
T̀NH
TRẠNG NẶNG LÊN CỦA BỆNH VIÊM ĐỘNG
MẠCH TẾ BÀO KHỔNG LỒ KHI ĐIỀU TRỊ
BẰNG CORTICOID
Hugh Staunton, Frances Stafford, Mary Leader, Doon O’Riordain:
Deterioration of Giant Cell Arteritis With Corticosteroid Therapy.
Archives of Neurology, Vol 57, April 2000, p. 581-583.
Người
dịch: BS. Tạ Vương Khoa.
Tổng
quan:
Thất
bại trong đáp ứng với trị liệu
corticosteroid ở bệnh nhân bị viêm động
mạch tế bào khổng lồ (GCA: Giant Cell Arteritis), lúc
nào cũng vậy, cứ bị quy kết là do sự
chậm trễ trong chẩn đoán hoặc là do sử
dụng corticosteroid với liều lượng không thích
hợp. Dưới đây là quan sát của chúng tôi
về trường hợp một bệnh nhân bị viêm
động mạch tế bào khổng lồ, sau khi
được chỉ định điều trị
bằng Prednisolone th́ t́nh trạng bệnh của ông ta
cứ nặng dần lên. Chúng tôi đă xem xét đến
khả năng diễn tiến xấu dần của
bệnh trong trường hợp này có thể có nguyên nhân
do corticosteroid hơn là khả năng việc bệnh
trở nặng ngay đúng vào thời điểm
được chỉ định điều trị
corticosteroid chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên.
Mục
tiêu:
Nhằm
xác định xem có phải việc trị liệu
corticosteroid có thể làm trầm trọng thêm GCA hay không.
Cách
tŕnh bày:
Báo
cáo lại một trường hợp ghi nhận được
và phân tích các trường hợp tương tự đă
được báo cáo trong y văn.
Nguồn
dữ liệu:
Hồi
cứu, kể cả phân tích lại, các báo cáo về
kết quả tử thiết có đi kèm các chi tiết lâm
sàng, các báo cáo lâm sàng mô tả các biến chứng nghiêm
trọng về thị giác và năo. Những biến
chứng có ư nghĩa đă xuất hiện một
thời gian ngắn sau khi có chỉ định điều
trị bằng corticosteroid trong nhiều trường
hợp. Ở nhiều trong số các trường hợp này,
triệu chứng của GCA đă hiện diện trong
một khoảng thời gian đáng kể trước khi
trị liệu corticosteroid bắt đầu.
Nội
dung:
Viêm
động mạch tế bào khổng lồ là bệnh lư
hiếm khi gây tử vong. Tuy nhiên, theo chúng tôi th́ có
thể chúng ta đă không có sự hiểu biết hoàn toàn
chắc chắn về vấn đề tử vong do GCA gây
ra, chẳng hạn chúng ta đă không thường xuyên có
được những thông tin về mô học khi tử
thiết động mạch vành để có thể làm sáng
tỏ nguyên nhân gây tử vong ngoài bệnh viện ở
những bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim (biết đâu nguyên nhân gây nhồi máu cơ tim
ở những bệnh nhân này là viêm động mạch
tế bào khổng lồ biểu hiện ở động
mạch vành?). Trong một báo cáo về 9 trường
hợp tử vong do GCA th́ có 2 trường hợp do
nhồi máu cơ tim, 2 trường hợp do ph́nh bóc tách
động mạch chủ và 5 trường hợp do đột
quỵ. Các báo cáo về biến chứng thần kinh do GCA
gây ra mỗi nơi mỗi khác, có lẽ do sự hiểu
biết chưa chắc chắn về bệnh hoặc do
sự chọn lọc trong mỗi báo cáo. Hầu hết các
tác giả đều đồng ư rằng biến
chứng về thị giác là biến chứng thần kinh
thường gặp nhất. Nhồi máu vơng mạc thông
thường được phát hiện bởi các bác sĩ
nhăn khoa như là nguyên nhân của chứng mù không
phải do tổn thương mắt (amaurosis), và đôi
khi một nhồi máu ở ṿng tuần hoàn hố sau
(kết hợp thêm vào, ngoài nhồi máu vơng mạc) đă không
được để ư tới. Có 1 báo cáo gợi ư
rằng trong nhồi máu năo do GCA, khu vực được
cung cấp máu bởi động mạch cảnh là vị
trí thường dễ bị tổn thương hơn so
với các khu vực khác. Tuy nhiên, bằng chứng về
bệnh học có được từ những bệnh nhân
tử vong do GCA lại gợi ư rằng vị trí dễ
bị tổn thương hơn cả là khu vực
được cung cấp máu bởi ṿng tuần hoàn
hố sau, và đă có nhiều báo cáo lâm sàng về đột
quỵ xảy ra ở hệ động mạch sống
nền. Nh́n chung, dù biết rằng các mạch máu nội
sọ có cơ chế bảo vệ nhằm thoát khỏi
sự hoành hành của bệnh nhưng điều này cũng
chỉ là tương đối, trong những trường
hợp có biến chứng mạch máu nội sọ
dẫn đến tử vong th́ mối liên quan GCA-mạch
máu nội sọ đă xảy ra. Nhiều trường
hợp đột quỵ như vậy dường như
đă xuất hiện một thời gian ngắn sau khi có
chẩn đoán GCA. Có ư kiến cho rằng sự khởi
đầu (cũng như sự ngưng đột
ngột) trị liệu corticosteroid có thể gây nên
hiệu ứng có hại lúc đầu cho t́nh trạng
bệnh tật của bệnh nhân mà điều này có
vẻ như đă không được chúng ta lưu tâm
đến. Trong bài viết này, chúng tôi mô tả một
bệnh nhân bị nhồi máu đa ổ, có thể nói là
nhồi máu toàn bộ khu vực được cung cấp
máu bởi ṿng tuần hoàn hố sau, t́nh trạng của
ông ta xấu dần đi trong ṿng 5 ngày kể từ
thời điểm bắt đầu trị liệu
corticosteroid và kết thúc điểm là phải cấp
cứu nội khoa. Trường hợp này đă làm sáng
tỏ nhiều vấn đề trong công tác quản lư
bệnh nhân bị GCA có biến chứng hoặc có
khả năng mắc phải biến chứng trên hệ
thần kinh trung ương. Ngoài ra, chúng tôi cũng tŕnh bày
lại những mô tả tương tự trong y văn
về các biểu hiện lâm sàng nặng thêm lên sau khi
khởi đầu trị liệu corticosteroid.
Báo
cáo một trường hợp: Bệnh nhân nam, 64
tuổi có bệnh sử biểu
hiện triệu chứng của
glaucoma kéo dài trong 3 tháng trước đó, gồm đau
đầu, đổ nhiều mồ hôi đêm, người
có cảm giác khó chịu và mệt mỏi toàn thân, chán
ăn, sụt 6.3 kg. Thời gian gần đây ông ta than
phiền về các triệu chứng khập khễnh hàm
(jaw claudication), nuốt khó, khàn tiếng, rối loạn
thị giác khi nh́n sang bên phải. Thân nhiệt của ông
ta là 36.8-37.8(C; mạch 90-110 lần/phút; huyết áp 150/90
mmHg. Khám lâm sàng ghi nhận động mạch thái dương
2 bên nổi rơ và không đập, nhăn cầu di chuyển
đột ngột bất thường sang bên phải,
sụp mi, thị trường b́nh thường khi thăm
khám, soi đáy mắt b́nh thường. Các kết quả
xét nghiệm như sau: vận tốc lắng máu 88 mm/h;
Hemoglobin 115 g/L; bạch cầu 10.0 x 109/L; Hematocrit 0.35;
tiểu cầu 586 x 109/L. H́nh CT scanner năo có tiêm thuốc
cản quang th́ b́nh thường. Prednisolone (60 mg/ngày)
được khởi đầu điều trị (ngày
1), ngày hôm sau tiến hành sinh thiết động mạch
thái dương. Kết quả mô học qua sinh thiết
cho thấy h́nh ảnh của một t́nh trạng viêm
mạch máu nghiêm trọng đặc trưng bởi sự
phá vỡ lớp đàn hồi ở thành mạch máu, viêm
xuyên thành, có sự tạo lập một ít u hạt, các
tế bào khổng lồ, fibrin, bạch cầu ái toan.
Ở ngày thứ 2, ông ta xuất hiện chứng nh́n
đôi, ra nhiều mồ hôi và than mệt mỏi toàn thân.
Vào ngày thứ 3, ông ta trở nên kích động. Vào ngày
thứ 4, ông ta ở trạng thái ngủ gà và không
thể tự đứng được, vận động
ở nửa người bên phải chậm hơn b́nh thường,
khập khễnh hàm và giảm tính nhạy cảm da đầu.
Lúc này, số lượng tiểu cầu là 601 x 109/L,
hematocrit là 0.38. Đến ngày thứ 5, ông ta trở nên lú
lẫn và tổng trạng chung xấu đi. MRI năo làm
ở thời điểm này cho h́nh ảnh một số
sang thương tiểu năo mới xuất hiện gần
đây và 1 sang thương vùng chẩm trước-đỉnh
sau bên trái. Sự giảm tín hiệu T1 trên MRI gợi ư
sang thương vùng chẩm trước-đỉnh sau nói
trên là một sang thương cũ hơn so với sang thương
tiểu năo. Siêu âm Doppler cho thấy toàn bộ các mạch
máu vùng cổ là thông suốt, không có chít hẹp. Tuy nhiên,
h́nh dạng của sóng
Doppler biểu thị có một kháng lực cao trên ḍng
chảy của máu ở cả 2 động mạch đốt
sống (MRA thực hiện sau đó 1 tuần cho thấy
không có sự tắc nghẽn mạch máu vùng cổ đáng
quan tâm). Ở ngày thứ 5, do bệnh cảnh lâm sàng
vẫn tiếp tục tồi tệ nên một liều 20
mg Dexamethasone sodium phosphate tiêm mạch đă được
sử dụng ngay lập tức, những ngày sau bệnh
nhân được điều trị ở liều 4 mg x 4
lần/ngày. Bởi v́ ông ta có một cơn mất
thị lực hoàn toàn xảy ra lúc đang ngồi nên
Heparin truyền tĩnh mạch trong ṿng vài giờ đă
được sử dụng. Đến ngày hôm sau, t́nh
trạng của ông ta nh́n chung đă có cải thiện
(tiểu cầu 481 x 109/L, hematocrit 0.37) và cứ tiếp
tục cải thiện dần dần trong những ngày sau
đó. Vào ngày thứ 11, Heparin được thay thế
bằng Warfarin sodium. Sau 28 ngày, bệnh nhân được
xuất viện, lúc này ông ta đă hoàn toàn tỉnh táo,
tự đi lại được, hoạt động
của mắt b́nh thường; dù vậy, một số
động tác không vững vàng và một vài khó khăn
khi thực hiện chức năng của bàn tay phải
vẫn c̣n sót lại ở thời điểm này nhưng
về sau cũng đă được cải thiện,
tốc độ lắng máu trở về b́nh thường.
Ông ta không hề nhớ ǵ về giai đoạn bệnh
cấp tính đă mô tả ở trên và sau này không có tái
phát lại nữa. Đánh giá tâm thần kinh về sau cho
thấy ông ta có vài khiếm khuyết về nhận
thức và trí nhớ. Kiểm tra bằng “Thang điểm
đánh giá trí thông minh người lớn của Wechsler,
đă hiệu đính” (Wechsler Adult Intelligence Scale-Revised)
cho thấy chỉ số IQ lời nói (verbal IQ) là 124, chỉ số IQ thực
hiện (perfomance IQ) là 78. Giảm điểm số IQ
thực hiện được phát hiện nhờ
“Test kiểm tra trí nhớ logic” (Logical Memory Test) và “Test
kiểm tra khả năng lặp lại những ǵ đă
nh́n thấy” (Visual Reproduction Test) trong “Thang điểm
đánh giá trí nhớ của Wechsler, đă hiệu đính”
(Wechsler Memory Scale-Revised); IQ thực hiện cũng giảm
khi kiểm tra bằng “Test kiểm tra khả năng
hiểu lời khi nghe của Rey” (Rey Auditory Verbal Learning
Test) và “Test kiểm tra khả năng phân tích h́nh ảnh
phức tạp của Rey” (Rey Complex Figure Test).
Các
xét nghiệm cận lâm sàng bổ sung và có liên quan khác
thực hiện trong suốt giai đoạn bệnh
diễn biến cấp tính đều cho kết quả âm
tính bao gồm: screen test t́m tự kháng thể, kháng
thể cardiolipin, HbsAg, xét nghiệm t́m chất hấp
thụ miễn dịch gắn kết với enzyme để
t́m virus viêm gan C, xét nghiệm t́m kháng thể trong bào tương
bạch cầu đa nhân trung tính, ECG.
Bàn
luận:
Bệnh
nhân mô tả trong bài viết này được lựa
chọn một cách chọn lọc qua quá tŕnh điều
tra biết được ông ta đă có triệu chứng
bệnh tiến triển một cách từ từ đă
được 3 tháng nay. Sau khi được chẩn
đoán là GCA và điều trị bằng Prednisolone 60
mg/ngày, một hội chứng thân năo tiến triển
nhanh đă xuất hiện. Trên cơ sở một
đáp ứng toàn thân nhanh một cách chuẩn mực
đối với trị liệu corticosteroid ở bệnh
nhân này th́ t́nh trạng nặng lên một cách đều
đều của bệnh trong 5 ngày sau khi khởi đầu
điều trị corticosteroid khiến nẩy sinh ra câu
hỏi: phải chăng việc trị liệu corticosteroid
có thể đă làm phức tạp thêm vấn đề
trong giai đoạn khởi đầu điều trị,
khác với khả năng rằng việc khởi đầu
trị liệu corticosteroid chỉ là một sự kiện
t́nh cờ xen đúng ngay vào thời điểm bệnh
diễn tiến nặng lên mà thôi ? Dù cho việc đồng
ư với giả thiết này có thể là điều
mới lạ, nhưng Conn và CS đă từng cho rằng
điều trị viêm mạch máu hệ thống bằng
corticosteroid có thể được xem như là một
“con dao 2 lưỡi” (double-edged sword). Họ đă
gợi ư rằng diễn tiến tắc nghẽn các
mạch máu có thể xảy ra sau khi kiểm soát quá tŕnh
viêm mạch máu. Các mạch vành và mạch máu năo vốn
đă nguy kịch do bị ảnh hưởng bởi
tiến tŕnh bệnh học nếu lại có thêm sự
tắc nghẽn như vậy th́ rơ ràng yếu tố
bảo vệ giúp tránh khỏi bệnh đă giảm đi.
Mặc
dù đă có quan sát được báo cáo như trường
hợp bệnh nhân nói trên, nhưng khả năng sẽ có
thể có ư kiến thiên về giả thiết những
biến chứng cục bộ ở thân năo xuất
hiện ngay vào thời điểm khởi đầu
trị liệu corticosteroid chỉ là do sự trùng hợp t́nh
cờ mà thôi, nếu như báo cáo của chúng tôi chỉ
dựa trên 1 trường hợp đơn lẻ mà không
được ủng hộ bởi các báo cáo khác
được viết trong y văn. Tuy nhiên, khi hồi
cứu y văn, chúng tôi cũng đă bắt gặp
những báo cáo khác. Trong những báo cáo dựa trên
tử thiết, tử vong thường là do biến
chứng nghiêm trọng tại vị trí mạch máu bị
viêm, có sự tắc nghẽn đáng kể ở các
mạch máu năo (động mạch đốt sống
bị nhiều hơn động mạch cảnh) và
mạch vành, bóc tách động mạch chủ. Ở
những bệnh án hồi cứu này, một số có ghi
chép lại những chi tiết lâm sàng giúp ích được
cho vấn đề hiện đang bàn luận, chúng tôi
nhận thấy một con số có ư nghĩa những
biến chứng xuất hiện trong ṿng một thời
gian tương đối ngắn kể từ khi có
chỉ định điều trị corticosteroid. Những
biến chứng này hoặc là mới xuất hiện mà
không hề có mối liên quan rơ ràng nào với triệu
chứng lâm sàng đang có ở thời điểm
chỉ định điều trị corticosteroid, hoặc là
biểu hiện phức tạp thêm lên của một
triệu chứng lâm sàng vốn đang tồn tại trước
đó. Wilkinson và Russell có báo cáo 4 kết quả tử
thiết, trong đó có 3 trường hợp tử vong
xảy ra sau khi t́nh trạng của bệnh nhân trở
nặng trong ṿng vài ngày kể từ khi có chỉ định
điều trị corticosteroid. Save-Soderbergh và CS có báo cáo
kết quả tử thiết ở 9 bệnh nhân, trong
đó có 1 bệnh nhân GCA điển h́nh đă bị
tắc nghẽn mạch vành 4 ngày sau khi khởi đầu
trị liệu bằng corticosteroid và tử vong 1 tuần
sau đó; 1 bệnh nhân đau đa cơ điển h́nh
đă bị đột quỵ 12 ngày sau khi khởi đầu
trị liệu bằng corticosteroid và tử vong 2 tuần
sau đó. Ở tất cả các bệnh nhân vừa nêu
đều có sự hiện diện của t́nh trạng viêm
mạch máu hoạt động (thường có phối
hợp với tắc nghẽn) tại các mạch máu có liên
quan.
Có
nhiều báo cáo lâm sàng tương tự: Buttner và CS có mô
tả 4 bệnh nhân bị biến chứng ở năo, trong
đó có 2 trường hợp biến chứng xuất
hiện vài ngày sau khi có chỉ định trị liệu
bằng corticosteroid. Ở 2 bệnh nhân này, 1 người có
các triệu chứng báo trước, gồm cả chóng
mặt, có thể chỉ điểm cho một bệnh lư
mạch máu năo; trong khi ở người kia các triệu
chứng báo trước chỉ đơn thuần là đau
đầu, đau hàm dưới, tốc độ
lắng máu 90 mm/h, sinh thiết cho thấy có sự hiện
diện của GCA. Kiểm tra chi tiết 8 trường
hợp do Gonzalez-Gay và CS báo cáo cho thấy có một
mối quan hệ đáng chú ư theo thời gian giữa
việc khởi đầu trị liệu bằng
corticosteroid với các biến cố cục bộ ở
mạch máu năo. Cũng có nhiều báo cáo về t́nh
trạng nặng lên của bệnh phía bên mắt vốn
đang bị GCA hoặc sự xuất hiện các
triệu chứng mới của GCA phía bên mắt không
bị bệnh trước đó sau khi chỉ định
điều trị bằng corticosteroid. Ở nhiều trong
số các trường hợp được trích dẫn
nêu trên, các triệu chứng bệnh đă hiện
diện được nhiều tuần đến
nhiều tháng trước khi khởi đầu điều
trị corticosteroid, và các triệu chứng lâm sàng nặng
lên ngay chỉ một thời gian ngắn sau khi corticosteroid
được sử dụng.
Trong
những báo cáo vừa nêu, các biến chứng, lúc nào cũng
vậy, cứ bị quy kết là do sự chậm trễ
trong chẩn đoán hoặc là do sử dụng liều
corticosteroid không thích hợp. Trong nhiều trường
hợp, chúng ta đă không thể có được căn
cứ vững chắc để có thể bắt bẻ
kiểu lập luận như vậy, và chúng tôi thừa
nhận rằng corticosteroid vẫn là phương pháp
chuẩn mực trong điều trị GCA. Tuy nhiên, trên
quan điểm ghi nhận ở nhiều trường
hợp có một mối quan hệ gần gũi giữa
việc khởi đầu trị liệu corticosteroid
với t́nh trạng nặng dần lên của bệnh hay
sự phát triển
của một biến chứng mới, chúng tôi đề
nghị cần phải ghi nhớ một điều
rằng, trong một số trường hợp, biến
chứng có thể xuất hiện sau chỉ định
điều trị corticosteroid.
Điểm
đáng chú ư cuối cùng ở trường hợp
được báo cáo trong bài viết này, đó là số
lượng tiểu cầu tăng cao. Hiện tượng
này đă được biết tới từ lâu. Mặc
dầu tăng tiểu cầu phản ứng với
mức độ như thế này thông thường không
thể bị xem là yếu tố làm xuất hiện (to
give rise) biến chứng, nhưng nó có thể là một
yếu tố gây biến chứng trong t́nh huống có
đi kèm với hiện tượng viêm các mạch máu nuôi
dưỡng những khu vực đang nguy kịch, điều
này gợi ư rằng các yếu tố tăng trưởng
xuất phát từ tiểu cầu có vai tṛ trong sự
tắc nghẽn động mạch ở bệnh nhân GCA. V́
vậy, chất kháng đông hoạt hóa hoặc chất
ức chế ngưng tập tiểu cầu nên được
xem xét sử dụng khi có nguy cơ xuất hiện
biến chứng đột quỵ tiến triển.
Kết
luận:
Đột
quỵ do tắc nghẽn tiến triển dần dần có
thể xuất hiện sau trị liệu bằng
corticosteroid ở bệnh nhân GCA. Trong biến chứng
mạch máu năo, sự tắc nghẽn mạch máu xảy
ra ngay tại mạch máu bị viêm, thường là ở
hệ động mạch sống nền. Không thể
khẳng định chắc chắn rằng t́nh trạng
nặng lên của bệnh sau điều trị
corticosteroid luôn luôn là do sự trùng hợp ngẫu nhiên, và
phải luôn ghi nhớ một khả năng có thể xen vào,
đó là mối liên hệ chức năng giữa việc
khởi đầu trị liệu corticosteroid với t́nh
trạng nặng dần của GCA.
Quay
lại đầu trang
