|
|
Vỏ não
Các
vùng cảm giác và vận động nguyên phát:
(Xem
hình 14: vùng thị giác, thính giác, cảm giác, và vận
động nguyên phát)
1.
Vỏ não thị giác (vỏ não rãnh cựa, thùy
chẩm, vùng 17). Hãy dành thời gian để ôn lại
đường thị giác: võng mạc - thần kinh
thị - giao thị - bó thị - thể gối ngoài - tia
thị - vỏ não thị giác. Chú ý rằng, sang thương
1 bên trước giao thị chỉ gây khiếm khuyết
thị trường ở 1 mắt, trong khi sang thương
từ giao thị về sau, khiếm khuyết giới
hạn ở 1 vùng thị trường (nhưng thường
ở 2 mắt) (Hình 11) 2.
Vỏ não thính giác (hồi Heschl, thùy thái dương,
bên trong khe Sylvian) 3.
Vỏ não cảm giác bản thể (hồi sau trung tâm,
vùng 3, 1 và 2) 4.
Vỏ não vận động (hồi trước trung
tâm, vùng 4) Vỏ não kết hợp
1.
Vỏ não kết hợp đơn vùng (unimodal) :
mỗi vùng vỏ não cảm giác nguyên phát được
tiếp cận bởi 1 vùng vỏ não kết hợp
đơn (tức là chỉ liên kết trực tiếp
với 1 vùng vỏ não kết hợp) 2.
Vỏ não kết hợp đa vùng (polymodal và
supramodal) được liên kết với các vùng vỏ não
kết hợp đơn vùng cũng như các vùng vỏ não
kết hợp cao cấp hơn khác. Các
cấu trúc này được nghĩ là để các
chức năng chuyên biệt được phục vụ
phân tích ở các vùng khác nhau, và các vùng này có sự liên
hệ với nhau. Ví dụ các chức năng chuyên
biệt như: ngôn ngữ, thị giác không gian... Bán
cầu trội (Cerebral dominance)
Hai
bán cầu đại não không tương đương
nhau về mặt chức năng. Các sự không cân
xứng về mặt chức năng đã được
ghi nhận như sau: Ngôn
ngữ Ở
trên 95% người thuận tay phải, bán cầu trái là
vùng ưu thế về mặt ngôn ngữ. Ở người
thuận tay trái, bán cầu ưu thế hoặc cũng là
bán cầu trái hoặc có khả năng ngôn ngữ cả
2 bên; thỉnh thoảng mới có bán cầu phải ưu
thế. Tay
thuận / Thực dụng Tay thuận
phản ánh sự không cân xứng về mặt chức năng
của hai bán cầu đối với khả năng làm các
động tác tinh vi. Mất thực dụng là do tổn
thương bán cầu đối bên tay thuận. Sự
chú ý tập trung (Attention) Sự
thờ ơ nữa thân nặng được thấy
nhiều ở tổn thương bán cầu bên phải hơn
bên trái. Điều này phản ánh sự mất cân
xứng 2 bán cầu về cơ chế tập trung chú ý. Khả
năng thị giác không gian (Visuaspatial abilities) Các
kỹ năng thị giác không gian được phát
triển cao hơn ở bán cầu phải. Cảm
xúc Aûnh
hưởng cảm xúc trong tổn thương bán cầu
trái khác với trong tổn thương bán cầu
phải. Các sang thương thùy trán trái thường
đi kèm với trầm cảm nhiều hơn, trong khi
tổn thương bán cầu phải thường gây
sự vô cảm. Vỏ não viền (Limbic cortex):
cảm xúc và trí nhớ
Giải phẫu (Hình 15)
Limbus
có nghĩa là viền. Các cấu trúc của vỏ não
viền tạo thành một vòng bao quanh thân não và gian não.
Các cấu trúc hệ viền bao gồm (đi theo 1 vòng) :
Amygdale, hải mã và hồi cạnh hải mã, vỏ não vùng
đai (cingulate cortex), vỏ não thùy trán phần ổ
mắt và vỏ não thùy đảo. Vùng viền xu hướng
có một cấu trúc nguyên thủy hơn là tân sinh, và
được liên kết chặt chẽ với phần
nền não trước (basal forebrain) và hạ đồi. Chức năng
Cảm
xúc Thái
độ cảm xúc lệ thuộc vào các thay đổi
nội tiết, thần kinh thực vật và vận động,
được điều hòa bởi hạ đồi.
Bởi vì vỏ não viền não trước nằm chen
giữa tân vỏ não và hạ đồi, nên về
mặt lý luận nó được giả định
rằng nó là trung gian ảnh hưởng của
vỏ não lên vùng hạ đồi. Các dữ liệu lâm
sàng và thực nghiệm đã xác nhận điều này:
ở động vật, các sang thương vùng ổ
mắt của vỏ não thùy trán và vỏ não cực thái
dương, và sang thương của amygdala đi kèm
với các thay đổi trạng thái độ cảm xúc.
Ở người động kinh xuất phát từ các
cấu trúc thái dương trong (đặc biệt là
amygdala) có thể biểu hiện bằng cảm giác
cảm xúc như cảm giác sợ. Trí
nhớ Các
sang thương ảnh hưởng hồi hải mã và các
liên kết của nó không làm ảnh hưởng đến
cảm xúc, nhưng thay vào đó có thể làm ảnh hưởng
sâu sắc đến trí nhớ. Các sang thương đúng
vào các cấu trúc sau có thể gây ra các rối loạn trí
nhớ sâu sắc. Ñ
Hồi hải mã và vỏ não thái dương lân
cận. Ñ
Đồi thị trong (đồi thị trước,
bó thể vú - đồi thị, đồi thị lưng
trong) Ñ
Nền não trước, có lẽ đặc
biệt là các neuron sinh cholinergic của nhân vách, phóng
chiếu về hồi hải mã. Các cấu trúc khác
của vùng phức tạp này cũng có thể góp
phần tạo trí nhớ. Một số hội chứng lâm sàng
Mất
ngôn ngữ (Aphasia) (Hình 16)
Mất
ngôn ngữ phần lớn thường đi kèm với
tổn thương vỏ não bán cầu trái. Các yếu
tố sau có ích cho việc phân biệt: (xem bảng )
Mất
ngôn ngữ “quanh sylvian” (The peri-sylvian aphasias) Các
cấu trúc bao quanh khe sylvian điều hòa sự lập
lại ngôn ngữ được nghe bằng tai. Các tín
hiệu thính giác được xử lý bởi hồi
Heschl (vỏ não thính giác nguyên phát), và sự phân tích âm
thanh có lẽ xảy ra ở vùng vỏ não thính giác
kết hợp kế cận (vùng Wernicke). Lời nói
được mã hóa ở nhiều vùng phía trước
(trong đó có vùng Broca, nằm trước vỏ não
vận động), và các vùng này điều khiển
trực tiếp vỏ não vận động kế cận
để tạo ra sự vận động nhằm phát
âm phù hợp. Tổn thương các vùng này sẽ làm suy
giảm khả năng lập lại lời nói, một nét
đặc trưng của mất ngôn ngữ quanh khe sylvian.
Để thông hiểu ngôn ngữ , các thông tin đã
được phân tích về ngữ âm phải kết
nối với các vùng bên ngoài vùng “quanh sylvian” (trong
số đó có hồi góc). Mất ngôn ngữ Broca
(Broca’s aphasia) Đặc
trưng bởi lời nói không trôi chảy, lập lại
kém và sự thông hiểu còn tương đối nguyên
vẹn. Các sang thương gây nên nằm ở vùng Broca và
vỏ não lân cận. Mất ngôn ngữ Wernick
(Weknicke’s aphasia) Lời nói trôi
chảy nhưng rối loạn dùng âm của từ
ngữ, và sự lập lại và thông hiểu bị suy
giảm. Các sang thương nằm ở vùng Wernicke Mất ngôn ngữ
dẫn truyền (Conduction aphasia) Lời nói trôi
chảy, sự thông hiểu nguyên vẹn, nhưng lập
lại kém. Các sang thương có thể làm mất liên
hệ từ vùng Wernicke sang vùng Broca. Mất ngôn ngữ toàn
bộ (global aphosia) Nói không trôi
chảy hoặc không nói được, lập lại và
thông hiểu kém. Toàn bộ vùng vỏ não “quanh sylvian”
bị ảnh hưởng. Mất
ngôn ngữ “xuyên vỏ não” (Transcortical aphasias) Các
loại mất ngôn ngữ này đặc trưng bởi
sự lặp lại còn nguyên vẹn. Các sang thương
thay đổi hơn mất ngôn ngữ “quanh sylvian”. Thêm
vào các vị trí vỏ não đã được ghi
nhận, mất ngôn ngữ “xuyên vỏ não” có thể
do tổn thương dưới vỏ não. Mất ngôn ngữ
vận động “xuyên vỏ” (Transcortical motor aphasia) Lời nói không
trôi chảy, nhưng sự lập lại và sự thông
hiểu còn tốt. Các sang thương nằm ở thùy trán,
nhưng chừa vùng Broca. Mất ngôn ngữ
cảm giác “xuyên vỏ” (Transcortial sensoray aphasia) Lời
nói trôi chảy, nhưng trống rỗng và thường
bị loạn dùng nghĩa của từ ngữ. Sự thông
hiểu bị suy giảm, nhưng lập lại bình thường.
Các sang thương ở phía sau, nhưng chừa lại vùng
Wernicke. Mất ngôn ngữ định
danh (Anomic aphasia) Loại này
được xem như mất ngôn ngữ cảm giác
“xuyên vỏ” nhẹ, trong đó sự thông hiểu không
bị ảnh hưởng nhưng định danh đồ
vật thì bị suy giảm. Lời nói trôi chảy, kèm vòng
vo (khi bệnh nhân không tìm được từ để
diễn giải). Sự lập lại bình thường .
Sang thương ở hồi góc và hồi thái dương
giữa, cũng như một số vùng lân cận khác
đã được xác nhận. Mất ngôn ngữ “xuyên
vỏ” hỗn hợp (Mixed transcortical aphasia) Lời nói không
trôi chảy, sự thông hiểu kém nhưng sự lập
lại bình thường. Bệnh nhân có thể lập
lại từng đoạn của lời người khác
(chứng nhại lời: echolalia). Các sang thương thường
bao hàm cả mất ngôn ngữ vận động và
cảm giác “qua vỏ”, và phần lớn thường
do nhồi máu não vùng phân cách (watershed infarction) đi kèm
với hẹp ĐM cảnh trong nặng. Các
hội chứng mất liên kết (Disconnection syudromes) Các
khiếm khuyết thần kinh không chỉ do sự phá
hủy vùng vỏ não (gây tổn thương các chức năng
đặc biệt), mà còn do sự mất liên kết
giữa các vùng. Một ví dụ là hội chứng không
đọc được chữ nhưng cảm nhận
được chúng khi vẽ lên da (hội chứng
Dejerine: mù đọc chữ đơn thuần). Phần
lớn thường bị gây ra bởi nhồi máu vùng tưới
máu của động mạch não sau bên trái, sang thương
làm mất liên kết vùng vỏ não thị giác bên
phải với các trung tâm ngôn ngữ bán cầu trái.
Vỏ não thị giác trái bị phá hủy, bệnh nhân không
thể đọc dù thị trường trái vẫn còn
nguyên vẹn, nhưng các chức năng ngôn ngữ khác thì
bình thường. (Xem hình 17)
Sự
thờ ơ nữa thân (Unilatera neglect) Bệnh
nhân không đáp ứng hoặc đáp ứng chậm hơn
khi kích thích xuất hiện ở trong thị trường
đối diện với bên tổn thương. Đầu
tiên họ có vẻ như bán manh 1 bên, hoặc như
mất cảm giác 1 bên, nhưng cuối cùng thì chức năng
cảm giác có thể bình thường nếu sự
tập trung có thể duy trì được. Bệnh nhân cũng
có thể không nhận thức được bệnh
của họ (anosognosia). Họ có thể phủ nhận
liệt nữa người, hoặc không chấp nhận
họ bị tai biến mạch máu não. Sự thờ ơ
thường gặp và nặng nề hơn trong tổn thương
bán cầu phải hơn bán cầu trái. Hội
chứng mất trí nhớ (amnesic symdome) Các
nét chính của hội chứng mất trí nhớ là: (1)
Mất trí nhớ xuôi, không có khả năng học
thuộc các thông tin mới xảy ra sau khởi phát
mất trí nhớ; (2) Mất trí nhớ ngược,
mất khả năng phục hồi lại các thông tin
đã được học trước khi khởi phát
mất trí nhớ ; và (3) Sự tập trung và chức năng
trí tuệ bình thường. Nhiều
người mất trí nhớ có chức năng ngôn
ngữ, thực dụng, thị giác không gian và thậm chí
chức năng thùy trán bình thường. Nếu bạn không
dùng những test trí nhớ đặc biệt thì bạn có
thể xếp họ vào trí nhớ bình thường. Hơn
nữa, một số loại trí nhớ nào đó lại
nguyên vẹn trong hội chứng mất trí nhớ: BN có
thể học những điều thường qui như các
kỹ năng vận động, và đọc ngược
qua gương ; hành vi của họ có thể bị
ảnh hưởng bởi các thông tin mà họ không
thể nhớ lại liên tục. Do đó các chức năng
còn sót lại này được điều hòa bởi các
cấu trúc não khác. Ví dụ, người ta nghĩ
rằng trí nhớ vận động và thói quen có thể
được điều hòa thông qua hạch nền, nhưng
điều này vẫn chưa rõ ràng. Các bệnh thường
đi kèm với hội chứng mất trí nhớ bao
gồm tai biến mạch máu não, u não, chấn thương
sọ não, rối loạn Wernicke- Korsakoff do thiếu thiamin,
và bệnh Alzheimer (ảnh hưởng đến hồi
hải mã và nền não trước). Trong bệnh Alzheimer,
các khiếm khuyết nhận thức (mất ngôn ngữ,
mất thực dụng, rối loạn thị giác không
gian) chẳng bao lâu sẽ kết hợp với mất trí
nhớ để tạo ra một hình ảnh lâm sàng
phức tạp hơn. Các
hội chứng thùy trán (Frontal lobe syndromes) Thùy
trái có vai trò quan trọng bậc cao trong hành vi. Không có
sự hướng dẫn của nó, chúng ta sẽ bị
mất sự kiểm soát các hành động. Do đó
bệnh nhân thùy trán có
thể có cư xử “bất thường”: họ có
thể sử dụng những đồ vật một cách
thành thạo thậm chí khi không có lý do để dùng,
họ lập lại các hành vi, việc làm mới xảy
ra, và họ không tìm hiểu cái gì rõ ràng nhất. Họ
có thể diễn tả các hành vi như có bệnh tâm
thần, không cần quan tâm đến hậu quả hành
động của họ, đưa ra những quyết
định vô trách nhiệm trong công việc, và với
thời gian, họ có thể có những hình thái tình
dục không đúng đắn (mặc dù nhìn
chung là họ bị giảm khoái cảm tình dục).
Các bệnh nhân sa sút trí tuệ do tổn thương thùy
trán cũng không thể hệ thống được kinh
nghiệm của họ và cũng không biết lên kế
hoạch tương lai. Họ thường quên nhiều
thứ, không phải họ không thể mã hóa trí nhớ
mới, mà bởi vì họ không thể khởi phát trí
nhớ thích hợp. Ví dụ, bệnh nhân có thể nói là
đi đến cửa hàng để mua 5 món đồ
vật, nhưng khi đến nơi họ lại bị
thu hút bởi tạp chí, đọc nó, và sau đó
trở về nhà mà không mua thứ gì. Khi được
hỏi tại sao ông ta đi đến cửa hiệu, ông
ta có thể nhớ lại các thứ mà ông ta dự định
mua; ông ta đã quên để nhớ lại chúng cho đúng
lúc. [Bệnh nhân mất trí nhớ kinh điển thì không
thể nhớ lại danh sách khi đã quên]. Các bệnh nhân
tổn thương vùng trán ổ mắt bộc lộ
sự khó khăn trong việc ức chế những hành vi
không thích hợp. Các bệnh nhân với các sang thương
trán trong thường bị bất động, khó
khởi đầu hành vi.
| ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|