THAM KHẢO THẦN KINH HỌC

viem-dotqui

Home Up Feedback Contents Search

 

Cholesterol

VIÊM SAU ĐỘT QUỊ.

Có hại không ?

Gregory J. del Zoppo, MD; Kyra J. Becker, MD; John M. Hallenbeck, MD. Inflamation after stroke. Arch Neuro/Vol 58, Apr2001, P 669-671.

Người dịch: BS Bạch thanh Thủy.   

            Tổn thương mô kích thích tăng tưới máu cục bộ và kích thích các bạch cầu đi vào để bắt đầu hàn gắn vết thương. Đáp ứng này liên quan tới các thụ cảm thể dính bạch cầu, sự giải phóng các chất hoạt động sinh học và những thay đổi vi mạch, điều này cho phép các bạch cầu xâm nhập. Phản ứng viêm đóng vai tṛ sống c̣n trong hồi phục các mô, nó cung cấp một phần trong toàn bộ hệ thống bảo vệ miễn dịch. Ở những bệnh nhân thiếu máu năo, dường như quá tŕnh viêm sớm là có hại.

 ĐÁP ỨNG VIÊM ĐỐI VỚI THIẾU MÁU NĂO CỤC BỘ.

Viêm bản chất tế bào và không tế bào

            Viêm tế bào được khởi đầu bằng thiếu máu tại khoảng tiếp xúc giữa máu và các tế bào nội mạch của vi mạch. Các nhà nghiên cứu đă chứng minh rằng các bạch cầu hạt tham gia sớm trong đáp ứng của vi mạch năo đối với thiếu máu cục bộ và nhanh chóng đi vào khu vực thiếu máu trong mô năo, tiếp theo là các bạch cầu đơn nhân. Chuyển động khởi đầu của các tế bào viêm không cố định vào trong hệ thống thần kinh trung ương đ̣i hỏi sự có mặt nhanh chóng  của các thụ cảm thể kết dính bạch cầu (P selectin, phân tử kết dính gian tế bào 1 [ICAM-1], và E selectin) trên biểu mô vi mạch và những thụ cảm thể đối lập (như là b2 integrin CD18) trên các bạch cầu. Thêm vào đó , các vi mạch năo nhanh chóng đưa ra các kháng nguyên hoạt động khác sau khi thiếu máu cục bộ. Thiếu máu làm cho những tế bào bản chất mạch máu và không mạch máu sản sinh ra cytokine và chemokine, những chất này hoạt hóa các tế bào viêm và tế bào nội mạc và có thể trực tiếp gây độc thần kinh. Cytokine tiết quá mức , chồng chéo và hiệu quả tác động này có thể vừa có lợi vừa có hại. Phần lớn những tế bào trong năo bị thiếu máu (những tế bào nội mạc, các đại thực bào quanh mạch, vi tế bào đệm, các tế bào sao và các nơ-ron) đều có thể tiết interleukin (IL) 1( và yếu tố hoại tử u (TNF) (. Việc tiếp xúc của những tế bào nội mạch với các cytokine làm sản sinh ra ICAM-1 và E selectin. Hơn nữa, IL-1( và TNF-( có thể trực tiếp gây chết tế bào, đặc biệt nếu tổng hợo protein bị ức chế. Các nhà nghiên cứu đă chỉ ra rằng IL-1( có thể gây ra thoái hóa thần kinh và làm lan rộng tổn thương năo cục bộ khi thử nghiêm trực tiếp trong tắc động mạch năo giữa ở chuột.

Viêm và huyết khối.

            Dưới tác dụng của các chất trung gian gây viêm, bề mặt nội mạch trở nên hoạt hóa prothrombotic  như đă thấy trong nuối cấy tế bào thực nghiệm. Interleukin 1( và TNF-(  có thể gây ra hoạt hoá chất trợ đông vi mạch, ức chế hệ thống thrombomodulin-protein C-protein S và ức chế phân hủy fibrin. Thoái hóa hàng rào thấm vi mạch  làm cho huyết tương tiếp xúc với yếu tố mô quanh mạch dẫn đến việc lắng đọng fibrin quanh mạch và gây huyết khối. Tiểu cầu, fibrin và các bạch cầu đa nhân có thể kết tập bên trong các vi mạch. Tổng hợp prostaglandin và leukotriene có thể góp phần gây tổn thương thiếu máu ở nhiều mức. Thiếu máu gây hoạt hóa phospholipase A2 của tế bào đệm h́nh sao và vi tế bào đệm. Leukotriene B4 và throboxan A2 được sản sinh trong năo sau khi thiếu máu thoảng qua và sản phẩm tiếp theo của hoạt hóa phosphlipase A2 có thể gây tổn thương  do co mạch và hoạt hóa tiểu cầu trong ṿng xoắn bệnh lư mà xúc tiến hoạt hóa bạch cầu hơn nữa và sinh ra yếu tố hoạt hóa tiểu cầu. Yếu tố hoạt hóa tiểu cầu cũng góp phần làm tăng nhiễm độc thần kinh.  

Các yếu tố góp phần tổn thương thứ phát

            Đáp ứng viêm sau thiếu máu có thể góp phần vào tổn thương năo thứ phát bằng nhiều cách. Hoạt hóa bạch cầu góp phần làm tắc làm mạch, trong khi sự di chuyển bạch cầu, tăng cường hô hấp tế bào, giải phóng enzym tiêu bào th́ gây ra thoái hoá mô và tạo ổ tổn thương. Huyết khối vi mạch  có thể là nguyên nhân hoặc hậu quả của quá tŕnh viêm, quá tŕnh này có thể dẫn đến tổn thương vi mạch hơn nữa. Phù do tổn thương tế bào nội mạch và tổn thương gián tiếp bạch cầu có thể dẫn đến tăng áp lực trong sọ hoặc tăng áp lực mô cục bộ và bằng cách đó gây giảm tưới máu năo. Viêm có thể kết hợp với nhu cầu tăng chuyển hóa cục bộ, trong khi tăng nhiệt độ kích thích hoạt hóa tế bào lympho, điều này có thể gây độc thần kinh.

 NHỮNG YẾU TỐ KHÁC GÓP PHẦN VÀO PHÁT TRIỂN TỔN THƯƠNG.

           Có thể làm giảm độ nặng của tổn thương sau đột quị bằng cách điều chỉnh đáp ứng viêm.

 Khả năng chịu đựng thiếu máu.

            Các dạng thay đổi của stress nặng (sublethal) (đột quị, stress oxy hoá, tăng nhiệt độ, giảm oxy máu) có thể là điều kiện ban đầu của các tế bào năo và gây ra một t́nh trạng đề kháng với những t́nh huống tiếp theo, điều này có thể gây chết bằng cách khác. Sự thích nghi theo nhiều hướng tiếp theo tiền trạng đó kích thích chống lại một số cơ chế đă được biết đối với quá tŕnh tổn thương tế bào do thiếu máu. Phần lớn các dạng stress làm tiết IL-1( và TNF-(, các yếu tố này làm xuất hiện tiền trạng trung gian gần gây chết và liên quan với tín hiệu điều hoà sự chịu đựng thiếu máu năo trong các dạng đột quị.

 Dung nạp miễn dịch.

            Hoạt động dung nạp miễn dịch đối với các kháng nguyên của hệ thống thần kinh trung ương ảnh hưởng tới các tế bào lympho và có thể làm giảm kích thước ổ nhồi máu có lẽ thông qua việc tăng cường biến đổi khu trú việc sản xuất yếu tố phát triển (1. Biến đổi yếu tố phát triển (1 có thể trực tiếp hoặc không trực tiếp bảo vệ thần kinh do ưu điểm trong năng lực điều biến đáp ứng miễn dịch của nó. Các thụ cảm thể giúp biến đổi yếu tố phát triển (1 nằm trên các tế bào thần kinh và các tế bào h́nh sao. Các động vật không có biến đổi  yếu tố phát triển (1 th́ bị nhiễm các bệnh miễn dịch lan tỏa trong khi sự biến đổi yếu tố phát triển (1 ngoại sinh th́ làm giảm tổn thương tế bào thần kinh sau thiếu máu cục bộ và toàn thể.

 HIỆU QUẢ CỦA CÁC CHẤT ỨC CHẾ

  Thực nghiệm

            Hoạt động và tác dụng của mỗi chất trung gian sinh học của quá tŕnh viêm không thể xem xét riêng biệt tách rời những yếu tố khác, khi mà những chất trung gian này chỉ là một phần của cả một quá tŕnh. Chiến lược nhằm giới hạn tổn thương năo qua trung gian bạch cầu thường là cụ thể và tiêu đích chỉ một chất trung gian gây viêm riêng biệt . Do dư thừa và chức năng chồng lấp của các chất trung gian này, hiệu quả lâm sàng của việc pḥng ngừa bằng một chất có thể bị giới hạn. Dường như bằng chứng của tác dụng chống viêm xuất phát từ nhiều vấn đề khác nhau.

            Vi mạch không chảy ngược. Việc phong tỏa CD18 integrin (2 của bạch cầu sau khi tắc động mạch năo giữa và trước khi tái tưới máu làm tăng rơ rệt các vi mạch mở trong các tĩnh mạch sau mao mạch. Tương tự như vậy, ức chế thụ cảm thể fibrin- integrin (IIb(3 của tiểu cầu có thể làm giảm vi mạch không chảy ngược. Những nghiên cứu này cho thấy vai tṛ của tiểu cầu và bạch cầu đối với tắc mạch. Điều trị kháng bạch cầu gồm kháng thể kháng bạch cầu trung tính và kháng thể kháng CD IIb, CD 18 hoặc ICAM-1 có thể làm giảm tổn thương . Những nghiên cứu  ức chế bạch cầu này cho thấy giảm thể tích ổ nhồi máu khoảng 30-60%; tuy nhiên cũng có những nghiên cứu có kết quả âm tính. Việc ủng hộ hơn nữa về vai tṛ của bạch cầu đối với tổn thương mô c̣n thấy từ việc quan sát những con chuột được lựa chọn  kiểu gen trong đó những gen P selectin, ICAM-1 và nicotinamide adenine dinucleotide phosphate oxidase bị lấy bỏ, trong những nghiên cứu này thể tích nhồi máu giảm khoảng 90%.

            Cytokine. Mặc dầu nhiều pḥng thí nghiệm đă quan sát thấy ức chế IL-1( và TNF-( trong những dạng đột quị tiền lâm sàng làm giảm thể tích ổ nhồi máu, có tranh luận xung quanh vai tṛ  của TNF-( trong thiếu máu năo. Nhiều tranh luận phát sinh từ những quan sát thấy rằng những động vật  thiếu thụ cảm thể TNF chịu đựng được những ổ nhồi máu lớn hơn những động vật này ở dạng hoang dại. Làm mất tác dụng TNF-( trong suốt quá tŕnh phát triển của động vật làm vấn đề trở nên phức tạp. Có nhiều dạng chuyển gen cytokine khác cần được làm sáng tỏ cẩn thận. Những động vật chuyển gen có quá nhiều TNF-( trong tế bào sao nhưng không có trong tế bào thần kinh th́ bị bệnh thần kinh cùng với bằng chứng của viêm măn tính, trong khi  những động vật có quá nhiều IL-6 trong tế bào sao th́ bị phá vỡ hàng rào máu năo, tăng C3 bổ thể và bị bệnh thoái hoá thần kinh tiến triển. Có quá nhiều IL-6 trong tế bào thần kinh, dường như liên quan với bệnh tế bào thần kinh đệm h́nh sao và sự tăng số lượng vi tế bào đệm có nhánh nhưng không có bằng chứng tổn thương tế bào thần kinh.

            Yếu tố ức chế 2 cyclooxydase. Khuynh hướng lựa chọn các thuốc chống viêm có thể giới hạn tổn thương. Các thuốc kháng viêm không steroid ức chế hoạt động cyclooxydase. Ibuprofen làm giảm nồng độ thromboxane A2 trong năo, cải thiện tưới máu năo sau đột quị và làm giảm tổn thương tế bào thần kinh.

 Lâm sàng.

            Ngược lại với thực nghiệm, kinh nghiệm mới đây về sử dụng thuốc chống viêm trong những thử nghiệm lâm sàng 3 pha đă thất bại. Enlimomab, một kháng thể đơn ḍng ở chuột kháng ICAM-1 người đă làm tăng tỷ lệ chết trong thử nghiệm đột quị cấp đa trung tâm. Một nghiên cứu mới đây với đột quị cục bộ ở chuột sử dụng kháng thể chuột khác hướng tới việc kháng lại ICAM-1 chuột (kháng thể 1A2ø9) đă sinh ra những kháng thể kháng chuột và hoạt hoá bổ thể, bạch cầu hạt và nội mô, mà chúng áp đảo một vài lợi ích tiềm tàng do ức chế kết tập tiểu cầu và làm tăng thể tích nhồi máu. Nghiên cứu này gợi ư rằng các protein khác loại được tiêm vào mạch máu có thể hoạt hoá các cơ chế gây viêm làm tăng  tổn thương thiếu máu năo. Một thử nghiệm khác mới đây dùng kháng thể đơn ḍng được nhân tính hóa với CD18 (kháng thể Hu23F2G hoặc leukarrest) đă bị ngừng lại khi nó đă được xác nhận là an toàn nhưng đă chỉ ra không có ích lợi trong một phân tích không có hiệu quả tạm thời. Những thất bại rơ ràng này của điều trị chống kết dính trong đột quị không phủ nhận khả năng là viêm có vai tṛ trong tổn thương năo do thiếu máu. Dường như những thất bại nàyï làm nổi bật những phức tạp của hệ thống miễn dịch  và những vấn đề của việc thiết kế thử nghiệm lâm sàng.

 KẾT LUẬN.

             Quá tŕnh viêm tiếp theo tổn thương thiếu máu năo và góp phần vào quá tŕnh tổn thương. Giả thuyết chung rằng quá tŕnh viêm được khởi đầu bằng tổn thương thiếu máu có thể gây hại và ngăn chặn quá tŕnh viêm này có thể làm giảm tổn thương cuối cùng vẫn chưa được kiểm chứng lâm sàng. Bởi v́ sự dư thừa và lẫn lộn trong hiệu quả của các chất trung gian gây viêm đă được công nhận, nên không chắc chắn có thể khám phá được hiệu quả lâm sàng của một chất ức chế đặc biệt đối với một khâu nào đó. Có nhiều yếu tố vẫn chưa được khám phá, v́ vậy các chất chống viêm (đơn độc hặc kết hợp) có thể có hiệu quả trên nhiều bệnh nhân, và v́ vậy hiểu rằng sử dụng không đúng lúc, dùng kéo dài, dạng không thích hợp của các chất chống viêm có thể làm kết quả tồi tệ hơn. Dường như có lư do vững chắc để tin rằng một nghiên cứu đối với những chất hoạt hóa ngược hoặc những chất trung gian gây viêm hoặc đối với những biện pháp báo hiệu trong tế bào mà có khả năng ức chế rơ ràng các cơ chế gây viêm có thể mang lại những tiêu đích mới để pḥng ngừa. Những thử nghiệm lâm sàng thiết kế tốt đối với khuynh hướng chống viêm trong đột quị tiếp tục bị chỉ trích.

 VIÊM VÀ ĐỘT QUỊ.

Có lợi không có hại?

Giora Z. Feuerstein, MD; Xinkang Wang. PhD. Inflamation and stroke.  Arch Neuro/Vol 58, Apr2001, P 672-673.

Người dịch: BS Bạch thanh Thủy.

             Vào thời điểm bắt đầu vào thế kỷ 21, đột quị là nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ 3 ở các nước phát triển nhất và là nguyên nhân hàng đầu của tử vong do tim mạch ở Nhật Bản và Trung Quốc. Gánh nặng về y tế của bệnh thật nặng nề như là mất khả năng lao động, gây thiệt hại nặng nề cho bệnh nhân, gia đ́nh và xă hội. Bệnh này vẫn chứa có phương pháp điều trị hiệu quả ngoài một nhóm giới hạn bệnh nhân (5%) được điều trị tiêu huyết khối có hiệu quả cải thiện rơ rệt. T́nh trạng này là phổ biến mặc dù những cố gắng nghiên cứu mănh liệt và nhiều thử nghiệm lâm sàng  đă cố gắng khai thác các thuốc nhằm giảm tỉ lệ tử vong và tỷ lệ tàn tật do đột quị. Cho đến giờ sự khai thác thuốc cố gắng nhằm vào các yếu tố điều biến các kênh ion (Ca++ và Na+), quét dọn các gốc oxygen, các tác nhân dẫn truyền kích thích thần kinh (các thụ cảm thể glutamate và glycerine tiên phát). Dường như các thử ngiệm lâm sàng về các yếu tố điều biến các tiêu đích này cho đến nay đă thất bại bởi v́ thiếu hiệu quả, hiệu quả có hại hoặc những khó khăn phát sinh khác. Cuộc tranh luận về lư do của thực tế khốc liệt này  nảy sinh từ những cuộc thảo luận mới đây với chỉ điểm (finger-pointing) về nguyên nhân chính của thất bại gồm các dạng động vật không chính xác, các cơ chế hoạt động không biết rơ, thiết kế lâm sàng nghèo nàn, tính toán thời gian điều trị không đầy đủ và các yếu tố khác.

            Trong khi các tranh luận này đang tiếp tục, cộng đồng nghiên cứu đột quị dường như trở nên  tỉnh táo hơn với những tiêu đích (taget) đặc thù của thuốc  (như ở trên) khi được chứng minh bởi  niềm tin tưởng là các con đường khác như là tái cấu trúc, apoptosis, và viêm là những lĩnh vực chưa có kinh nghiệm để thành công trong tương lai. Chúng tôi cảnh báo rằng các lỗi đă qua rải rác đă bị lặp lại – những người tham gia chủ đề kháng viêm đang trên đường đi.

            Viêm được định nghĩa như là một phản ứng khu trú tại những khoang gian vi mạch mà nó làm cho dịch và các tế bào được vận chuyển cục bộ từ vùng trong mạch vào trong mô để cách ly những tác nhân có hại và để bảo vệ và sửa chữa mô. Hơn 10-20 năm qua, các nhà nghiên cứu đột quị đă xem xét mô năo tại các khoảng thời gian khác nhau sau đột quị đă thấy sự có mặt không thể chối căi của các tế bào viêm (như là bạch cầu trung tính, bạch cầu đơn nhân) tại vị trí tổn thương. Cùng với sự phát triển của các kỹ thuật như hóa mô miễn dịch, sinh hóa,  các kỹ thuật phân tử cao đặc biệt, sự có mặt của các chất trung gian gây viêm trong mô năo quanh vùng thiếu máu cũng đă được chứng minh. Tóm tắt , sự có mặt của các chất trung gian gây viêm cytokine, interleukine, chemokine, các bạch cầu, các phân tử dính nội mạc đă gây ra việc nghiên cứu rộng răi chiến lược nhằm bác bỏ tính chất khẩn cấp và (hoặc) tác dụng của các chất trung gian này. Những nghiên cứu về vấn đề này th́ đầy đủ cùng với những thông báo về vai tṛ có hại của các chất trung gian đó và tác dụng có lợi của việc ngăn chặn những thành phần của chúng  như là làm tan bạch cầu, chống kết dính phân tử (phân tử kết dính trong tế bào 1 [ICAM-1], E-hoặc P-selectins), kháng cytokine và kháng interleukine. Một phần nhỏ của các thông báo bất đồng ư kiến đă bị phớt lờ. Dường như đánh giá số liệu về tác dụng có hại của viêm trong đột quị cho thấy nhiều khả năng có khiếm khuyết. Những nghiên cứu dược lư mà trong đó các chất trung gian gây viêm được tiêm nhanh chóng vào trong năo b́nh thường và năo thiếu máu có tính nhân tạo cao bởi v́ liều quá cao kết hợp với việc không tương liên với các thông số về không gian, thời gian hoặc ngữ cảnh của t́nh trạng bệnh lư.

            Các dạng động vật chuyển gen trong đó loại bỏ riêng biệt các gen thụ cảm thể cytokine hoặc cytokine (the bad guys) bị làm thiếu máu năo đă cho thấy tổn thương lan rộng hơn và hồi phục lâu ít triển vọng hơn những con chuột hoang dă-một kết quả đối ngược với hiệu quả bảo vệ được mong đợi. Đáng chú ư nhất là yếu tố hoại tử u ( chuột, trong những con chuột bị loại bỏ cytokine hoặc thụ cảm thể cytokine dẫn đến tăng rơ rệt số lượng mô hoại tử và hồi phục chức năng kém. Điều tương tự cũng đúng đối với interleukinê của chuột (IL-6).

            Cytokine có vai tṛ đối với chức năng thay thế viêm, hăy c̣n một vài cytokine như là IL-10 đă cho thấy có tác dụng bảo vệ thần kinh trong các  dạng tổn thương năo trong đó có đột quị. Trên thực tế, cả hai cytokine (yếu tố hoại tử mô ( và IL-1() phần lớn thường được trích dẫn như là có hại trong phạm vi đột quị th́ đă cho thấy khả năng bảo vệ thần kinh, trên thực tế, cảûi thiện mô năo đến t́nh trạng chịu đựng chấn thương thiếu máu khi được tiêm vào trước khi khởi phát tổn thương thiếu máu.

            Đại thực bào hoạt hóa khi có mặt trong năo được xem như “tên hung ác” (willian), khả năng xúc tiến tăng trưởng và bảo vệ thần kinh của các yếu tố giải phóng từ đại thực bào hoạt hoá đă được quan sát kỹ. Khả năng này được chứng minh bằng những sự hồi phục đáng chú ư gây ra do đưa những đại thực bào được hoạt hóa tương đồng vào tủy sống bị tổn thương ở chuột. Hơn nữa, tác dụng có lợi cuả các tế bào viêm và tế bào miễn dịch trong tổn thương hệ thống thần kinh trung ương cũng đă được chỉ ra trong những nghiên cứu mà trong đó việc bảo vệ thần kinh (bởi các no-ron ở vơng mạc) đă được thực hiện bởi các tế bào T hoạt hoá protein bản chất myelin.

            Từ những triển vọng lâm sàng, các glucocorticoid, thuốc kháng viêm hoạt động nhanh nhất  và có hiệu lực nhất đă biết được đánh giá tốt th́ không có tác dụng điều trị trong những bệnh nhân đột quị. Cũng như thế, không có thuốc kháng viêm non-steroids thông thường nào (NSAIDs: aspirin, indomethacin, ibuprofen...) có lợi ích đă được chứng minh trong điều trị cấp tính đột quị.

            Những thử nghiệm lâm sàng mới đây ở những bệnh nhân đột quị cấp sử dụng kháng thể kháng ICAM-1 đă hoàn thành với kết luận là không có hiệu quả. Trên thực tế, một xu hướng có hại đă được ghi nhận. Trong khi nguyên nhân của điều này chưa rơ ràng, thất bại của những thử nghiệm về ICAM-1 trong đột quị th́ phù hợp với việc không có hiệu quả của các thuốc kháng viêm chính (các steroid) hoặc các thuốc đặc hiệu hơn (như các NSAID) trong điều trị đột quị.

            Tóm lại, mục tiêu của bức thư ngắn này là kêu gọi các phân tích về vai tṛ của viêm trong tổn thương năo do thiếu máu cần cẩn thận hơn nữa. Vai tṛ có lợi của các tế bào viêm và các chất trung gian gây viêm trong sửa chữa mô, một cơ chế tiến triển cơ bản để sống sót được biết rơ là điều cốt yếu. Có khả năng là một số các chất trung gian gây viêm có nguồn gốc từ tế bào có thể chống lại (critical) việc sửa chữa phù hợp và hồi phục mạng lưới tế bào thần kinh và làm tăng tính mềm dẻo và tái tạo của mạng nối tiếp cần thiết  đối với các chương tŕnh luyện tập chức năng mà mô năo bị tổn thương đă chi phối. 

KHẢ NĂNG CÓ LỢI HOẶC CÓ HẠI CỦA QUÁ TR̀NH VIÊM TRONG ĐỘT QUỊ.

 John N. Whitaker, MD Birmingham, Ala. The potential for Harm or Benefit from inflamatory processes in stroke. Arch Neuro/Vol 58, Apr2001, P 674.

Người dịch: BS Bạch thanh Thủy. 

             V́ tác hại nổi bật của đột quị là nguyên nhân gây tử vong và tàn phế ở khắp nơi trên thế giới, nhiều cố gắng đă làm để pḥng ngừa, giới hạn và phục hồi tổn thương do đột quị gây ra. Trong đột quị do thiếu máu, sự cố gắng đă tập trung vào các yếu tố nguy cơ đă biết và sử dụng các phương pháp điều trị phẫu thuật hoặc nội khoa để duy tŕ hoặc tái thiết lập t́nh trạng mở của mạch máu, làm chậm tổn thương mô và làm tăng tiến hồi phục chức năng. Trong hai bài này, sự ảnh hưởng của các chất trung gian gây viêm trong đột quị đă được nêu nên. Cả hai nhấán mạnh sự cần thiết phải tập trung vào vai tṛ phụ của quá tŕnh viêm trong một rối loạn thường được bắt đầu bằng các cơ chế không phải viêm.

            Sự xem xét tương tự đă trở nên nổi bật trong các bệnh lư thần kinh khác như là bệnh Alzheimer. Mặc dù sự chú ư tới viêm (share), rất nhiều quan điểm khác nhau được đề xuất nhằm xem xét và sửa đổi trực tiếp ra sao quá tŕnh viêm được khởi động bởi thiếu máu năo. Zoppo và cộng sự có cách nh́nh kinh điển hơn bằng cách mô tả khoa học và chi tiết vai tṛ của phân tử kết dính, cytokine và các yếu tố khác, đơn độc hoặc kết hợp. Trái lại, Feuerstein và Wang kiểm tra cẩn thận vấn đề, kết luận rằng của các chất trung gian gây viêm thực sự là có lợi đối với quá tŕnh hồi phục tổn thương do thiếu máu. Nếu không điều trị, vai tṛ có lợi của hệ thống miễn dịch đă được chứng minh đối với các dạng tổn thương khác của mô. Thí dụ, các tế bào lympho nhạy cảm với protein có bản chất  myelin có khả năng thúc đẩy quá tŕnh hồi phục  sau tổn thương dây thần kinh thị do đè ép và đụng giập tủy sống.

            Thật khó dung giải trọn vẹn các ư kiến xung đột giữa hai tác giả v́i nhiều vấn đề vẫn c̣n đang được thử nghiệm. Nhiều hỗn dược, các nồng độ và sư phối hợp của các thành phần gây viêm bản chất tế bào hoặïc dịch thể sẵn sàng giúp một chiến thuật  điều trị triển vọng đối với đột quị. Trong khi thử nghiệm lâm sàng về kháng thể đơn ḍng kháng ICAM-1 ở người bị thất bại và sự thất bại trong chuyển gen đối với yếu tố hoại tử u ( cytokine thay thế viêm đă có kết quả tồi tệ hơn nhiều sau đột quị thực nghiệm, có khả năng là các chất trung gian thay thế viêm có vai tṛ ở một giai đoạn nhất định của đột quị. Như vậy thời điểm cũng như cytokine đặc hiệu hoặc yếu tố đă xác định là một biến số quan trọng để xác định xem phản ứng viêm có giúp đỡ hoặc làm hại đối với hậu quả sau đột quị không. Đột quị là bệnh lư có biến chứng, và hệ thống miễn dịch cùng với  các bước điều ḥa và bù đắp của nó ít nhất là sự thách thức đối với  sự hiểu biết  và thành công sau này.