ảnh hưởng. Nét đặc trưng
của các sang thương này là chúng chừa lại
hệ thống lưới phía trên cầu thấp, và do
đó bệnh nhân vẫn duy trì được sự
thức tỉnh. Cách duy nhất để trao đổi
với các bệnh nhân không may mắn này là yêu cầu
họ di chuyển mắt để trả lời câu
hỏi. Xuất
huyết cầu não: Xuất
huyết trong cầu não (thường do cao huyết áp) gây
ra hôn mê (do ảnh hưởng hệ thống lưới),
tư thế mất não (tổn thương giữa nhân
đỏ và nhân tiền đình), và đồng tử co
nhỏ (ảnh hưởng bó giao cảm xuống).
|
|
|