|
|
VIÊM
SAU ĐỘT QUỊ.
Có
hại không ?
Gregory
J. del Zoppo, MD; Kyra J. Becker, MD; John M. Hallenbeck, MD. Inflamation after
stroke. Arch Neuro/Vol 58, Apr2001, P 669-671. Người
dịch: BS Bạch thanh Thủy.
Tổn thương mô kích thích tăng tưới máu
cục bộ và kích thích các bạch cầu đi vào
để bắt đầu hàn gắn vết thương.
Đáp ứng này liên quan tới các thụ cảm thể
dính bạch cầu, sự giải phóng các chất
hoạt động sinh học và những thay đổi vi
mạch, điều này cho phép các bạch cầu xâm
nhập. Phản ứng viêm đóng vai tṛ sống c̣n trong
hồi phục các mô, nó cung cấp một phần trong toàn
bộ hệ thống bảo vệ miễn dịch. Ở
những bệnh nhân thiếu máu năo, dường như quá
tŕnh viêm sớm là có hại. ĐÁP
ỨNG VIÊM ĐỐI VỚI THIẾU MÁU NĂO CỤC
BỘ. Viêm
bản chất tế bào và không tế bào
Viêm tế bào được khởi đầu
bằng thiếu máu tại khoảng tiếp xúc giữa máu
và các tế bào nội mạch của vi mạch. Các nhà
nghiên cứu đă chứng minh rằng các bạch cầu
hạt tham gia sớm trong đáp ứng của vi mạch năo
đối với thiếu máu cục bộ và nhanh chóng
đi vào khu vực thiếu máu trong mô năo, tiếp theo là
các bạch cầu đơn nhân. Chuyển động
khởi đầu của các tế bào viêm không cố
định vào trong hệ thống thần kinh trung
ương đ̣i hỏi sự có mặt nhanh chóng của các thụ cảm thể kết dính
bạch cầu (P selectin, phân tử kết dính gian tế bào
1 [ICAM-1], và E selectin) trên biểu mô vi mạch và những
thụ cảm thể đối lập (như là b2
integrin CD18) trên các bạch cầu. Thêm vào đó , các vi
mạch năo nhanh chóng đưa ra các kháng nguyên hoạt
động khác sau khi thiếu máu cục bộ. Thiếu máu
làm cho những tế bào bản chất mạch máu và không
mạch máu sản sinh ra cytokine và chemokine, những chất
này hoạt hóa các tế bào viêm và tế bào nội
mạc và có thể trực tiếp gây độc thần
kinh. Cytokine tiết quá mức , chồng chéo và hiệu
quả tác động này có thể vừa có lợi
vừa có hại. Phần lớn những tế bào trong năo
bị thiếu máu (những tế bào nội mạc, các
đại thực bào quanh mạch, vi tế bào đệm,
các tế bào sao và các nơ-ron) đều có thể
tiết interleukin (IL) 1( và yếu tố hoại tử u
(TNF) (. Việc tiếp xúc của những tế bào
nội mạch với các cytokine làm sản sinh ra ICAM-1 và E
selectin. Hơn nữa, IL-1( và TNF-( có thể trực
tiếp gây chết tế bào, đặc biệt nếu
tổng hợo protein bị ức chế. Các nhà nghiên
cứu đă chỉ ra rằng IL-1( có thể gây ra thoái hóa
thần kinh và làm lan rộng tổn thương năo
cục bộ khi thử nghiêm trực tiếp trong tắc
động mạch năo giữa ở chuột. Viêm
và huyết khối.
Dưới tác dụng của các chất trung gian gây
viêm, bề mặt nội mạch trở nên hoạt hóa
prothrombotic như đă
thấy trong nuối cấy tế bào thực nghiệm.
Interleukin 1( và TNF-( có thể gây ra hoạt hoá chất trợ
đông vi mạch, ức chế hệ thống
thrombomodulin-protein C-protein S và ức chế phân hủy
fibrin. Thoái hóa hàng rào thấm vi mạch
làm cho huyết tương tiếp xúc với yếu
tố mô quanh mạch dẫn đến việc lắng
đọng fibrin quanh mạch và gây huyết khối.
Tiểu cầu, fibrin và các bạch cầu đa nhân có
thể kết tập bên trong các vi mạch. Tổng
hợp prostaglandin và leukotriene có thể góp phần gây
tổn thương thiếu máu ở nhiều mức.
Thiếu máu gây hoạt hóa phospholipase A2 của tế bào
đệm h́nh sao và vi tế bào đệm. Leukotriene B4 và
throboxan A2 được sản sinh trong năo sau khi
thiếu máu thoảng qua và sản phẩm tiếp theo
của hoạt hóa phosphlipase A2 có thể gây tổn thương
do co mạch và hoạt hóa tiểu cầu trong ṿng
xoắn bệnh lư mà xúc tiến hoạt hóa bạch
cầu hơn nữa và sinh ra yếu tố hoạt hóa
tiểu cầu. Yếu tố hoạt hóa tiểu cầu cũng
góp phần làm tăng nhiễm độc thần kinh. Các
yếu tố góp phần tổn thương thứ phát
Đáp ứng viêm sau thiếu máu có thể góp
phần vào tổn thương năo thứ phát bằng
nhiều cách. Hoạt hóa bạch cầu góp phần làm
tắc làm mạch, trong khi sự di chuyển bạch
cầu, tăng cường hô hấp tế bào, giải phóng
enzym tiêu bào th́ gây ra thoái hoá mô và tạo ổ tổn thương.
Huyết khối vi mạch có
thể là nguyên nhân hoặc hậu quả của quá tŕnh
viêm, quá tŕnh này có thể dẫn đến tổn thương
vi mạch hơn nữa. Phù do tổn thương tế bào
nội mạch và tổn thương gián tiếp bạch
cầu có thể dẫn đến tăng áp lực trong
sọ hoặc tăng áp lực mô cục bộ và
bằng cách đó gây giảm tưới máu năo. Viêm có
thể kết hợp với nhu cầu tăng chuyển hóa
cục bộ, trong khi tăng nhiệt độ kích thích
hoạt hóa tế bào lympho, điều này có thể gây
độc thần kinh. NHỮNG
YẾU TỐ KHÁC GÓP PHẦN VÀO PHÁT TRIỂN TỔN THƯƠNG.
Có
thể làm giảm độ nặng của tổn thương
sau đột quị bằng cách điều chỉnh đáp
ứng viêm. Khả
năng chịu đựng thiếu máu.
Các dạng thay đổi của stress nặng
(sublethal) (đột quị, stress oxy hoá, tăng nhiệt
độ, giảm oxy máu) có thể là điều kiện
ban đầu của các tế bào năo và gây ra một t́nh
trạng đề kháng với những t́nh huống
tiếp theo, điều này có thể gây chết bằng cách
khác. Sự thích nghi theo nhiều hướng tiếp theo
tiền trạng đó kích thích chống lại một
số cơ chế đă được biết đối
với quá tŕnh tổn thương tế bào do thiếu máu.
Phần lớn các dạng stress làm tiết IL-1( và TNF-(, các
yếu tố này làm xuất hiện tiền trạng trung
gian gần gây chết và liên quan với tín hiệu điều
hoà sự chịu đựng thiếu máu năo trong các
dạng đột quị. Dung
nạp miễn dịch.
Hoạt động dung nạp miễn dịch đối
với các kháng nguyên của hệ thống thần kinh
trung ương ảnh hưởng tới các tế bào
lympho và có thể làm giảm kích thước ổ
nhồi máu có lẽ thông qua việc tăng cường
biến đổi khu trú việc sản xuất yếu
tố phát triển (1. Biến đổi yếu tố phát
triển (1 có thể trực tiếp hoặc không trực
tiếp bảo vệ thần kinh do ưu điểm trong năng
lực điều biến đáp ứng miễn dịch
của nó. Các thụ cảm thể giúp biến đổi
yếu tố phát triển (1 nằm trên các tế bào
thần kinh và các tế bào h́nh sao. Các động vật
không có biến đổi yếu
tố phát triển (1 th́ bị nhiễm các bệnh
miễn dịch lan tỏa trong khi sự biến đổi
yếu tố phát triển (1 ngoại sinh th́ làm giảm
tổn thương tế bào thần kinh sau thiếu máu
cục bộ và toàn thể. HIỆU
QUẢ CỦA CÁC CHẤT ỨC CHẾ
Hoạt động và tác dụng của mỗi
chất trung gian sinh học của quá tŕnh viêm không
thể xem xét riêng biệt tách rời những yếu
tố khác, khi mà những chất trung gian này chỉ là
một phần của cả một quá tŕnh. Chiến lược
nhằm giới hạn tổn thương năo qua trung gian
bạch cầu thường là cụ thể và tiêu đích
chỉ một chất trung gian gây viêm riêng biệt . Do dư
thừa và chức năng chồng lấp của các
chất trung gian này, hiệu quả lâm sàng của việc
pḥng ngừa bằng một chất có thể bị
giới hạn. Dường như bằng chứng của
tác dụng chống viêm xuất phát từ nhiều
vấn đề khác nhau.
Vi mạch không chảy ngược. Việc phong
tỏa CD18 integrin (2 của bạch cầu sau khi tắc
động mạch năo giữa và trước khi tái tưới
máu làm tăng rơ rệt các vi mạch mở trong các tĩnh
mạch sau mao mạch. Tương tự như vậy,
ức chế thụ cảm thể fibrin- integrin (IIb(3
của tiểu cầu có thể làm giảm vi mạch không
chảy ngược. Những nghiên cứu này cho thấy
vai tṛ của tiểu cầu và bạch cầu đối
với tắc mạch. Điều trị kháng bạch
cầu gồm kháng thể kháng bạch cầu trung tính và
kháng thể kháng CD IIb, CD 18 hoặc ICAM-1 có thể làm
giảm tổn thương . Những nghiên cứu
ức chế bạch cầu này cho thấy giảm
thể tích ổ nhồi máu khoảng 30-60%; tuy nhiên cũng
có những nghiên cứu có kết quả âm tính. Việc
ủng hộ hơn nữa về vai tṛ của bạch
cầu đối với tổn thương mô c̣n
thấy từ việc quan sát những con chuột
được lựa chọn kiểu
gen trong đó những gen P selectin, ICAM-1 và nicotinamide adenine
dinucleotide phosphate oxidase bị lấy bỏ, trong những
nghiên cứu này thể tích nhồi máu giảm khoảng
90%.
Cytokine. Mặc dầu nhiều pḥng thí nghiệm đă
quan sát thấy ức chế IL-1( và TNF-( trong những
dạng đột quị tiền lâm sàng làm giảm
thể tích ổ nhồi máu, có tranh luận xung quanh vai tṛ
của TNF-( trong thiếu máu năo. Nhiều tranh luận
phát sinh từ những quan sát thấy rằng những
động vật thiếu
thụ cảm thể TNF chịu đựng được
những ổ nhồi máu lớn hơn những động
vật này ở dạng hoang dại. Làm mất tác
dụng TNF-( trong suốt quá tŕnh phát triển của động
vật làm vấn đề trở nên phức tạp. Có
nhiều dạng chuyển gen cytokine khác cần được
làm sáng tỏ cẩn thận. Những động vật
chuyển gen có quá nhiều TNF-( trong tế bào sao nhưng
không có trong tế bào thần kinh th́ bị bệnh
thần kinh cùng với bằng chứng của viêm măn tính,
trong khi những động
vật có quá nhiều IL-6 trong tế bào sao th́ bị phá
vỡ hàng rào máu năo, tăng C3 bổ thể và bị
bệnh thoái hoá thần kinh tiến triển. Có quá
nhiều IL-6 trong tế bào thần kinh, dường như
liên quan với bệnh tế bào thần kinh đệm h́nh
sao và sự tăng số lượng vi tế bào đệm
có nhánh nhưng không có bằng chứng tổn thương
tế bào thần kinh.
Yếu tố ức chế 2 cyclooxydase. Khuynh hướng
lựa chọn các thuốc chống viêm có thể giới
hạn tổn thương. Các thuốc kháng viêm không
steroid ức chế hoạt động cyclooxydase. Ibuprofen làm
giảm nồng độ thromboxane A2 trong năo, cải
thiện tưới máu năo sau đột quị và làm
giảm tổn thương tế bào thần kinh. Lâm
sàng.
Ngược lại với thực nghiệm, kinh
nghiệm mới đây về sử dụng thuốc
chống viêm trong những thử nghiệm lâm sàng 3 pha
đă thất bại. Enlimomab, một kháng thể
đơn ḍng ở chuột kháng ICAM-1 người đă
làm tăng tỷ lệ chết trong thử nghiệm đột
quị cấp đa trung tâm. Một nghiên cứu mới
đây với đột quị cục bộ ở
chuột sử dụng kháng thể chuột khác hướng
tới việc kháng lại ICAM-1 chuột (kháng thể 1A2ø9)
đă sinh ra những kháng thể kháng chuột và hoạt
hoá bổ thể, bạch cầu hạt và nội mô, mà
chúng áp đảo một vài lợi ích tiềm tàng do
ức chế kết tập tiểu cầu và làm tăng
thể tích nhồi máu. Nghiên cứu này gợi ư rằng
các protein khác loại được tiêm vào mạch máu có
thể hoạt hoá các cơ chế gây viêm làm tăng
tổn thương thiếu máu năo. Một thử
nghiệm khác mới đây dùng kháng thể đơn ḍng
được nhân tính hóa với CD18 (kháng thể Hu23F2G
hoặc leukarrest) đă bị ngừng lại khi nó đă
được xác nhận là an toàn nhưng đă chỉ
ra không có ích lợi trong một phân tích không có hiệu
quả tạm thời. Những thất bại rơ ràng này
của điều trị chống kết dính trong đột
quị không phủ nhận khả năng là viêm có vai tṛ
trong tổn thương năo do thiếu máu. Dường như
những thất bại nàyï làm nổi bật những
phức tạp của hệ thống miễn dịch
và những vấn đề của việc thiết
kế thử nghiệm lâm sàng. KẾT
LUẬN.
Quá tŕnh viêm tiếp theo tổn thương thiếu
máu năo và góp phần vào quá tŕnh tổn thương.
Giả thuyết chung rằng quá tŕnh viêm được
khởi đầu bằng tổn thương thiếu máu
có thể gây hại và ngăn chặn quá tŕnh viêm này có
thể làm giảm tổn thương cuối cùng vẫn
chưa được kiểm chứng lâm sàng. Bởi v́
sự dư thừa và lẫn lộn trong hiệu quả
của các chất trung gian gây viêm đă được công
nhận, nên không chắc chắn có thể khám phá
được hiệu quả lâm sàng của một
chất ức chế đặc biệt đối với
một khâu nào đó. Có nhiều yếu tố vẫn chưa
được khám phá, v́ vậy các chất chống viêm
(đơn độc hặc kết hợp) có thể có
hiệu quả trên nhiều bệnh nhân, và v́ vậy
hiểu rằng sử dụng không đúng lúc, dùng kéo dài,
dạng không thích hợp của các chất chống viêm có
thể làm kết quả tồi tệ hơn. Dường
như có lư do vững chắc để tin rằng một
nghiên cứu đối với những chất hoạt hóa
ngược hoặc những chất trung gian gây viêm
hoặc đối với những biện pháp báo hiệu
trong tế bào mà có khả năng ức chế rơ ràng các
cơ chế gây viêm có thể mang lại những tiêu
đích mới để pḥng ngừa. Những thử
nghiệm lâm sàng thiết kế tốt đối với
khuynh hướng chống viêm trong đột quị
tiếp tục bị chỉ trích.
VIÊM
VÀ ĐỘT QUỊ.
Có
lợi không có hại?
Giora
Z. Feuerstein, MD; Xinkang Wang. PhD. Inflamation and stroke.
Arch Neuro/Vol 58, Apr2001, P 672-673. Người
dịch: BS Bạch thanh Thủy.
Vào thời điểm bắt đầu vào thế
kỷ 21, đột quị là nguyên nhân tử vong đứng
hàng thứ 3 ở các nước phát triển nhất và
là nguyên nhân hàng đầu của tử vong do tim mạch
ở Nhật Bản và Trung Quốc. Gánh nặng về y
tế của bệnh thật nặng nề như là
mất khả năng lao động, gây thiệt hại
nặng nề cho bệnh nhân, gia đ́nh và xă hội.
Bệnh này vẫn chứa có phương pháp điều
trị hiệu quả ngoài một nhóm giới hạn
bệnh nhân (5%) được điều trị tiêu
huyết khối có hiệu quả cải thiện rơ
rệt. T́nh trạng này là phổ biến mặc dù
những cố gắng nghiên cứu mănh liệt và
nhiều thử nghiệm lâm sàng
đă cố gắng khai thác các thuốc nhằm
giảm tỉ lệ tử vong và tỷ lệ tàn tật
do đột quị. Cho đến giờ sự khai thác
thuốc cố gắng nhằm vào các yếu tố điều
biến các kênh ion (Ca++ và Na+), quét dọn các gốc oxygen,
các tác nhân dẫn truyền kích thích thần kinh (các
thụ cảm thể glutamate và glycerine tiên phát). Dường
như các thử ngiệm lâm sàng về các yếu tố
điều biến các tiêu đích này cho đến nay
đă thất bại bởi v́ thiếu hiệu quả,
hiệu quả có hại hoặc những khó khăn phát
sinh khác. Cuộc tranh luận về lư do của thực
tế khốc liệt này nảy
sinh từ những cuộc thảo luận mới đây
với chỉ điểm (finger-pointing) về nguyên nhân chính
của thất bại gồm các dạng động
vật không chính xác, các cơ chế hoạt động
không biết rơ, thiết kế lâm sàng nghèo nàn, tính toán
thời gian điều trị không đầy đủ và
các yếu tố khác.
Trong khi các tranh luận này đang tiếp tục,
cộng đồng nghiên cứu đột quị dường
như trở nên tỉnh
táo hơn với những tiêu đích (taget) đặc thù
của thuốc (như
ở trên) khi được chứng minh bởi
niềm tin tưởng là các con đường khác
như là tái cấu trúc, apoptosis, và viêm là những lĩnh
vực chưa có kinh nghiệm để thành công trong tương
lai. Chúng tôi cảnh báo rằng các lỗi đă qua
rải rác đă bị lặp lại – những người
tham gia chủ đề kháng viêm đang trên đường
đi.
Viêm được định nghĩa như là
một phản ứng khu trú tại những khoang gian vi
mạch mà nó làm cho dịch và các tế bào được
vận chuyển cục bộ từ vùng trong mạch vào
trong mô để cách ly những tác nhân có hại và để
bảo vệ và sửa chữa mô. Hơn 10-20 năm qua, các
nhà nghiên cứu đột quị đă xem xét mô năo
tại các khoảng thời gian khác nhau sau đột
quị đă thấy sự có mặt không thể chối
căi của các tế bào viêm (như là bạch cầu trung
tính, bạch cầu đơn nhân) tại vị trí
tổn thương. Cùng với sự phát triển của
các kỹ thuật như hóa mô miễn dịch, sinh hóa,
các kỹ thuật phân tử cao đặc biệt,
sự có mặt của các chất trung gian gây viêm trong mô
năo quanh vùng thiếu máu cũng đă được
chứng minh. Tóm tắt , sự có mặt của các
chất trung gian gây viêm cytokine, interleukine, chemokine, các
bạch cầu, các phân tử dính nội mạc đă gây
ra việc nghiên cứu rộng răi chiến lược
nhằm bác bỏ tính chất khẩn cấp và (hoặc)
tác dụng của các chất trung gian này. Những nghiên
cứu về vấn đề này th́ đầy đủ
cùng với những thông báo về vai tṛ có hại
của các chất trung gian đó và tác dụng có lợi
của việc ngăn chặn những thành phần
của chúng như là làm
tan bạch cầu, chống kết dính phân tử (phân
tử kết dính trong tế bào 1 [ICAM-1], E-hoặc
P-selectins), kháng cytokine và kháng interleukine. Một phần
nhỏ của các thông báo bất đồng ư kiến
đă bị phớt lờ. Dường như đánh giá
số liệu về tác dụng có hại của viêm trong
đột quị cho thấy nhiều khả năng có
khiếm khuyết. Những nghiên cứu dược lư mà
trong đó các chất trung gian gây viêm được tiêm
nhanh chóng vào trong năo b́nh thường và năo thiếu máu có
tính nhân tạo cao bởi v́ liều quá cao kết hợp
với việc không tương liên với các thông số
về không gian, thời gian hoặc ngữ cảnh của
t́nh trạng bệnh lư.
Các dạng động vật chuyển gen trong đó
loại bỏ riêng biệt các gen thụ cảm thể
cytokine hoặc cytokine (the bad guys) bị làm thiếu máu năo
đă cho thấy tổn thương lan rộng hơn và
hồi phục lâu ít triển vọng hơn những con
chuột hoang dă-một kết quả đối ngược
với hiệu quả bảo vệ được mong
đợi. Đáng chú ư nhất là yếu tố hoại
tử u ( chuột, trong những con chuột bị loại
bỏ cytokine hoặc thụ cảm thể cytokine dẫn
đến tăng rơ rệt số lượng mô hoại
tử và hồi phục chức năng kém. Điều tương
tự cũng đúng đối với interleukinê của
chuột (IL-6).
Cytokine có vai tṛ đối với chức năng thay
thế viêm, hăy c̣n một vài cytokine như là IL-10 đă
cho thấy có tác dụng bảo vệ thần kinh trong các
dạng tổn thương năo trong đó có đột
quị. Trên thực tế, cả hai cytokine (yếu tố
hoại tử mô ( và IL-1() phần lớn thường
được trích dẫn như là có hại trong
phạm vi đột quị th́ đă cho thấy khả năng
bảo vệ thần kinh, trên thực tế, cảûi
thiện mô năo đến t́nh trạng chịu đựng
chấn thương thiếu máu khi được tiêm vào
trước khi khởi phát tổn thương thiếu máu.
Đại thực bào hoạt hóa khi có mặt trong năo
được xem như “tên hung ác” (willian), khả năng
xúc tiến tăng trưởng và bảo vệ thần
kinh của các yếu tố giải phóng từ đại
thực bào hoạt hoá đă được quan sát
kỹ. Khả năng này được chứng minh
bằng những sự hồi phục đáng chú ư gây ra
do đưa những đại thực bào được
hoạt hóa tương đồng vào tủy sống
bị tổn thương ở chuột. Hơn nữa, tác
dụng có lợi cuả các tế bào viêm và tế bào
miễn dịch trong tổn thương hệ thống
thần kinh trung ương cũng đă được
chỉ ra trong những nghiên cứu mà trong đó việc
bảo vệ thần kinh (bởi các no-ron ở vơng
mạc) đă được thực hiện bởi các
tế bào T hoạt hoá protein bản chất myelin.
Từ những triển vọng lâm sàng, các
glucocorticoid, thuốc kháng viêm hoạt động nhanh
nhất và có hiệu
lực nhất đă biết được đánh giá
tốt th́ không có tác dụng điều trị trong
những bệnh nhân đột quị. Cũng như
thế, không có thuốc kháng viêm non-steroids thông thường
nào (NSAIDs: aspirin, indomethacin, ibuprofen...) có lợi ích đă
được chứng minh trong điều trị cấp
tính đột quị.
Những thử nghiệm lâm sàng mới đây ở
những bệnh nhân đột quị cấp sử
dụng kháng thể kháng ICAM-1 đă hoàn thành với
kết luận là không có hiệu quả. Trên thực
tế, một xu hướng có hại đă được
ghi nhận. Trong khi nguyên nhân của điều này chưa
rơ ràng, thất bại của những thử nghiệm
về ICAM-1 trong đột quị th́ phù hợp với
việc không có hiệu quả của các thuốc kháng viêm
chính (các steroid) hoặc các thuốc đặc hiệu hơn
(như các NSAID) trong điều trị đột quị.
Tóm lại, mục tiêu của bức thư ngắn này
là kêu gọi các phân tích về vai tṛ của viêm trong
tổn thương năo do thiếu máu cần cẩn
thận hơn nữa. Vai tṛ có lợi của các tế bào
viêm và các chất trung gian gây viêm trong sửa chữa mô,
một cơ chế tiến triển cơ bản để
sống sót được biết rơ là điều
cốt yếu. Có khả năng là một số các
chất trung gian gây viêm có nguồn gốc từ tế bào
có thể chống lại (critical) việc sửa chữa
phù hợp và hồi phục mạng lưới tế bào
thần kinh và làm tăng tính mềm dẻo và tái tạo
của mạng nối tiếp cần thiết
đối với các chương tŕnh luyện
tập chức năng mà mô năo bị tổn thương
đă chi phối.
KHẢ
NĂNG CÓ LỢI HOẶC CÓ HẠI CỦA QUÁ TR̀NH VIÊM
TRONG ĐỘT QUỊ.
John
N. Whitaker, MD Birmingham, Ala. The potential for Harm or Benefit from
inflamatory processes in stroke. Arch Neuro/Vol 58, Apr2001, P 674. Người
dịch: BS Bạch thanh Thủy.
V́ tác hại nổi bật của đột quị
là nguyên nhân gây tử vong và tàn phế ở khắp nơi
trên thế giới, nhiều cố gắng đă làm để
pḥng ngừa, giới hạn và phục hồi tổn thương
do đột quị gây ra. Trong đột quị do
thiếu máu, sự cố gắng đă tập trung vào các
yếu tố nguy cơ đă biết và sử dụng các
phương pháp điều trị phẫu thuật
hoặc nội khoa để duy tŕ hoặc tái thiết
lập t́nh trạng mở của mạch máu, làm chậm
tổn thương mô và làm tăng tiến hồi
phục chức năng. Trong hai bài này, sự ảnh hưởng
của các chất trung gian gây viêm trong đột quị
đă được nêu nên. Cả hai nhấán mạnh
sự cần thiết phải tập trung vào vai tṛ
phụ của quá tŕnh viêm trong một rối loạn thường
được bắt đầu bằng các cơ chế
không phải viêm.
Sự xem xét tương tự đă trở nên
nổi bật trong các bệnh lư thần kinh khác như là
bệnh Alzheimer. Mặc dù sự chú ư tới viêm (share),
rất nhiều quan điểm khác nhau được
đề xuất nhằm xem xét và sửa đổi
trực tiếp ra sao quá tŕnh viêm được khởi
động bởi thiếu máu năo. Zoppo và cộng sự có
cách nh́nh kinh điển hơn bằng cách mô tả khoa
học và chi tiết vai tṛ của phân tử kết dính,
cytokine và các yếu tố khác, đơn độc
hoặc kết hợp. Trái lại, Feuerstein và Wang kiểm
tra cẩn thận vấn đề, kết luận
rằng của các chất trung gian gây viêm thực sự là
có lợi đối với quá tŕnh hồi phục
tổn thương do thiếu máu. Nếu không điều
trị, vai tṛ có lợi của hệ thống miễn
dịch đă được chứng minh đối
với các dạng tổn thương khác của mô. Thí
dụ, các tế bào lympho nhạy cảm với protein có
bản chất myelin có
khả năng thúc đẩy quá tŕnh hồi phục sau
tổn thương dây thần kinh thị do đè ép và
đụng giập tủy sống. Thật khó dung giải trọn vẹn các ư kiến xung đột giữa hai tác giả v́i nhiều vấn đề vẫn c̣n đang được thử nghiệm. Nhiều hỗn dược, các nồng độ và sư phối hợp của các thành phần gây viêm bản chất tế bào hoặïc dịch thể sẵn sàng giúp một chiến thuật điều trị triển vọng đối với đột quị. Trong khi thử nghiệm lâm sàng về kháng thể đơn ḍng kháng ICAM-1 ở người bị thất bại và sự thất bại trong chuyển gen đối với yếu tố hoại tử u ( cytokine thay thế viêm đă có kết quả tồi tệ hơn nhiều sau đột quị thực nghiệm, có khả năng là các chất trung gian thay thế viêm có vai tṛ ở một giai đoạn nhất định của đột quị. Như vậy thời điểm cũng như cytokine đặc hiệu hoặc yếu tố đă xác định là một biến số quan trọng để xác định xem phản ứng viêm có giúp đỡ hoặc làm hại đối với hậu quả sau đột quị không. Đột quị là bệnh lư có biến chứng, và hệ thống miễn dịch cùng với các bước điều ḥa và bù đắp của nó ít nhất là sự thách thức đối với sự hiểu biết và thành công sau này.
|
|
|