
KHẢ
NĂNG PHẢN ỨNG CỦA MẠCH MÁU NĂO VÀ NHỒI MÁU
DƯỚI VỎ
Letizia
M, Marina D, Fabio P, Mauro S, Patrizia G. Cerebrovascular Reactivity and
Subcortical Infarctions. Arch Neurol. APR 2001; 58: 577-581
Người
dịch: BS. Nguyễn Thanh Giang
Mục
đích: T́m hiểu sự liên kết giữa các
nhóm khác nhau của nhồi máu năo và khả năng
phản ứng của mạch máu năo (cerebrovascular reactivity)
nhằm đánh giá mối quan hệ của chúng với các
yếu tố nguy cơ chính dẫn tới đột
quỵ
Đối
tượng và phương pháp: Chúng
tôi đánh giá khả năng phản ứng của
mạch máu năo bằng cách sử dụng chỉ số
"breath-holding" của máy siêu âm Doppler xuyên
sọ theo dơi liên tục tốc độ ḍng động
mạch năo giữa cả hai bên của 41 bệnh nhân có
mặt thường xuyên trong dưỡng đường
của chúng tôi cho đến bây giờ, những bệnh
nhân này đột quỵ thiếu máu xuất hiện
lần đầu tiên và 15 bệnh nhân được
lựa chọn. Sự xác định chủ yếu
của thương tổn bởi máy chụp cắt
lớp điện toán, nhận biết 3 loại thương
tổn nhồi máu sau: nhồi máu thuộc vỏ, nhồi
máu dưới vỏ đơn thuần, nhồi máu dưới
vỏ yên lặng đa ổ. Bệnh nhân bị hẹp
hoặc tắc động mạch cảnh nặng nề mà
dẫn tới làm biến đổi khả năng
phản ứng của mạch máu năo được loại
khỏi nghiên cứu này. Tất cả t́nh trạng gây nên
do bệnh hoặc sinh lư bệnh làm suy yếu khả năng
phản ứng của mạch máu năo đều được
ghi nhận.
Kết
quả:Chỉ số "breath-holding" có ư nghĩa
thấp hơn ở nhóm nhồi máu dưới vỏ
rải rác so với bệnh nhân được lựa
chọn (P(0,001), nhóm nhồi máu dưới vỏ
đơn độc (P(0,01) và nhóm nhồi máu dưới
vỏ (P(0,01). Trong tất cả các nhóm đàn ông (P(0,05) và
bệnh sử cao huyết áp (P(0,05) kể cả cao
huyết áp đă được điều trị tương
quan với khả năng phản ứng của mạch máu
năo thấp. Sự phân tích của nhiều phép toán
hồi quy chỉ ra rằng tác nhân có ư nghĩa có thể
ảnh hưởng tới chỉ số
"breath-holding" là loại của tổn thương.
Bàn
luận: Những bệnh nhân đột quỵ
lần đầu tiên mà không có hẹp mạch máu, là
những người mới có triệu chứng nhồi máu
dưới vỏ cùng với nhồi máu yên lặng đa
ổ được xem là suy giảm sức chứa
mạch máu năo. Sự liên kết chặt chẽ của
nhồi máu dưới vỏ và nhồi máu yên lặng
đa ổ với việc suy giảm khả năng
phản ứng của máu năo đă chỉ ra vai tṛ
của bệnh mạch máu nhỏ và sự giảm tưới
máu có thể là cơ chế sinh lư bệnh của
nhồi máu dưới vỏ với nhồi máu yên
lặng đa ổ. Sự tương quan giữa việc
suy giảm sức chứa của ḍng máu và nhồi máu năo
đă được thông báo trước đây ở
những bệnh nhân mắc bệnh động mạch
cảnh nặng nề. Bệnh nhân với dung tích bảo
lưu mạch máu năo hạn chế có sự tưới máu
thích hợp thấp hơn so với những bệnh nhân
sức chứa của ḍng máu b́nh thường. Sức
chứa bảo lưu (dự trữ) của mạch máu năo
suy giảm có lẽ gia tăng sự rủi ro của
nhồi máu năo trong những bệnh nhân tắc động
mạch năo chính. Bệnh nhân với hẹp hoặc
tắc động mạch cảnh nặng nề thường
có ranh giới rơ vùng nhồi máu trong bán cầu năo, không
liên quan tới bản chất bệnh động mạch
cảnh. Vùng ranh giới của nhồi máu năo thường
giảm tưới máu và nó có ảnh hưởng làm
giảm ḍng máu tới những khu vực chính của bán
cầu năo. Hơn nữa, khả năng phản ứng
của mạch máu năo đă được biết là có
ư nghĩa trong giảm những nhồi máu nhỏ so
với huyết khối tắc mạch ở những
bệnh nhân hẹp động mạch cảnh cùng bên. Người
ta đă t́m thấy có sự liên kết giữa khả năng
phản ứng của mạch máu năo với những thương
tổn chất trắng. Sự ủng hộ giả
thuyết này phụ thuộc vào các loại thương
tổn có lẽ liên quan tới huyết động
học trong những thương tổn nhồi máu năo. Thêm
vào đó, bệnh nhân tắc động mạch năo
lớn và sự tưới máu nghèo nàn có nguy cơ cao
đột quỵ thiếu máu tái đi tái lại. Có
giả thuyết cho rằng sức chứa bảo lưu
(dự trữ) mạch máu năo giảm có liên quan nhiều
tới đột quỵ thiếu máu. Theo sự nhận
biết của chúng tôi, sự liên quan giữa các loại
khác nhau của thương tổn thiếu máu và khả năng
phản ứng của mạch máu năo chưa được
nghiên cứu trong những bệnh nhân đă từng
bị đột quỵ nhưng không có bệnh động
mạch cảnh nghiêm trọng.
Đối
tượng và phương pháp nghiên cứu:
Nghiên
cứu kế thừa và liên tục (prospective and consecutive
study) bao gồm tất cả những bệnh nhân bị
đột quỵ cấp tính, đột quỵ lần
đầu tiên và được nhập vào khoa thần
kinh của chúng tôi từ 1/1/1998 đến 1/10/1999.
Bệnh nhân được đăng kư vào nghiên cứu
này nếu họ có đầy đủ những tiêu
chuẩn sau:
1-
Triệu chứng lâm sàng có tương quan với thương
tổn nhồi máu dưới lều trên chụp cắt
lớp điện toán.
2-
Siêu âm Doppler loại trừ bệnh lư gây hẹp về
huyết động học của động mạch
cảnh và động mạch đốt sống (đoạn
ngoài sọ).
3-
Siêu âm xuyên sọ khám phá tốc độ ḍng máu động
mạch năo giữa đối xứng và cửa sổ thái
dương phù hợp cho phép thu nhận tốc độ
ḍng máu hai bên liên tục.
Bệnh
nhân đă từng bị đột quỵ được
loại khỏi nghiên cứu này.
Sử
dụng ḍng màu của siêu âm Doppler kiểu B
(model AU5; Harmonic Esaote biomedica, Esaote S.p.A., Genoa, Italy)
với đầu ḍ linear tần số 7.5MHz để
tiến hành đánh giá động mạch cảnh. Đánh
giá mảng thường xảy ra ở giữa lớp
nội mạc của động mạch cảnh trái,
động mạch cảnh phải và động mạch
cảnh chung. Các dạng thương tổn thiếu máu
được xác định bằng chụp cắt
lớp điện toán kiểu xoắn ốc (Tomoscan SR
7000; Philips Medical Systems, Amsterdam, the Netherlands).
Trong
số 152 bệnh nhân lần đầu tiên đột
quỵ thiếu máu được quan sát trong suốt
thời gian nghiên cứu có 111 bệnh nhân bị loại
khỏi nghiên cứu (21 bệnh nhân bị nhồi máu vùng
dưới lều, 56 bệnh nhân hiện đang bị
tắc về huyết động học của động
mạch đốt sống và động mạch cảnh
đoạn ngoài sọ và 34 bệnh nhân do "cửa
sổ" xương vùng thái dương nghèo nàn
hoặc có dấu hiệu không đối xứng của
tốc độ ḍng máu động mạch năo giữa).
Như vậy chỉ có 41 bệnh nhân được thu
nhận trong nghiên cứu này. Trong đó 32 bệnh nhân
được chụp cộng hưởng từ năo
bộ (Gyroscan ACS-NT, 1.5T; Philips Medical Systems). 21 bệnh nhân
trong nhóm nghiên cứu cũng được chụp
cộng hưởng từ mạch máu. Việc khảo sát
siêu âm xuyên sọ cơ sở và chụp cộng hưởng
từ mạch máu không cho phép khám phá thương tổn
hẹp tắc trong sọ đối với những
bệnh nhân được thu nhận nghiên cứu.
Dựa
vào vị trí của thương tổn phân ra 3 dạng
nhồi máu:
*
Loại I: nhồi máu vùng vỏ cấp tính lần đầu
tiên được chụp cắt lớp điện toán
chỉ ra vùng nhồi máu vùng vỏ thuộc vùng chi
phối của động mạch năo chính trong sọ.
*
Loại II: nhồi máu dưới vỏ đơn
thuần cấp tính lần đầu tiên được
chụp cắt lớp điện toán chỉ ra vùng
nhồi máu dưới vỏ thuộc một bên bán
cầu đại năo phù hợp với các triệu
chứng. Theo sự phân loại của Nakano và cộng
sự, vùng nhồi máu được sắp xếp theo
những hạch nền hoặc những vùng chất
trắng trên chụp cắt lớp điện toán và
những vùng vỏ năo b́nh thường. Đường
kính lớn nhất của thương tổn trên 2 cm.
*
Loại III: nhồi máu dưới vỏ yên lặng
đa ổ, là những trường hợp đột
quỵ lần đầu tiên, chụp cắt lớp
điện toán cho h́nh ảnh nhồi máu dưới
vỏ nhiều ổ. Chụp cắt lớp điện
toán được xác định bởi các chuyên gia không
có kiến thức về siêu âm xuyên sọ. Việc
đánh giá của khả năng phản ứng của
mạch máu năo được tiến hành bởi hai tác
giả (M.D. và F.P.) khác biệt với các nhận định
của chụp cắt lớp điện toán.
Nghiên
cứu đă được tiến hành trong một pḥng
yên tĩnh, bệnh nhân nằm ngửa trong tư thế
thoải mái. Tốc độ ḍng hai bên của động
mạch năo giữa được ghi lại liên tục
bởi siêu âm Doppler xuyên sọ (MultiDopX/TCD; DWL Elektronische
Systeme GmBH, Sipplingen, Germany). Hai đầu ḍ tần số 2
MHz được cố định trên đầu
bệnh nhân ở "cửa sổ" xương thái dương
để thu liên tục thông số tốc độ ḍng
trung b́nh của động mạch năo giữa cả hai bên.
Khảo sát tốc độ ḍng của ṿng Willis đă
được tiến hành giống như sự mô tả
của Aaslid và cộng sự. Chúng tôi thu nhận chứng
tăng nồng độ CO2 với "breath holding" và
đánh giá khả năng phản ứng của mạch máu
năo sử dụng chỉ số "breath holding" của
máy ở 41 bệnh nhân và 15 người t́nh nguyện
khoẻ mạnh tuyển mộ từ nhân viên bệnh
viện. Chỉ số "breath holding" thu được
bởi tỷ lệ phần trăm của tốc độ
ḍng trung b́nh tăng trong suốt quá tŕnh nín thở (tính
theo giây) của bệnh nhân theo sự điều khiển
của chúng tôi sau một nhịp thở vào b́nh thường
[(tốc độ ḍng trung b́nh cuối thời kỳ nín
thở - tốc độ ḍng trung b́nh lúc nghỉ ngơi)x100/thời
gian của thời kỳ nín thở]. Cuối thời
kỳ thở ra, nồng độ CO2 đă được
ghi bằng phương tiện đặc biệt
(Normocap-oxy; Datex-Ohmeda S.pA., Segrate, Italy). Huyết áp trung b́nh
và nhịp tim được theo dơi liên tục trên monitor
huyết áp trung b́nh (2300 Finapress Ohmeda Medical, Laurel, Md).
Tất cả bệnh nhân có nồng độ CO2 huyết
b́nh thường (normocapnic). Tốc độ ḍng trung b́nh
(MFV) lúc nghỉ ngơi đă được thu nhận liên
tục trong 1 phút bệnh nhân thở không khí pḥng b́nh thường.
Sau giai đoạn hô hấp có điều khiển,
tốc độ ḍng trung b́nh, huyết áp trung b́nh và
nhịp tim được ghi lại liên tục hơn 4 giây.
Bệnh nhân được yêu cầu nín thở trong 30 giây.
Cuối thời kỳ thở ra, đánh giá nồng độ
CO2 trong hơi thở đầu tiên sau khi nín thở.
Chỉ số 'breath holding" được tính toán sao
cho tăng nồng độ CO2 cuối thời kỳ
thở ra từ lần thở ranh giới đến hơi
thở ra đầu tiên sau khi hô hấp có điều
khiển là (8 mmHg. Hiệu quả của hô hấp có điều
khiển được kiểm soát trên monitor. Tất
cả các dữ liệu của siêu âm Doppler xuyên sọ
được lưu trữ trong đĩa cứng theo
sự phân tích.
Bệnh
nhân được khám xét hai lần, lần đầu
trong giai đoạn đột quỵ cấp tính và
lần hai thăm khám liên tục từ 1 đến 3 tháng
sau đợt đột quỵ cấp tính. Dữ liệu
liên quan đến nghiên cứu này dựa vào kết
quả được h́nh thành trong suốt quá tŕnh
kể từ khi có bằng chứng chỉ ra rằng
huyết động học của năo bộ có thể
giảm trong suốt giai đoạn đột quỵ
cấp tính.
Tất
cả những t́nh trạng gây nên do bệnh lư hoặc
sinh lư bệnh có thể giải thích cho những biến
đổi khả năng phản ứng của mạch máu
năo của bệnh nhân đều được ghi
nhận.
Những
hiểu biết sau đây hoặc những yếu tố
giả định có kết hợp với nguy cơ đều
được xem xét: tuổi ((50, (50, (65, (65 tuổi);
giới tính; nghiện rượu nặng ((300 g/tuần); hút
thuốc lá hằng ngày ((10 điếu/ngày); cao huyết áp
(đă được điều trị bằng thuốc
hạ áp suốt thời gian trước khi nghiên cứu
hoặc cao huyết áp được chẩn đoán trong
suốt thời gian ở bệnh viện); nồng độ
cholesterol cao trong huyết thanh (nồng độ cholesterol
huyết thanh (6.2 mmol/l [(240 mg/dl] tại thời gian nghiên
cứu); hematocrit tăng; sự có mặt của bệnh
đái tháo đường; bệnh lư rối loạn
đông máu và migraine.
Với
phương pháp phân tích thống kê, bước đầu
phân tích sự khác nhau về những nét riêng biệt
của những bệnh nhân (tuổi, nhóm, giới tính và
những nét khác), nhận thấy có sự phụ
thuộc với nhau giữa những yếu tố của các
đối tượng và chỉ số "breath
holding". Người ta đă sử dụng điều
đó để đánh giá mối quan hệ giữa
khả năng phản ứng của mạch máu năo và
yếu tố guy cơ. Nói tóm lại, khi phân tích sự khác
nhau của các nhóm (4 nhóm: 3 nhóm bệnh nhân và 1 nhóm
chứng) cũng như sự phụ thuộc với nhau
giữa những yếu tố của các đối tượng
và chỉ số "breath holding" để có thể
đánh giá sự khác nhau về khả năng phản
ứng của mạch máu năo giữa các nhóm bệnh nhân
khác nhau và nhóm chứng.
Bước
tiếp theo tách biệt những yếu tố nguy cơ thích
hợp hơn đối với chỉ số "breath
holding", thực hiện việc phân tích sự thoái hoá
nhiều ổ, đi sâu vào phân tích vào khả năng
phản ứng của mạch máu năo cũng như
những thay đổi có thể có hoặc không lệ
thuộc vào loại của tổn thương, giới tính,
tuổi và sự có mặt của bệnh lư cao huyết
áp, đái tháo đường, tăng cholesterol, bệnh lư
rối loạn đông máu, migrain, sử dụng thuốc
hạ huyết áp, hút thuốc lá, tăng hematocrit, sử
dụng rượu quá mức. Mỗi thay đổi xác
thực được tham gia vào cũng như những
biến số giả, trong khi thay đổi liên tục.
Từng bước một hướng tới tương
lai phương pháp này đă được lựa
chọn để tách biệt những tác nhân có ư nghĩa
trong thống kê hồi cứu. Xác lập bước đầu
có ư nghĩa thống kê với P(0.05. Tất cả
những phân tích được tiến hành trên máy vi tính
với phần mền StatSoft 5.0 (StatSoft Inc, Tulsa, Okla). Nghiên
cứu này được xác nhận bởi cơ quan
thẩm quyền địa phương và sự thoả
thuận nhất trí của tất cả bệnh nhân.
Trong
suốt 1 thập kỷ qua siêu âm Doppler xuyên sọ đă
được sử dụng rộng răi để đánh
giá tốc độ ḍng máu của những động
mạch chính trong sọ và khả năng phản ứng
của mạch máu năo đối với những tác nhân kích
thích khác nhau bao gồm sự đáp ứng đối
với nồng độ CO2. Có nhiều t́nh trạng
thuộc về bệnh lư học hoặc sinh lư học như
tuổi, giới tính, bệnh migrain, hút thuốc lá, cao
huyết áp, độ nhớt ḍng máu có thể giải thích
những thay đổi của khả năng phản
ứng của mạch máu năo đối với nồng
độ CO2. Có nhiều t́nh trạng đă được
suy xét, những yếu tố nguy cơ phổ biến
ảnh hưởng tới đột quỵ. Nghiên cứu
của chúng tôi đánh giá sự liên kết giữa các
nhóm khác nhau của thương tổn thiếu máu và
mối quan hệ của nó với những yếu tố
nguy cơ đă kể trên đối với đột
quỵ. Như vậy những bệnh nhân suy giảm
khả năng phản ứng của mạch máu năo có
nguồn gốc tiềm tàng như hẹp hoặc tắc
động mạch cảnh được phát hiện ra và
loại trừ khỏi nhiên cứu này.
Trở
về đầu trang
B-
Kết quả;
Tất
cả bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu thực hiện
nhiệm vụ yêu cầu một cách đầy đủ.
Giai đoạn nín thở từ 29,1 đến 30,6 giây.
Nhịp tim và huyết áp trung b́nh gia tăng không đáng
kể sau khi kết thúc giai đoạn nín thở so
với t́nh trạng cơ bản: 2%-3% đối với
nhịp tim; 3%-4% đối với huyết áp trung b́nh.
41
bệnh nhân (30 nam, 11 nữ) được nghiên cứu.
13
bệnh nhân nhóm I có nhồi máu tại vỏ năo,
tuổi trung b́nh 53,9(11,8 (từ 34 đến 83 tuổi).
14
bệnh nhân nhóm II có nhồi máu đơn độc dưới
vỏ năo, tuổi trung b́nh 61,4(9,2 (từ 41 đến 76
tuổi).
14
bệnh nhân nhóm III có nhồi mnaoxyeen lặng đa ổ
dưới vỏ năo, tuổi trung b́nh 60,5(10,5 (từ 44
đến 76 tuổi).
Tất
cả bệnh nhân với nhồi máu dưới vỏ năo
được xác định thêm bằng chụp cộng
hưởng từ mặc dù thương tổn dưới
vỏ năo đă được phát hiện bằng
chụp cắt lớp điện toán.
Những
đặc điểm riêng của đối tượng
nghiên cứu và yếu tố nguy cơ đối với
mạch máu được ghi chép trong bảng. Tuổi trung b́nh và
sự phân bố giới tính đối với nhóm
chứng là 57,66(12,7 (từ 37 đến 73 tuổi) tương
ứng cho 9 nam và 6 nữ. Không có đặc điểm khác
biệt quan trọng về tuổi và phân bố giới tính
giữa các nhóm. Nh́n dưới góc độ dược
lư khi điều trị các yếu tố nguy cơ cho
mạch máu không có sự khác biệt có ư nghĩa trong
việc sử dụng insulin, thuốc uống hạ
đường máu, nhóm thuốc hạ mỡ máu, nhóm
statin và các nhóm thuốc hạ huyết áp khác nhau
được t́m thấy giữa các nhóm bệnh nhân.
Từ
góc nh́n của đột quỵ đă không t́m thấy
ảnh hưởng có ư nghĩa thống kê của khả
năng phản ứng của mạch máu năo trên hai động
mạch năo giữa (nhóm I: chỉ số "breath
holding" trung b́nh bên có triệu chứng 1,24(0,51 ; bên không
có triệu chứng 1,45(0,51 với P=0.09. Nhóm II: chỉ
số "breath holding" trung b́nh bên có triệu chứng
1,33(0,36 ; bên không có triệu chứng 1,36(0,39 với P=0.6.
Nhóm III: chỉ số "breath holding" trung b́nh bên có
triệu chứng 0,97(0,42 ; bên không có triệu chứng
0,9(0,42 với P=0.32.). Giá trị trung b́nh của khả năng
phản ứng của mạch máu năo bên trái và bên
phải được sử dụng giúp cho phép phân tích
thống kê.
Hút
thuốc, đái tháo đường, hàm lượng
cholesterol trong huyết thanh cao, hematocrit, bệnh lư đông máu,
uống rượu đă không t́m thấy ảnh hưởng
có ư nghĩa tới khả năng phản ứng của
mạch máu năo. Nam giới (F1,39 =4,93 với P=0,03) bị cao
huyết áp (dù có hoặc không điều trị) (F1,39
=4,1 với P=0,049) dù bất kể nhóm nào, đă được
t́m thấy có liên quan đến tính nhạy cảm
mạch máu năo thấp. Tuy nhiên, bệnh migrain có liên quan
đến khả năng phản ứng của mạch máu
năo cao (F1,39 =8,21 với P=0,007).
Nh́n
vào sự so sánh chỉ số "breath holding" giữa
3 nhóm bệnh nhân và nhóm chứng, kết quả của
mỗi nhóm có ư nghĩa (F3,52 =6,6 với P(0,001). Đặc
biệt, sự phân tích thẳng vào vấn đề đă
chỉ ra rằng chỉ số "breath holding" của
nhóm nhồi máu yên lặng đa ổ vùng dưới
vỏ năo thấp hơn nhóm chứng có ư nghĩa
thống kê với P(0,001 và cả hai nhóm: nhóm nhồi máu
đơn độc với P(0,01; nhóm nhồi máu tại
vỏ năo với P(0,01. Không có sự khác biệt có ư nghĩa
thống kê về chỉ số "breath holding" trung b́nh
được quan sát ở nhóm chứng, ở nhóm
nhồi máu tại vỏ và ở nhóm nhồi máu
đơn độc dưới vỏ.
Việc
phân tích hồi quy đa biến chỉ ra rằng chỉ có
yếu tố có giá trị mới có thể ảnh hưởng
chỉ số "breath holding" của mỗi loại thương
tổn (r=0.46, (F1,39=10.2 với P=0,003). Không có biến
số nào được đánh giá tốt hơn sự
thay đổi của chỉ số "breath holding".
Kết quả này không chỉ ra rằng loại thương
tổn là nhân tố độc lập báo trước
của khả năng phản ứng của mạch máu năo,
bởi tỷ lệ phần trăm cao hơn của thương
tổn nhồi máu đa ổ được quan sát ở
những bệnh nhân cao huyết áp (P=0.04, (2 test) và
những bệnh nhân hút thuốc lá (P=0.04, (2 test). Tuy nhiên
kết quả việc phân tích ngược trở lại
gợi ư rằng tại thời điểm đánh giá,
yếu tố mạnh nhất và duy nhất có thể
giải thích chỉ số "breath holding" là loại
thương tổn. Đặc biệt là bệnh nhân
ở nhóm nhồi máu yên lặng đa ổ vùng dưới
vỏ đă biểu thị chỉ số "breath
holding" thấp hơn một cách có ư nghĩa với
hai nhóm khác (khác nhau trung b́nh=0.41), cũng như được
xác lập bởi sự phân tích các biến số ở
trên.
C-Bàn
luận:
Mục
đích đầu tiên của nghiên cứu này là đánh
giá mối quan hệ giữa dung tích dự trữ của
máu và sự phân bố tổn thương ở bệnh
nhân đă bị đột quỵ nhưng không có hẹp
động mạch cảnh. Dữ liệu có liên quan
chặt chẽ đến sự giảm tưới máu
của năo ở vùng thiếu máu và nhồi máu. Giảm tưới
máu là nguyên nhân gốc của tất cả đột
quỵ thiếu máu. Tuy nhiên vai tṛ của nó ở mức
độ nào, cũng như nhân tố nào là nguyên nhân
đầu tiên trong đột quỵ vẫn c̣n khó
hiểu. Sự tương quan giữa việc suy giảm
dung tích dự trữ của mạch máu năo và vấn
đề đột quỵ ở bệnh nhân mắc
bệnh tắc động mạch cảnh trong nặng
nề đă được xác định rơ. Tuy nhiên, vai
tṛ sinh lư bệnh của việc suy giảm dung tích dự
trữ về huyết động trong những bệnh nhân
đột quỵ mà không có hẹp động mạch
cảnh đă không thấy rơ ràng. Việc t́m kiếm chính
trong nghiên cứu của chúng tôi ở những bệnh nhân
đột quỵ lần đầu tiên không có hẹp
động mạch là ở chỗ những bệnh nhân có
khả năng phản ứng của mạch máu năo
thấp đă được t́m thấy có nhồi máu dưới
vỏ hoặc nhồi máu yên lặng đa ổ. Chúng tôi
đă không quan sát được sự khác biệt có ư
nghĩa thống kê của khả năng phản ứng
của mạch máu năo giữa nhóm chứng, nhóm nhồi máu
đơn độc dưới vỏ hoặc nhóm
nhồi máu tại vỏ. Trước đây, sự
giảm khả năng phản ứng của mạch máu năo
đă được thông báo trong những nhồi máu
ở những ḍng nhỏ so sánh với những điều
t́m thấy ở những bệnh nhân nhồi máu tại
vỏ. Tuy nhiên, tất cả những bệnh nhân tong nghiên
cứu mà có tắc động mạch cảnh trong,
giống như tác giả đưa ra sự cung cấp máu
của tuần hoàn bàng hệ bị hạn chế góp
phần thấy được tính nhạy cảm mạch
máu năo thấp trong nhồi máu ḍng nhỏ. Trước
đây những nghiên cứu cũng đưa ra giả
thuyết rằng nhồi máu chất trắng ở vùng các
mạch máu tận cùng chi phối cũng có lẽ là
hậu quả chung của sự giảm tưới máu. Người
ta đă từng cho rằng có mối liên quan giữa
việc suy giảm khả năng phản ứng của
mạch máu năo và những thương tổn quanh năo
thất được xác định bằng chụp
cộng hưởng từ ở những bệnh nhân không
có triệu chứng lâm sàng và những bệnh nhân cao
huyết áp với leukoaraiosis. Cũng đă có thông báo
về mối lên quan giữa việc suy giảm khả năng
phản ứng của mạch máu năo và loại, vị trí,
số lượng của những chất trắng ở
những người lớn tưổi. Tuy nhiên tất
cả những nghiên cứu này được tiến hành
trên bệnh nhân có hẹp và không hẹp động
mạch dẫn đến kết quả những trường
hợp hẹp động mạch cảnh ảnh hưởng
đến khả năng phản ứng của mạch máu
năo có thể bị bỏ sót. Người ta thường
cho rằng một trong những nguyên nhân gây nên nhồi máu
dưới vỏ một bên bán cầu là bệnh của
những mạch máu nhỏ, huyết khối gây tắc
những mạch nhỏ, t́nh trạng suy giảm huyết
động học trong những mạch. Theo nhận xét
của chúng tôi, việc suy giảm dung tích dự trữ
về huyết động học ở những bệnh nhân
không hẹp động mạch thường kết
hợp với thương tổn nhồi máu dưới
vỏ đa ổ ủng hộ giả thuyết cho
rằng trong một số trường hợp thương
tổn nhồi máu dưới vỏ có lẽ liên quan
với thương tổn thiếu máu do huyết động
học ở năo. Giảm tưới máu đă có thể
giải thích cho những nhồi máu yên lặng ở
bệnh nhân đột quỵ lần đầu tiên do
nhồi máu dưới vỏ và đột quỵ có
triệu chứng. Nghiên cứu của chúng tôi, trong các
yếu tố nguy cơ có thể làm suy giảm khả năng
phản ứng của mạch máu năo th́ cao huyết áp và
giới tính nam đă được t́m thấy là có ư
nghĩa và không phụ thuộc vào các nhóm. Hậu quả
của cao huyết áp và việc điều trị cao
huyết áp đối với khả năng phản
ứng của mạch máu năo đă được dự
đoán trước đây. Tuy nhiên không một nghiên
cứu nào chỉ ra rằng huyết áp nào là phù hợp
để làm giảm sự tác động trở lại
của những nguy cơ gây đột quỵ. Chúng tôi
nhận thấy rằng, mặc dù có hay không có được
điều trị, bệnh nhân cao huyết áp vẫn có
khả năng phản ứng của mạch máu năo
thấp nhất. Sự nhận biết này đă chỉ trích
việc điều trị hạ áp cho những bệnh nhân
bị đột quỵ. Giữa những yếu tố
nguy cơ dẫn đến đột quỵ như:
tuổi, cao huyết áp, đái tháo đường đă
không t́m thấy sự khác biệt có ư nghĩa trong đột
quỵ tại vỏ hoặc dưới vỏ. Tuy nhiên,
cao huyết áp cũng đă đực chỉ ra là có tương
quan chặt chẽ, độc lập với nhồi máu yên
lặng. Nhồi máu yên lặng thường được
chụp cắt lớp điện toán và chụp cộng hưởng
từ nh́n thấy trong những chất trắng dưới
vỏ hoặc những hạch nền ở những
bệnh nhân đă từng bị đột quỵ và trong
những người già. Gần đây, người ta
đă thấy nhồi máu yên lặng xuất hiện
lần đầu tiên ở trong chất trắng có
kết hợp với sự thoái hoá và cao huyết áp
đó là sự xuất hiện của nhồi máu yên
lặng ở trong những vùng trung tâm cơ bản báo trước
sự tiến triển của vữa xơ động
mạch. Những yếu tố nguy cơ thuộc di
truyền học đối với nhồi máu yên lặng
cũng được đề xuất. Hậu quả
của cao huyết áp đối với những mạch máu
nhỏ đă được biết đến nhiều.
Mạch máu "bị tái cấu trúc" được t́m
thấy trong những mạch máu năo ở người cao
huyết áp mạn tính. Người ta đă đưa ra
giả thuyết rằng sự biến đổi cấu
trúc này làm giảm tính điều chỉnh tự động
làm cho những thương tổn ở vùng chất
trắng sâu phụ thuộc vào sự dao động
của huyết áp.
Chúng
tôi quan sát thấy khả năng phản ứng của
mạch máu năo gia tăng một cách có ư nghĩa đối
với những bệnh nhân có tiền sử bệnh
migrain. Nghiên cứu khả năng phản ứng của
mạch máu năo trong cơn migrain đă cung cấp những
kết quả trái ngược, trong nghiên cứu của chúng
tôi chỉ có 3 bệnh nhân bị bệnh migrain do đó chúng
tôi không thể rút ra kết luận cuối cùng có liên
quan tới điều này.
Trở
về đầu trang
D-
kết luận:
Nghiên
cứu của chúng tôi phác hoạ mối liên quan chặt
chẽ giữa việc suy giảm khả năng phản
ứng của mạch máu năo và sự phát hiện
nhồi máu dưới vỏ yên lặng giữa những
bệnh nhân không có hẹp động mạch cảnh
đột quỵ lần đầu tiên có triệu
chứng của đột quỵ dưới vỏ.
Sự phù hợp của lâm sàng với những tác nhân
huyết động học trong sinh lư bệnh của
nhồi máu dưới vỏ đ̣i hỏi phải
thẩm tra nhiều hơn. Những nghiên cứu sau này,
trong một số lượng lớn bệnh nhân cũng
cần được tiến hành siêu âm Doppler xuyên
sọ đánh giá khả năng phản ứng của
mạch máu năo có thể có thử nghiệm thích hợp bên
cạnh để phân biệt đột quỵ dưới
vỏ do bệnh mạch máu nhỏ hoặc từ nguyên nhân
khác, đặc biệt là tắc mạch.
|
Đặc
điểm của bệnh nhân đă từng bị
đột quỵ
|
Các thông số
|
BN
nhồi máu tại vỏ (n=13)
|
BN
nhồi máu đơn độc dưới vỏ
(n=14)
|
BN
nhồi máu dưới vỏ với nhồi máu yên
lặng đa ổ (n=14)
|
|
Tuổi
|
53.9
±
11.8
|
61.4
±
9.2
|
60.5
±
10.5
|
|
Giới
tính
|
Nam
|
6(46)
|
12(86)
|
12(86)
|
|
Nữ
|
7(54)
|
2(14)
|
2(14)
|
|
Cao
huyết áp
|
5(38)
|
7(50)
|
11(79)
|
|
Đái
tháo đường
|
0
|
3(21)
|
3(21)
|
|
Hút
thuốc lá
|
3(23)
|
7(50)
|
10(71)
|
|
Nghiện
rượu
|
2(15)
|
1(7)
|
1(7)
|
|
Tăng
cholesterol
|
6(46)
|
5(36)
|
1(7)
|
|
Độ
nhớt
|
1(8)
|
0
|
0
|
|
Bệnh
migraine
|
2(15)
|
1(7)
|
0
|
BHI của ba nhóm bệnh nhân và
nhóm chứng.
Nhóm 1: bệnh nhân nhồi máu
tại vỏ (lều) n=13
Nhóm 2: bệnh nhân nhồi máu
đơn độc dưới vỏ n=14
Nhóm 3: bệnh nhân nhồi máu
dưới vỏ yên lặng đa ổ n=14
Nhóm chứng: n=15
Xem chú thích ba nhóm bệnh nhân
nhồi máu trong phần đối tượng và phương
pháp nghiên cứu.
Trở
về đầu trang
