
BỆNH WILSON
(lịch sử)
Wendy M. Robertson: Wilson's disease. Arch
Neurol/Vol. 57, Feb 2000, p:276-277. (trong mục: History of
neurology:seminal citation).
Người dịch: BS Nguyễn
Thanh Giang.
Bệnh Wilson, c̣n gọi là
bệnh thoái hóa gan nhân đậu, ngày nay đă được
biết đến như là hậu quả của sự bài
tiết đồng ra khỏi đường mật
bị khiếm khuyết dẫn đến sự tích
tụ đồng trong một vài mô bao gồm gan, năo và giác
mạc. Vào thời điểm bệnh được mô
tả bởi tác giả Wilson th́ tử vong do nó gây ra là
không thể tránh khỏi, đến ngày nay th́ đă có vài
cách lựa chọn trong điều trị có thể cho phép
kiểm soát các biểu hiện của bệnh. Bài
viết này trích dẫn một vài công tŕnh nghiên cứu
phôi thai đă được công bố trước khi
Penicillamine được sử dụng trong điều
trị bệnh Wilson.
Nhận
biết trên lâm sàng:
Bài mô tả đầu tiên về
một bệnh lư, mà sau này được gọi là
bệnh Wilson, được công bố là của tác
giả Wesphal vào năm 1883. Ông ta mô tả 2 bệnh nhân
trẻ tuổi có bệnh lư thần kinh tiến triển
không giống với biểu hiện của bệnh xơ
rải rác, v́ vậy ông ta gọi bệnh này là
"bệnh xơ cứng giả" (pseudosclerosis). Sự
hiện diện của xơ gan phối hợp thêm vào các
triệu chứng của bệnh đă được chú
ư đến trong các trường hợp do Strumpell báo cáo.
Năm 1888, Gowers mô tả 2 anh em trai có biểu hiện
"múa giật dạng tetany", về sau điều
đáng lưu ư là 2 anh em trai này có kết hợp với
xơ gan:
Gần đây, 1 trường
hợp do tôi chăm sóc có biểu hiện các triệu
chứng trung gian giữa múa giật và tetany. Bệnh nhân
đă tử vong… Bệnh nhân là 1 cậu bé 10 tuổi.
Theo lời kể th́ 1 người anh trai của cậu ta
đă chết bởi một vài biểu hiện tương
tự như các biểu hiện bắt gặp ở
cậu bé trên. Tiền sử ghi nhận có 3 người
thân khác trong gia đ́nh 2 cậu bé mắc những
chứng bệnh tương tự như chứng múa
giật. Các triệu chứng khởi phát một cách
từ từ, diễn tiến trong 7 tháng rồi đi đến
tử vong, bao gồm sự co thắt tăng trương
lực (tonic spasm) diễn tiến không ngừng… Cả 2 bên
mặt đều bị ảnh hưởng tạo nên
một vẻ mặt mỉm cười kỳ dị không
thay đổi được. Lưỡi bị ép ra sau t́
vào ṿm khẩu cái theo kiểu ngăn cản động tác
nuốt và phát âm.
Năm 1890, 4 trường hợp có
khả năng là bệnh Wilson đă được báo cáo.
Năm 1912, S. A. Kinnier Wilson đă công bố báo cáo của
ông ta về 12 trường hợp "rối loạn
thần kinh hiếm gặp", bao gồm 8 bệnh nhân
đă được đề cập đến trước
đó trong y văn và 4 bệnh nhân do bản thân ông ta theo
dơi.
Các triệu chứng lâm sàng
tạo thành một phức hợp các triệu chứng…
được xem như là hội chứng thể vân
đơn thuần. Một cách vắn tắt, nó bao
gồm các cử động không tự chủ, gần như
là luôn luôn run chi trên và chi dưới ở cả 2 bên,
đôi khi cả đầu và thân ḿnh cũng bị
ảnh hưởng. Run thường là nhịp nhàng nhưng
thỉnh thoảng lại run không đều đặn. Run
tăng lên khi có cử động tự ư. Có sự co
cứng (spasticity) rơ ràng ở tay chân và ở mặt,
về sau thường tạo nên một vẻ mặt
mỉm cười cứng nhắc trong khi sự co rút tay
chân sẽ phát triển trong những giai đoạn sau này.
Có triệu chứng nuốt khó và loạn vận ngôn
(dysarthria), sau cùng diễn tiến đến mất nói
(anarthria) hoàn toàn. Đôi khi có biểu hiện nụ cười
co thắt và trạng thái dễ xúc cảm.
Wilson kết luận rằng xơ
gan là "một đặc tính bất biến, thuộc
về bản chất của bệnh và rất có thể
(in all probability) là đặc tính nguyên phát trong bệnh
học của bệnh Wilson". Ông ta đă có sai lầm
khi khẳng định rằng không có dấu hiệu
của bệnh gan trong suốt cuộc đời của
bệnh nhân trong khi ít nhất 3 bệnh nhân trong báo cáo
của ông có bằng chứng của bệnh gan có
triệu chứng.
Sinh lư
bệnh:
Đặc tính bệnh học
chủ yếu của bệnh là sự thoái hóa đối
xứng 2 bên của bèo sẫm và cầu nhạt, đặc
biệt là bèo sẫm. Sự thoái hóa này là hậu quả
từ hoạt động có chọn lọc trên các tế
bào và các sợi của một vài tác nhân gây bệnh…
"Tác nhân gây bệnh" mà
Wilson nghĩ rằng đă chịu trách nhiệm giải thích
các biểu hiện lâm sàng trong bệnh thoái hóa nhân đậu
là một chất kim loại. Ông nảy ra ư nghĩ như
vậy là dựa trên khám phá của Rumpel về sự gia
tăng đồng và bạc trong gan của các bệnh nhân
bị "bệnh xơ cứng giả". Ở một
thời điểm nào đó, người ta đă nghĩ
rằng nhiễm độc bạc có thể gây nên
bệnh. Cumings đă chỉ đạo nghiên cứu đầu
tiên trong đó ông so sánh những bệnh nhân mắc
bệnh Wilson, bệnh gan và những nhóm chứng b́nh thường.
Ông ta đă chứng minh rằng hàm lượng đồng
gia tăng trong năo cũng như trong gan ở những
bệnh nhân bị bệnh thoái hóa gan nhân đậu.
Điều
trị:
Một quan sát t́nh cờ xuất
phát từ Mandelbrote và CS vào năm 1948 đă dẫn đến
phép chữa trị đầu tiên đối với
bệnh lư trước kia được xem là tử vong
không thể tránh khỏi này. Bởi v́ nhận thấy
rằng t́nh trạng hủy myelin xảy ra ở những
con cừu con có mẹ bị khiếm khuyết hàm lượng
đồng trong suốt thai kỳ, Mandelbrote đă tiến
hành đo sự bài tiết đồng qua nước
tiều ở những bệnh nhân mắc bệnh xơ
rải rác. Ông ta so sánh những bệnh nhân này với
những người b́nh thường và với những
bệnh nhân mắc các bệnh lư thần kinh khác, bao
gồm cả 1 bệnh nhân mắc bệnh Wilson. BAL (British
anti-Lewisite), một tác nhân phân nhánh được sử
dụng phổ biến sau chiến tranh thế giới
thứ I như là một antidote (chất giải độc)
khi bị nhiễm độc Arsenic đă được ông
sử dụng nhằm huy động dự trữ đồng
trong cơ thể. Sự bài tiết đồng qua nước
tiểu gây ra bởi Baseline và BAL gia tăng đáng kể
ở những bệnh nhân mắc bệnh Wilson.
"Trên quan điểm những ǵ
nhận thấy được từ… hàm lượng
đồng tăng cao trong máu và cả trong gan ở
bệnh Wilson. Thật là một điều thú vị khi lưu
ư rằng trong cả loạt bệnh nhân và nhóm chứng
đă được thí nghiệm nêu trên, có 1 trường
hợp mà sự bài tiết đồng qua nước
tiểu tăng cao hơn nhiều so với bất kỳ
một trường hợp nào khác".
Sau khi trích dẫn ngắn gọn
ư kiến tham khảo của Mandelbrote và CS về việc
sự bài tiết đồng gia tăng ở 1 bệnh nhân
mắc bệnh Wilson, Cumings kết luận: "Dường
như là có lư… BAL có thể được sử
dụng như là một cách chẩn đoán bệnh thoái
hóa gan nhân đậu trong giai đoạn sớm. Nó cũng
có thể được sử dụng thử để làm
giảm hàm lượng đồng trong gan và trong năo và do
đó có thể giúp ngăn ngừa tổn thương mô".
Hiệu quả trên lâm sàng của
trị liệu BAL đă được dẫn chứng
bằng tư liệu vào năm 1951. Denny-Brown và Porter đă
báo cáo: Một nghiên cứu dài ngày tiến hành trên 5
bệnh nhân mắc bệnh thoái hóa gan nhân đậu,
trong đó họ được cho sử dụng những
đợt BAL lặp đi lặp lại, đă thiết
lập được một mối liên hệ trực
tiếp giữa sự sự tích tụ bất thường
các phức hợp đồng trong gan và trong năo ở
bệnh nhân mắc bệnh Wilson với các triệu
chứng về thần kinh. Triệu chứng run và co
cứng (rigidity) là có thể thay đổi, đôi khi thay
đổi đến một mức độ đáng
kể, sau khi sự huy động đồng trong cơ
thể theo phương pháp này lập đi lập
lại… Điều đặc biệt cần lưu tâm là
diễn tiến kéo dài của các triệu chứng đă
không thể phủ nhận một điều rằng:
bệnh có thể khuất phục được… Chúng
ta có thể hiểu rằng ngay cả những bệnh lư
"thoái hóa" mạn tính dai dẳng nhất vẫn có
một phần nào đó có thể khuất phục
được.
Khi Denny-Brown và Porter báo cáo ghi
nhận của họ tại phiên họp của Hiệp
hội thần kinh học Hoa Kỳ vào năm 1951, I. S.
Wechsler đă có ư kiến thảo luận như sau:
Vấn đề này quả là có nhiều điều thú
vị bởi 3 lư do: thứ nhất, cho đến lúc này
hiệu quả điều trị rơ rệt dành cho căn
bệnh đă làm thay đổi hoàn toàn hiểu biết
của chúng ta về một hội chứng bệnh lư mà
trước kia được xem là không thể chữa
khỏi; thứ hai, bởi v́ nghiên cứu đă đi sâu
vào t́m hiểu bản chất của vấn đề nên
nó có thể được chiếu cố để
được xem như là một công tŕnh nghiên cứu
dịch tễ học của nhóm bệnh được
gọi là các bệnh lư thoái hóa của hệ thần
kinh; thứ ba, nó đă thỏa măn được mục
tiêu tiến đến một phương cách mà trong
đó ngành thần kinh học từ thời điểm này
trở đi bắt buộc phải chuyển động
để tiến được đến kỷ nguyên ngày
nay – một kỷ nguyên mà mọi sự mô tả và phân
loại về bệnh hầu như đều đi
được đến đích cuối cùng.
