|
|
TỔNG
QUAN VỀ KÍCH THÍCH TỪ TRƯỜNG XUYÊN SỌ
(Transcranial
Magnetic Stimulation – TMS) TS
Nguyễn Hữu Công, Khoa Nội Thần kinh, Bệnh
viện 175. Hăy tham khảo thêm trang Web của công ty sản xuất Magstim Lịch
sử:
Michael
Faraday phát minh ra điện từ trường vào năm
1831: từ trường khi biến đổi (theo thời
gian hay không gian) có thể sinh ra ḍng điện. D'Arsonval
1896 khi đút đầu ḿnh vào trong một cuộn dây
điện xoay chiều 110 volt và 30 ampere thấy mắt có
những đốm sáng lập loè (nảy dĩm đóm
mắt): kích thích trực tiếp của điện
từ trường xoay chiều lên vơng mạc. Brickford và
Fremming 1965 kích thích dây mặt bằng từ trường.
Polson 1982 kích thích từ trường dây thần kinh
ngoại vi và lần đầu tiên ghi được
điện thế co cơ. Barker 1985 lần đầu tiên
kích thích từ trường lên vỏ năo vận động
của người.Nguyên
lư:
Dùng
máy tạo ḍng điện từ 5 000 ampere trở lên,
ở dạng xung. Kèm 1 cuộn dây tạo được
xung từ trường cường độ 1 Tesla trở
lên. Thời khoảng của xung khoảng 1 ms. Máy phát xung
điện được tích điện cho tới điện
thế tối đa là 2 800 volt (2,8 kV). Khi có tín hiệu kích
(trigger), nó sẽ phóng điện vào cuộn dây. Bộ
phận chuyển mạch (switching device), giúp chuyển
một lượng lớn ḍng điện ra cuộn dây,
trong ṿng vài miligiây, và chỉ theo 1 chiều. Người
ta tính là năng lượng khoảng 500J được
chuyển qua cuộn dây, trong ṿng 100 microgiây. Một
phần năng lượng ấy chuyển thành năng lượng
từ trường. Cường độ từ trường
giảm dần theo khoảng cách, lớn nhất ở
vị trí sát với bề mặt cuộn dây. Những
yếu tố như độ sâu xuyên thấu, cường
độ, và độ chính xác phụ thuộc vào:
thời gian tăng cường độ (rise time), năng
lượng từ trường tối đa (peak magnetic
energy) chuyển vận qua cuộn dây, và phân bố theo không
gian của trường điện từ. Rise time và peak
coil energy do máy quy định, c̣n phân bố từ trường
theo không gian th́ tùy theo kiểu cuộn dây. Cuộn dây h́nh
tṛn, đường kính 90 mm là cuộn dây tiêu chuẩn,
tạo hiệu quả tốt nhất cho kích thích vỏ năo
vận động và cho rễ thần kinh trong ống
sống (xem h́nh minh họa). Cường độ kích thích bằng không hay
gần bằng không ở trung tâm cuộn dây, và tăng lên
tới tối đa ở ṿng tṛn dưới cuộn dây.
Ḍng điện sinh ra tại mô có chiều ngược
với chiều của ḍng điện có trong cuộn dây
(xem minh họa).
Với cuộn dây đường kính 90 mm, vị trí kích
thích chích xác không rơ lắm, nên người ta thiết
kế thêm các kiểu cuộn dây khác như: cuộn dây kép
(c̣n gọi là kiểu con bướm, hay kiểu số 8).
Khi ấy vị trí kích thích ở trung tâm, chỗ 2
cuộn dây chạm nhau.Kích
thích từ trường dễ thực hiện, kích thích
được những tổ chức ở sâu, không
bị trở ngại do tổ chức mỡ hay xương,
và không gây khó chịu. Ứng dụng chủ yếu là gây
kích thích mà không xâm lấn (non-invasive) lên con đường
vận động trung ương và ngoại vi. Ngoài ra c̣n
dùng kích thích vỏ năo trán trước, vỏ năo thị
giác, trung tâm ngôn ngữ, tiểu năo, và dây thần kinh
cảm giác ngoại vi. Nó dùng trong chẩn đoán, tiên lượng,
theo dơi (monitor) và điều trị. Điện
thế gợi vận động Motor Evoked Potentials (MEPs):
MEPs
có được bằng cách kích thích vỏ năo, rễ
tủy, và dây TK ngoại vi. Ghi đáp ứng co cơ
bằng máy EMG hoặc máy ghi điện thế gợi (xem
minh họa).
Để đo tốc độ dẫn truyền ngoại
vi (NCV) nên dùng điện cực h́nh số 8 để
vị trí chính xác của kích thích. Có thể kích thích
được sâu hơn so với cách ghi NCV thông thường.Tính
biến thiên của MEP: các đáp ứng ghi được
có tính biến đổi không ổn định rất rơ,
đó là hậu quả của khả năng chịu kích
thích liên tục biến đổi của vỏ năo. Tính
biến thiên này có thể đo lường được
và có ích trong chẩn đoán một số bệnh. Thời
gian dẫn truyền vận động trung ương
(Central Motor Conduction Time - CMCT): có thể kích thích từ trường
vào rễ thần kinh tủy sống (ỡ C7), hay dùng
thời gian tiềm sóng F, để tính thời gian
tiềm của dẫn truyền ngoại vi (peripheral
conduction latency). Sau đó lấy thời gian tiềm từ
vỏ năo tới cơ, trừ đi thời gian dẫn
truyền ngoại vi, ta được thời gian dẫn
truyền vận động trung ương. CMCT cùng
với các thông số khác là cơ sở cho chẩn đoán
và đánh giá về bệnh lư. Có rất nhiều
bảng chuẩn, và mỗi pḥng thí nghiệm có thể
tạo bảng chuẩn cho riêng ḿnh. Ngưỡng
(threshold): ngưỡng kích thích thường biểu
thị bằng tỷ lệ phần trăm so với cường
độ tối đa. Nó là 1 chỉ số nhậy
cảmtrong một số bệnh, nhất là khi CMCT vẫn
b́nh thường, ví dụ trong đột quỵ. Ngưỡng
là cường độ (power level) mà ở đó có
thể ghi được co cơ trong 50% số lần, và
có thể tính cho cả cơ nghỉ ngơi lẫn cơ
đang co. Tiêu chuẩn là ghi được 3 co cơ trong
6 lần kích thích. Biên
độ đáp ứng (response amplitude): cần phải ghi
được biên độ đáp ứng với cường
độ kích thích trên tối đa (supramaximal stimulus)
ở ngoại vi. Nhưng ở trung ương th́ không
thể có được đáp ứng trên tối đa
(supramaximal response) khi kích thích vỏ năo. Ta có thể
biểu thị đáp ứng trên tối đa ở
vỏ bằng chính thông số của nó, hay bằng
tỷ lệ so với đáp ứng trên tối đa
ở ngoại. Ở người b́nh thường, tỷ
lệ này là khoảng trên 50% với cơ tay có dùng
nghiệm pháp tạo thuận lợi. Tỷ lệ này có
thể chỉ bằng 5% hoặc ít hơn nữa trong
một số bệnh, ví dụ đột quỵ hay xơ
rải rác. Những
hạn chế: có một số hạn chế của kích
thích từ trường. Cho tới nay vẫn chưa kích
thích trực tiếp được tủy sống (có
thể cần kiểu cuộn dây đặc biệt hơn,
và cách tạo xung khác hơn). Người ta giải thích
là các xương và sụn bao quanh đă cản trở ḍng
điện chạy từ ngoài vào trong, và khoang tủy
sống không đủ lớn để tạo được
ḍng điện đủ mạnh. Nhưng trong đa
số trường hợp có thể khắc phục
được hạn chế này bằng cách kích thích
vỏ, rồi kích thích rễ tủy, ví dụ trong
bệnh thoái hóa cột sống cổ. Có
thể dùng cuộn dây kép 25 mm để đo MCV và SNCV,
thay cho cách đo thông thường trên máy điện cơ,
nó ít gây khó chịu và ít tốn thời gian hơn,
lại kích thích được dây nằm ở sâu hơn.
Ví dụ kích thích được các rễ dây thần
kinh tủy sống như dây hoành (phrenic nerve), mà nếu kích
thích bằng điện trực tiếp th́ vừa rất
đau, lại nhiều khi không thể làm được. Ưùng
dụng trong thoái hóa cột sống cổ: Kỹ thuật
đơn giản, không mất quá 45 phút và gần như
không đau. Dựa vào phân bố cơ của từng
rễ cổ để làm. Cơ nhị đầu (biceps)
do rễ C5, C6 và C7 chi phối. Cơ liên cốt I mu tay
(first dorsal interosseous) do rễ C8 và D1 chi phối. Thời
gian tiềm, biên độ và h́nh dạng sóng đều là
những thông số nhậy cảm để định
khu và định mức độ nặng của bệnh
lư cột sống cổ. So sánh đáp ứng bên phải
với bên trái giúp định hướng trội 1 bên
của tổn thương. Có thể dùng phương pháp
kích thích từ trường để chẩn đoán,
định lượng và theo dơi tiến triển của
tổn thương. Ưùng
dụng trong kích thích dây thần kinh hoành: có thể kích
thích dây hoành 1 hoặc cả 2 bên. Cho bệnh nhân cúi
đầu, đặt cuộn dây ở mỏm gai C6/C7, có
thể chuyển lên trên hay xuống dưới (dọc
đường giữa) sao cho có co cơ hoành tối đa.
Điện cực ghi: bóng nhựa ghi áp lực luồn qua
catheter, đo thay đổi áp lực do co thực quản
và co dạy dày ở từng vị trí riêng rẽ, từ
đó phân biệt ra được co dạ dày do cơ hoành. Ưùng
dụng trong Niệu khoa: đặt điện cực kim
đồng tâm vào các cơ ṿng (sphincter) hậu môn (anal)
hoặc quanh niệu đạo (periurethral), cơ hành hang
(bulbocarvernosus m.), hoặc cơ detrusor. Cũng có thể dùng
cuộn h́nh ṿng có chứa các bản điện cực
bằng bạc. Kích thích ở vỏ năo, rồi kích thích
ở thắt lưng cùng, ta sẽ t́m được
thời gian dẫn truyền trung ương và thời gian
dẫn truyền rễ thần kinh tủy sống. So sánh
với bảng chuẩn b́nh thường, từ đó phát
hiện bất thường. Người ta hay dùng cuộn
dây h́nh số 8. Cũng
có thể kích thích từ trường vào tủy lưng,
và ghi được SSEPs ở vỏ năo cảm giác. Phương
pháp này không đau. Nếu kích thích điện thông thường
ở vùng chậu, thường bệnh nhân không thể
chịu được. Ưùng
dụng trong đột quỵ: Có thể dùng để tiên
lượng và theo dơi diễn biến của đột
quỵ. Nếu dùng ngày trong ṿng 7 ngày đầu, kích thích
từ trường xuyên sọ cung cấp những dữ
liệu quan trọng cho tiên lượng phục hồi,
nhất là về mặt vận động. Đơn
giản nhất là nếu có MEPs ở bên liệt th́ tiên
lượng tốt, nếu không có th́ tiên lượng
phục hồi xấu. Chẩn đoán đột quỵ
th́ dựa vào lâm sàng và h́nh ảnh học, nhưng tiên lượng
hồi phục th́ lại không dựa vào đó được,
mà phải nhờ MEPs. Có thể dùng nhiều kiểu
cuộn dây khác nhau để kích thích vỏ năo: cuộn
tṛn b́nh thường để cho co cơ ở tay và
cuộn kép cho chân. Thường đặt cuộn dây trên
đỉnh đầu, chính giữa, và tăng dần cường
độ kích thích lên cho tới khi ghi được co cơ.
Ghi ở 1-2 cơ ở tay và chân, ghi cả 2 bên. Xác định
ngưỡng kích thích (threshold of stimulation) khi đặt
cuộn dây trên đỉnh đầu và cơ được
ghi th́ thư giăn. So sánh kết quả có được
giữa bên liệt với bên không liệt, hoặc
với bảng giá trị b́nh thường. Nếu dùng cường
độ khá cao mà vẫn không co cơ, th́ bảo
bệnh nhân co cơ lại (nghiệm pháp tăng cường
- tạo thuận lợi facilitation). Nếu bệnh nhân khó
hợp tác, th́ dùng tay chân bên đối diện, hoặc
dùng hệ cơ mặt, hoặc kích thích từ trường
thành cặp (paired stimuli). Số liệu có được
so sánh với bên không liệt hoặc với bảng
chuẩn b́nh thường. Những bệnh nhân không có
đáp ứng dù đă kích thích cường độ
tối đa, th́ tiên lượng phục hồi rất
xấu. Thời gian dẫn truyền trung ương (CMCT) tính
được bằng cách lấy thời gian tiềm chung
trừ đi thời gian tiềm ngoại vi. Đo CMCT
ngắn nhất bằng cách gây thuận lợi
(facilitation). CMCT thường là b́nh thường trong
bệnh lư này. Khoảng 5-10% số người không có
đáp ứng ban đầu vẫn có thể hồi
phục ở một mức độ nào đó, nhưng
hồi phục hoàn toàn vẫn khó mà có được. Ngưỡng
kích thích bất thường, biên độ đáp
ứng thấp, hoặc CMCT dài ra, đều chứng
tỏ dây thần kinh vận động có bị ảnh hưởng.
Tiên lượng phụ thuộc vào số lượng các
thông số bị bất thường. Nếu thực
hiện kích thích từ trường sớm ngay trong vài ngày
đầu của đột quỵ, kết quả của
nó có thể tạo cơ sở để tiên lượng
sớm về khả năng hồi phục. Kích
thích từ trường tần số nhanh:
cần
lưu ư là kích thích vỏ năo tần số nhanh có
thể gây ra những cơn co giật. Nhưng để
giảm bớt nguy cơ gây co giật do kích thích từ trường
lặp đi lặp lại, ta nên dùng 1 hoặc phối
hợp các biện pháp sau: kích thích ở khoảng 90%
hoặc thấp hơn ngưỡng vận động, kích
thích ở tần số thấp nhất có thể
được, kích thích xa ra khỏi khu vực của
vỏ năo vận động, sử dụng cuộn dây
cục bộ (local coil) nhằm có ḍng lan truyền rộng
ít hơn, kích thích thời gian càng ngắn càng tốt, sau
mỗi một chuỗi kích thích, nên để thời gian
đủ phục hồi. Các nghiên cứu về kích thích
từ trường lặp đi lặp lại (repetitve
transcranial magnetic stimulation - rTMS) khởi đầu từ
1990. Một trong những bài báo đầu tiên đă nêu lên
khả năng gây ngừng nói và đếm bị sai
của kích thích với tần số nhanh. Người ta
đă dùng chuỗi kích thích 25Hz kéo dài 10 giây để xác
định sự phân biệt phải-trái của các trung
tâm ngôn ngữ trước khi phẫu thuật. Các tài
liệu hiện nay thường nói về kích thích với
tần số chậm hơn nhiều. C̣n kích thích tần
số nhanh hiện được dùng cho nghiên cứu
độ thức tỉnh (cognitive studies) và làm phương
pháp điều trị trong tâm thần học, như trong
trầm cảm, tâm thần phân liệt, động kinh,
bệnh Parkinson, và làm giảm đau (pain relief). Máy kích thích
lặp đi lặp lại c̣n dùng để kích thích
ngoại vi nhằm chữa co cứng (spasticity) do đột
quỵ hoặc xơ rải rác. Người ta c̣n kích thích
trực tiếp vào cơ để xem sức cơ, gây ho
cho người liệt tủy, và giúp duy tŕ h́nh thể cơ
trong thời kư bất động. C̣n dùng nghiên cứu
về mệt mỏi, về rối loạn chức năng
đường niệu.Hiện
nay mỗi máy kích thích từ trường xuyên sọ
đều có thể điều chỉnh được 3
thông số chính là: cường độ (power level),
tần số (frequency) và thời khoảng của cả
chuỗi kích thích (train duration). Có thể t́m kiếm thông
tin về kích thích từ trường xuyên sọ TMS và kích
thích từ trường xuyên sọ lặp đi lặp
lại rTMS ở: the International Society for Transcranial Stimulation
(ISTS), the International Federation of Clinical Neurophysiology, the American
Academy of Neurology (AAN)... Kích
thích tần số thấp:
từ
1985 người ta nghiên cứu nhiều về kích thích
với tần số thấp (dưới 1Hz). Nhưng nói
chung đều thấy nguy cơ gây động kinh là
rất thấp. Có thể coi kích thích từ trường
xuyên sọ là một phương pháp rất an toàn.Hăy tham khảo thêm trang Web của công ty sản xuất Magstim
|
|
|