THAM KHẢO THẦN KINH HỌC

XoRR

Home Up Feedback Contents Search

 

Wilson

XƠ RẢI RÁC: TỪ CHẨN ĐOÁN NGHI NGỜ ĐẾN CHẨN ĐOÁN XÁC ĐỊNH

Arnat Achiron, Yoram Barak: Multiple sclerosis - from probable to definite diagnosis, a 7- year prospective study. Arch neurol/vol 57., July 2000, p: 974 – 979

Người dịch BS Nguyễn Minh Tuấn

Những biểu hiện đầu tiên kết hợp khác nhau giữa vận động, cảm giác, thị giác, suy giảm nhận thức, cũng như các triệu chứng yếu mệt và rối loạn chức năng đường tiểu phù hợp với tổn thương trên hệ thống thần kinh trung ương (Central nervous system - CNS) ở bệnh nhân (bn) trẻ tuổi gia tăng khả năng mắc bệnh xơ rải rác (Multiple Sclerosis - MS). Các triệu chứng này thuyên giảm dần trong vài ngày đến vài tuần giúp thêm cho chẩn đoán bệnh. Trong thập kỷ gần đây, việc sử dụng rộng rãi nghiên cứu điện sinh lý, hình ảnh học của não và tuỷ sống, miễn dịch học đã đóng góp to lớn vào chẩn đoán sớm bệnh MS. Tuy nhiên việc chẩn đoán xác định MS trên lâm sàng vẫn đòi hỏi khi cơn vượng bệnh thứ 2 xảy ra. Vì vậy giữa cơn thứ nhất và thứ 2, chẩn đoán bệnh được cho là ở mức độ nghi ngờ.

Thực ra sự khác biệt dường như về triệu chứng này có thể là giai đoạn cấp tính mà quá trình miễn dịch học của bệnh diễn ra mong chờ xác định chẩn đoán lâm sàng của chúng ta. Hơn nữa một vài nghiên cứu gần đây đã nhấn mạnh tầm quan trọng của epitope lan rộng tới những vị trí mà không bị ảnh hưởng của các cơn tự miễn. Quá trình lan rộng của epitope là quá trình miễn dịch đối với các thành phần của một đại phân tử và sau đó là sự đa dạng của các thành phần thêm nhờ sự nhận biết epitope mới trong phân tử.

Lehmann và cộng sự đã chứng minh rằng protein cơ bản của myelin đã trở thành kháng nguyên sau quá trình miễn dịch đầu tiên. Khi phối hợp với các tác giả khác, họ cho rằng ngăn ngừa các đợt tự sinh kháng thể thứ phát là điều kiện tiên quyết để điều trị thành công. Điều trị phòng ngừa ngay sau khởi phát quá trình tự miễn có thể đặc biệt quan trọng ở những bn bị giai đoạn đầu tiên của hội chứng hủy myelin và có nguy cơ cao tiến triển rõ ràng thành MS. Tuy nhiên những cơ quan được phép ở Bắc Mỹ và Châu Aâu được chấp nhận sử dụng thuốc miễn dịch mới để ngăn ngừa cơn tái phát đối với bn được chẩn đoán xác định và có ít nhất 2 cơn tái phát trong 2 năm trước khi điều trị. Cách này có thể có hại đối với bn, bởi vì nó bỏ qua bằng chứng lan rộng của epitope và đặt bn ở nguy cơ cao tổn thương thần kinh không hồi phục sau cơn tái phát thứ 2. Những vấn đề quan tâm này được hỗ trợ thêm bằng các số liệu được cung cấp bởi các đánh giá lâm sàng cho rằng sự phục hồi hoàn toàn triệu chứng thần kinh hay xảy ra sau khi cơn tấn công đầu tiên. Mục đích của nghiên cứu này là phân tích tỉ lệ tiến triển đến chẩn đoán xác định MS ở bn có triệu chứng thần kinh ở giai đoạn đầu gợi ý tới MS và có MRI não xác định bệnh hủy myelin và xác định những dự đoán khác nhau về tiến triển nhanh chóng của bệnh.  

BỆNH NHÂN VÀ PHƯƠNG PHÁP:

Dành cho mục đích của nghiên cứu này, các khái niệm sau được sử dụng:

Chẩn đoán lâm sàng nghi ngờ MS được định nghĩa là sự khởi phát của các triệu chứng thần kinh mới, chủ yếu liên quan tới chất trắng, xảy ra ít nhất 48 giờ và cải thiện từng phần hoặc hoàn toàn trong vòng 2 – 8 tuần (có nghĩa là 1 cơn tấn công) với bằng chứng lâm sàng của ít nhất một tổn thương có gây rối loạn chức năng CNS và với bằng chứng cận lâm sàng của tổn thương hủy myelin bằng MRI não (MRI não dương tính).

Chẩn đoán lâm sàng xác định MS được định nghĩa là 2 cơn tấn công với bằng chứng của 2 tổn thương riêng biệt, với ít nhất một trong những tổn thương này gây rối loạn chức năng CNS và với bằng chứng cận lâm sàng của tổn thương hủy myelin bằng MRI não.

MRI não dương tính được định nghĩa là xuất hiện hơn 3 tổn thương hủy myelin hình ellip có đường kính hơn 3mm trong não, trong đó có ít nhất 1 bằng chứng tổn thương chất trắng quanh não thất hoặc thân não có đường kính trên 6mm.

Tiến triển nhanh  được xác định là cơn tái phát thứ 2 xảy ra trong vòng 1 năm sau cơn đầu tiên. Trong tất cả các trường hợp, khoảng thời gian đối với cơn thứ 2 được tính sau 30 ngày phục hồi từng phần hoặc hoàn toàn sau khởi phát cơn đầu tiên. Chúng tôi phân thành 2 nhóm với mục đích so sánh thống kê: một nhóm bn tiến triển nhanh (rapid progression -RG) có nghĩa là bn được chẩn đoán nghi ngờ MS và cơn tái phát thêm trong vòng một năm, và nhóm thứ 2 tiến triển chậm hơn (slower progression –SP) có nghĩa làbn tiến triển thành MS chắc chắn sau hơn 1 năm.

Bệnh nhân:

Đơn vị miễn dịch thần kinh ở trung tâm y khoa Sheba, Tel – Hashomer, Israel có các thiết bị y khoa cho chẩn đoán, điều trị và phục hồi bn MS. Đơn vị điều trị cho 776 bn MS. Từ 1/1991 đến 12/1997 tất cả bn nghi ngờ MS được đưa vào nghiên cứu. Mỗi bn được khám xét thần kinh liên tục mỗi 3–6 tháng. Chỉ những bn theo dõi ít nhất 12 tháng mới được đưa vào nghiên cứu cuối cùng. Ở thời điểm nghi ngờ có cơn tái phát thì tiến hành khám xét thêm. Khi xác định có cơn tái phát lần 2 thì bn mới được xác định là MS, và tất cả các dữ liệu có liên quan được đưa vào máy tính cho tới phân tích cuối cùng. Những bn bị cơn tiến triển lần đầu bị loại trừ. Tất cả bn phải qua MRI não bằng máy từ trường siêu dẫn 0,5 – T (Gyrex V, Elscint, Israel), Scans xoắn ốc tín hiệu T1 ở mặt phẳng dọc với thời gian nhắc lại từ 400 – 600 phần nghìn giây và thời gian tới echo của 20 phần nghìn giây. Tỉ trọng nguyên tử âm vòng xoắn ốc và tín hiệu T2 liên tục được sử dụng nhắc lại thời gian 3000 phần nghìn giây, và thời gian tới echo của 20 và 80 phần nghìn giây, mỗi lát cắt dày 5mm và khoảng cách giữa các lát cắt là 1mm. Tất cả các film được phân tích bởi bác sĩ Xquang – thần kinh. Tất cả các bn được nghiên cứu kỹ lưỡng để loại trừ các chẩn đoán khác như bệnh Collagen, thiếu B12, nhiễm virus ảnh hưởng tới lympho T người type 1, thoái hóa đốt sống cổ, bất thường ở xương sọ và cổ. Đánh giá mức độ về thần kinh dựa trên thang điểm về tình trạng tàn tật mở rộng (Extended Disability Status Scale – EDSS). Đây là thang điểm hệ thống 8 chức năng bao gồm vận động, cảm giác, tiểu não, thân não, thị giác, tâm thần, cơ thắt, và hệ thống khác. Mỗi hệ thống được chia độ từ 0 (không tàn tật) cho tới 5 hoặc 6 (tàn tật nhiều nhất). Theo điểm của mỗi hệ thống chức năng, hình thành nên điểm thống nhất giữa 0 (khám xét bình thường) và 10 (tử vong do MS). Điểm EDSS là 6 tức là đi bộ có hỗ trợ xa được 100m. Độ nặng được chia ra các mức sau:

1/ nhẹ: thay đổi ở độ 1 với số điểm của 1 trong 8 chức năng của Kurtzke EDSS 

2/ trung bình: thay đổi ở độ 2 với số điểm của 1 trong 8 chức năng của EDSS hoặc thay đổi ở độ 1 với số điểm của 2 trong 8 nhóm chức năng.

3/ nặng: thay đổi ở độ 2 với số điểm ít nhất của 2 trong 8 chức năng của EDSS.

Mức độ nặng bị nhiều triệu chứng (n = 44) được điều trị Methylprednisolone sodium succinate tĩnh mạch (1g/ngày) trong 5 ngày liên tiếp.

Phương pháp thống kê: 

Sự khác nhau các tỉ lệ được đánh giá khi sử dụng phép Pearson chi bình phương và phép chính xác Fisher với mức 2. Phân tích đồng biến được tiến hành theo tuổi, giới, steroid (methylprednisolone sodium succinate) điều trị trong cơn tấn công đầu tiên, khởi phát liên quan tới một hay nhiều triệu chứng, và điểm EDSS. Phân tích đa biến được tiến hành đối với cơn tái phát nặng và điểm hệ thống chức năng. Thể tương quan Spearman được áp dụng để đánh giá mối tương quan giữa lâm sàng và tham số nhân khẩu. Kiểu tỉ lệ may rủi Cox, có hay không có hiệp biến phụ thuộc vào thời gian, được phân tích mối tương quan giữa triệu chứng thần kinh và thời gian tái phát cơn thứ 2.

Việc tính toán được sử dụng chương trình PROC PHREG với phần mềm thống kê SAS, verson 6.09. Tất cả các đánh giá là 2 – tailed, và ý nghĩa thống kê P( 0,5. Kết quả được biểu diễn như là độ trung bình +/- SD.

KẾT QUẢ:

Từ 1991 – 1997, một nhóm 198 bn có các triệu chứng thần kinh đợt đầu tiên mà nghi ngờ MS được đưa vào nghiên cứu. Toàn bộ 172 bn có MRI não dương tính, là tiêu chuẩn nghi ngờ bệnh được đưa vào nghiên cứu. Sau đó có 9 bn (5,2%) không theo dõi được (hình 1). Số 163 bn còn lại (115 phụ nữ, 48 nam giới, tỉ lệ phụ nữ / nam là 2,4/1) có 136 bn (83,4 %) có thêm ít nhất một cơn tái phát và vì vậy được phân loại vào nhóm chẩn đoán xác định MS, và 27 bn (16,6 %) trong nhóm nghi ngờ MS được theo dõi thời kỳ tiếp theo 42 tháng (thay đổi 13 – 84 tháng, hình 2). 94 bn (57,6 %) được chẩn đoán nghi ngờ MS tái phát trong năm đầu tiên,  và những bn này xếp vào nhóm RP. Độ lớn này của nhóm RP cho thấy đúng không chỉ toàn bộ 7 năm mà còn cho mỗi năm. Có 130 bn (79,7 %) được chẩn đoán xác định MS trong vòng 3 năm. Dữ liệu lâm sàng và nhân khẩu của bn được trình bày theo bảng.

(Biểu đồ nghiên cứu và kết quả không được trình bày ở đây)

 Tuổi và giới khi xuất hiện cơn đầu tiên không khác nhau giữa các nhóm. Mức độ tàn tật khởi đầu bệnh được đánh giá bằng điểm EDSS không khác nhau giữa nhóm RP và SP. Tương tự, sự liên quan của bất kỳ một trong hệ thống chức năng nào (điểm trên 0) của điểm EDSS đã không phân biệt được giữa nhóm RP và SP lúc khởi bệnh. Chỉ có liên quan hình tháp lúc khởi bệnh có ý nghĩa cao hơn ở nhóm RP (phép chính xác Fisher, p = 0,03) thì có sự khác nhau giữa 2 nhóm. Đa số bn ở nhóm trình bày (62,5%, 85/136) có một triệu chứng lúc khởi bệnh. Đặc điểm nhân khẩu và lâm sàng của 27 bn còn lại ở nhóm nghi ngờ MS suốt quá trình nghiên cứu cũng được trình bày theo bảng. Nhóm bn này không khác một cách có ý nghĩa với 2 nhóm khác ngoại trừ sự liên quan quá mức về thị giác (40,7% đối vớỉ,2% và 21%; phép Fisher, p = 0,02).

Điều trị corticosteroid trong cơn đầu tiên không liên quan làm chậm tiến triển hơn đến chẩn đoán xác định MS. Số bn được điều trị steroids (n = 44) cho thấy thời gian trung bình tái phát cơn thứ 2 là 1,2 năm (khoảng tin cậy là 95%, 0,85 – 1,55) trong khi nhóm hkông được điều trị là 1,4 năm 9 (khoảng tin cậy là 95%, 1,2 – 1,62).

Đường cong sống sót của bn được giữ nguyên ở nhóm nghi ngờ MS hoặc có thêm cơn tái phát theo thời gian được trình bày ở hình 3. Sự phân bố sống sót giữa các nhóm trong mối liên quan với độ tàn tật về thần kinh bằng điểm EDSS được trình bày ở hình 4. Hình 5 trình bày sự phân bố sống sót giữa các nhóm trong mối liên quan với một hay nhiều triệu chứng lúc khởi bệnh. Sự liên quan tới nhiều triệu chứng và điểm EDSS cao gợi ý tổn thương thần kinh nặng hơn lúc khởi bệnh cho thấy đây là các yếu tố có ý nghĩa trong việc chẩn đoán xác định MS trong vòng 1 năm.

BÌNH LUẬN:

Chẩn đoán xác định MS không thể thực hiện ở một thời điểm nhất định do sự phân bố theo thời gian. Việc xác định chính xác bn mắc MS ở giai đoạn rất sớm mà bn đó có nguy cơ cao tiến triển thành MS thực sự là một vấn đề quan trọng nhất bởi vì gần đây các cách thức điều trị mới chủ yếu ngăn ngừa tần suất cơn tái phát.

Giả thuyết quá trình diễn biến của bệnh này với các tác nhân thay đổi, có vai trò ngăn ngừa hay làm chậm diễn tiến của bệnh dẫn tới thay đổi toàn bộ bệnh MS. Munschauer và Stuart gần đây đã tranh luận rằng các cách điều trị ngày nay  thay đổi bộ mặt của bệnh có ý nghĩa làm thay đổi cách nhìn của chúng ta về điều trị MS từ khi có triệu chứng đơn thuần tới khi có sự can thiệp tích cực chống lại tiến triển của bệnh.

Mặc dù ở thời điểm hiện nay khả năng làm thay đổi tiến triển của bệnh vẫn còn hạn chế, bằng chứng từ cả các nghiên cứu cơ bản và các thử nghiệm lâm sàng ủng hộ một phần nào đó rằng việc điều trị nên bắt đầu càng sớm càng tốt. Hơn nữa nghiên cứu về MRI não đã cung cấp cho chúng ta các bằng chứng rằng bn MS có quá trình viêm CNS thậm chí không có triệu chứng trên lâm sàng và giải quyết câu hỏi “khi nào thì nên bắt đầu điều trị ?”. Mặc dù không trực tiếp trả lời câu hỏi này, cả Nhóm nghiên cứu viêm thần kinh thị và hướng dẫn điều trị bn có nguy cơ cao chuyển thành MS cho rằng việc điều trị bằng steroid ngay sau cơn tấn công đầu tiên làm trì hoãn xuất hiện các dấu hiệu và/hoặc triệu chứng sau đó, vì thế làm trì hoãn tiến triển thành MS thực sự.

Trong nghiên cứu này, điều trị bằng steroid trong cơn đầu tiên không có liên quan tới làm chậm tiến triển của bệnh tới MS thực sự. Điều này liên quan tới một thực tế là chúng ta đưa vào nghiên cứu cả những bn có MRI dương tính và bn mắc nhiều triệu chứng với các cơn tái phát nặng. Số bn này tương xứng hơn với tỉ lệ được điều chỉnh của 5,53 ở bn có trên 3 tổn thương trên MRI não tiến triển thành MS thực sự, theo như ghi nhận của nhóm nghiên cứu thần kinh thị.

Trong nghiên cứu này chúng tôi hướng vào xác định bn nghi ngờ MS có nguy cơ cao tiến triển thành MS thực sự trong vòng 1 năm (nhóm RP) và đánh giá giá trị dự báo của tham số nhân khẩu và lâm sàng lúc bắt đầu tiến triển MS thực sự. Chúng tôi nhận thấy rằng 57,6% bn bị 1 cơn tái phát trong giai đoạn này. Những phát hiện của chúng tôi có thể so sánh với cả nghiên cứu trước và gần đây đó là các hội chứng của CNS, đặc biệt là viêm thần kinh thị.

Trong những nghiên cứu trước đây, tỉ lệ chuyển biến trong năm đầu tiên thay đổi từ 25% theo McAlpine và Muller cho tới tỉ lệ cao 41,2% theo Adams và cộng sự. Những ngiên cứu này chủ yếu là hồi cứu dựa trên lâm sàng, trong khi MRI chỉ thêm phần các dữ liệu. Trong các nghiên cứu gần đây, những bn có bất thường về MRI não tiến triển thành MS thực sự là 49% và 65% trong 5 năm đầu tiên, 41% và 68% trong vòng 2 năm, 24% và 45% trong vòng 1 năm. Trong tất cả các nghiên cứu này, có ít nhất 3 tổn thương rải rác ở chất trắng trên MRI não vào lúc khởi phát rất có ý nghĩa giá trị dự báo. Cũng nên nhấn mạnh rằng trong nghiên cứu của chúng tôi có 36,2% bn mắc nhiều triệu chứng và không chỉ liên quan tới các triệu chứng thần kinh, có thể góp phần vào tỉ lệ cao chuyển thành MS thực sự khi được so sánh với các nghiên cứu khác. Độ nặng của các triệu chứng thần kinh và sự liên quan tới nhiều triệu chứng lúc khởi bệnh ảnh hưởng tới phát triển sau này của bệnh.

Đánh giá biểu hiện của lâm sàng với nhiều triệu chứng và điểm EDSS cao phản ánh bệnh chất trắng rải rác có thể so sánh được với MRI não dương tính. Điều này cũng được hỗ trợ bởi sự phân bố thiếu cân đối của bn nhiều triệu chứng đối với một triệu chứng ở nhóm RP. Hơn nữa nhiều bn không tiến triển thành MS thực sự mà chỉ liên quan tới thị giác. Kết quả này, được sự ủng hộ của nhiều tác giả khác, nhấn mạnh tầm quan trọng khi liên quan tối thiểu tới CNS thì cho một tiên lượng tốt hơn.

Những kết quả của chúng tôi về thực chất không đề ra sự khác nhau trong nhân khẩu học, lâm sàng và điều trị (điều trị steroid lúc đầu) giữa bn RP và SP.

Chỉ có liên quan tổn thương tháp lúc khởi bệnh và tiến triển nhanh giúp chẩn đoán xác định MS. Aûnh hưởng của hệ thống vận động được ghi nhận bởi các tác giả khác liên quan tới tiến triển nhanh tới tàn tật.

Những dữ liệu này chỉ ra những bn có nguy cơ cao trở thành MS thực sự là những bn có các triệu chứng thần kinh nặng và liên quan tới rất nhiều triệu chứng lúc khởi bệnh. Ích lợi tiên lượng của các đánh giá lâm sàng này vào giai đoạn sớm của bệnh, có thể quan trọng khi mô tả đặc điểm bn mà sẽ có chẩn đoán xác định MS sớm. Tỉ lệ cao của những bn như vậy cho thấy một sự thay đổi trong điều trị sớm bn nghi ngờ MS.

Việc ra đời của các thuốc điều chỉnh miễn dịch mới có tác dụng trên tiến triển của bệnh, chuyển các kết quả của nghiên cứu này từ giả thuyết tới quyết định lâm sàng. Hơn nữa, sự tiến triển của MS được đi kèm bởi tăng nhận biết của các yếu tố tự miễn mới, các peptide được giải phóng trong giai đoạn đầu của phá huỷ mô trong viêm não. Một vài bằng chứng đã chứng minh rằng hiện tượng lan rộng của epitope này là quá trình bệnh học đối với tiến triển của bệnh và tồn tại mối quan hệ giữa các cơn tái phát và gia tăng nhận biết của các yếu tố tự miễn mới. Có được đồng thời các dữ  liệu này làm các trường hợp rõ ràng có được điều trị ngăn ngừa sớm sau khởi phát quá trình tự miễn của bệnh.

Chúng tôi cho rằng điều trị nên được bắt đầu sớm ngay từ sau cơn tấn công đầu tiên để làm giảm tỉ lệ tiến triển của bệnh tới MS thực sự. Điều này nên được đánh giá trong các thử nghiệm lâm sàng để những bn trong nhóm nghi ngờ được điều trị có hiệu quả bằng việc điều chỉnh tiến triển của bệnh.

(trong bài gốc có 3 trang minh họa bằng đồ thị, chúng tôi không trình bày ở đây)